TIN TỨC

Những thân phận hậu chiến trong một số truyện ngắn Lê Trâm

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-08-28 23:00:47
mail facebook google pos stwis
3886 lượt xem

Hoàng Diệu

 Nhà văn Lê Trâm – Cây bút truyện ngắn nổi bật của văn học Quảng Nam đương đại. Sinh ra và lớn lên trong những năm tháng chiến tranh ác liệt, Lê Trâm đã có một vốn sống thực tế sâu sắc, dày dạn. Sau những năm tháng chiến tranh, sự thấu cảm và những quan sát của Lê Trâm đã tái dựng đầy đủ những vết thương và tâm thế của những người về từ chiến trường xưa. Những nhân vật trở về sau chiến tranh trong truyện Lê Trâm làm cho người đọc rơi vào nhiều ngưỡng cảm xúc khác nhau, những con người ấy, họ đã nhận về những “vết thương” để đem lại sự bình yên hạnh phúc cho mỗi vùng đất mà họ đi qua. Trong truyện ngắn Lê Trâm, những con người ấy để tồn tại và sống với hiện tại, họ phải mải miết đi tìm phần hồn của mình nơi chiến trường xưa ác liệt, số khác mãi loay hoay không lối ra trong thanh xuân một thời.


Nhà văn Lê Trâm.

 

1. Người đi tìm phần hồn

Chiến tranh đi qua, kẻ thắng, người bại đều trở về nhà nhưng cuộc chiến không kết thúc vào lúc ngừng tiếng súng. Nó vẫn còn tiếp diễn với nhiều người, đặc biệt là những người lính trở về từ chiến trường. Nỗi đau mất đi người thân, đồng đội hoặc một phần thân thể, nỗi ám ảnh về những nghịch cảnh bạo tàn của nhà tù, của quá khứ như bóng ma cứ đeo đuổi mãi, khiến cho vết thương tâm hồn ngày càng trầm trọng thêm, khi mà vết thương thịt da đã được chữa lành. Truyện ngắn Lê Trâm vén màn cuộc sống hiện tại của những con người sống sót trở về sau chiến tranh, họ ngày đêm đi tìm phần hồn của mình vẫn lạc trong chiến trường xưa.

Trở về với cuộc sống bình thường những con người ấy đã đối mặt với cuộc sống cơm áo và tiếp tục xây dựng, cống hiến, nhưng những ám ảnh vọng lại từ cuộc chiến lửa đạn vẫn còn đó, hằng ngày vẫn hiện hữu, dày vò, dằng xéo họ đến đổ vỡ, dù họ đã bao lần quên đi để sống ý nghĩa cho đời người lính. Trong truyện Tiếng hú Tư Liền đã vượt qua mưa bom bão đạn, đồng đội đã hy sinh cả, tất cả đã bị vùi hết giữa bom và pháo. Sau chiến tranh, Tư Liền trở về với những vết thương chằng chịt. Những vết thương thể xác lẫn tinh thần bám lấy ông, dày vò tâm trí và cuộc sống. Đớn đau, ám ảnh, day dứt không nguôi, người lính ấy đã tiếp tục cuộc sống với công việc lựa chọn là tháo gỡ bom mìn, khắc phục những tàn dư của chiến tranh “Sau chiến tranh cơ man là mìn lẩn trong cỏ cây, đất đá. Thế nhưng Tư Liền chẳng chút sợ hãi. Sau ngày giải phóng, được xuất ngũ chưa bao nhiêu ngày Tư Liền đã tình nguyện đi tháo gỡ bom mìn. Tính Tư Liền lầm lì và khó gần. Nói như cánh nhà văn, con người anh đầy tâm sự. Quê Tư Liền đâu dưới miệt biển. Và sự có mặt của anh khiến không ít người ngạc nhiên. Trong lúc bao nhiêu người co rúm lại khi bị phân công làm cái công việc đùa giỡn với tử thần ấy thì Tư Liền vẫn điềm nhiên, một mình tỉ mẩn dọn sạch dần thứ rác rưởi quái quỉ, chẳng đợi ai phân công”[7, tr.6]. Bản tính luôn nghĩ cho người khác, cho sự bình yên của mọi nhà, của đất nước đã nuôi dưỡng những người như Tư Liền không chỉ trong chiến tranh mà khi về với cuộc sống hòa bình hiện tại họ vẫn mong muốn góp công sức vào sự đi lên của đất nước, không màn hiểm nguy. Rủi ro và bất trắc đã đến với Tư Liền trong một lần tháo gỡ bom mìn “Rủi ro đến ngay với Tư Liền.

Một quả lựu đạn phát nổ bất ngờ khiến anh bị thương khá nặng. Xuất viện với chiếc chân còn lại. Tư Liền tiếp tục quay về vùng đất một thời gắn bó của mình. Anh cất nhà trên núi và sống thui thủi một mình. Hình như có điều gì ám ảnh anh thì phải. Những cơn động kinh xuất hiện và ngày càng gần nhau hơn. Hai năm sau thì anh mất trí hẳn. Hằng ngày người ta thấy anh đi quanh các tảng đá, thỉnh thoảng lại cất tiếng hú “u..u.. ê..ê…” như muốn gọi ai. Rừng núi vắng vẻ, thâm u thêm tiếng hú càng ghê rợn. Nhiều người nghe lẫn trong tiếng hú có tên mình nên hãi”[7, tr. 6]. Tưởng rằng ngày hòa bình ai nấy đều được hưởng cuộc sống no ấm, thanh thản, thế nhưng những con người như Tư Liền vẫn còn nhiều bất hạnh và dằn vặt quá. Cuộc sống cô đơn, bơ vơ, sống qua ngày nhờ sự cưu mang của hàng xóm, những người ai gặp Tư Liền ai cũng xót xa và ái ngại khi nhắc đến “Khi tỉnh Tư Liền rất hiền. Dân quanh vùng ai cũng thương và thường mang lên cho anh đủ thứ. Mỗi lần có người mang quà lên Tư Liền đều ứa nước mắt và lại “hê…hê…” đáp lễ. Tiệt không có người thân nào tới thăm anh suốt một thời gian dài”[7, tr.6]. Trở về với cuộc sống đầy những ám ảnh trong chiến tranh đã khiến Tư Liền không thể có cuộc sống bình thường trong thời bình, ông giao tiếp với xã hội bằng những tiếng hú, u ê, con người trở về từ chiến trường khốc liệt khi xưa đã chịu nhiều mất mát nhưng hòa bình lặp lại, họ vẫn phải sống với nỗi lòng nặng nề đau thương.

Đến khi người đồng đội còn sống đến tìm anh, mọi đau thương như vỡ òa, họ chua xót nhìn nhau, cả đơn vị chỉ còn hai người còn sống trở về, bao ám ảnh và dằn vặt, họ dắt nhau vượt rừng, vượt thác, đi tìm xác những người đồng đội năm xưa còn nằm lại ven đồi, ven suối hay bên gốc cây nào đó. Họ đã tìm được rất nhiều đồng đội của họ. Có như vậy họ mới thanh thản, Tư Liền mới trở nên tỉnh táo hơn “ Họ lại tiếp tục lên núi. Sau đó họ còn trở lại cơ quan xã nhiều lần nữa. Lần cuối cùng, lúc người lính tên Nguyễn Chút định nói cái câu nói quen thuộc thì Tư Liền gạt anh ra, bước tới buột miệng: X…i…n…- Rồi bật khóc”[7, tr.8]. Sau chiến tranh, những người lính vẫn luôn đau đáu đi tìm nhau. Có lẽ trải qua bao biến cố, thăng trầm nhưng hình ảnh những đồng đội đã hy sinh vì đất nước hằn sâu trong ý nghĩ của những người như Nguyễn Chút, Tư Liền, thường trực ý nghĩ sự trở về của mình là điều kỳ diệu, may mắn, cùng nghĩa tình sâu nặng với đồng đội, nên sau hai mươi năm họ lại miệt mài lục lọi ký ức về từng địa điểm, khoảnh rừng nơi xưa kia có đồng đội của mình hy sinh, để tìm lại phần hồn của mình còn lại nơi chiến trường năm xưa.

 Cũng là cuộc tìm kiếm đồng đội như Nguyễn Chút và Tư Liền, người lính mỹ năm xưa quay lại chiến trường Việt Nam để tìm kiếm người bạn thân của anh, mấy chục năm trước đã nằm lại nơi mảnh đất Việt anh hùng. Chiến tranh đã lùi xa , nhưng còn để lại những hậu quả khôn lường cho những binh lính Mỹ sống sót trở về. Nó đã “mở ra” một thời kì “sau Việt Nam” đầy dằn vặt cho nước Mỹ. Đi liền với cái chết, thương tật và những di chứng, binh lính Mỹ còn gặp phải nỗi ám ảnh mang tên “hội chứng Việt Nam”.Nhiều người Mỹ trở về từ cuộc chiến đã mãi kẹt lại ở quá khứ, với những đớn đau, hận thù, ám ảnh. Dick, người lính Mỹ trong truyện ngắn Trưa muộn, trở lại mảnh đất từng quen thuộc với mình hơn hai chục năm trước. Đứng trước cảnh vật đã đổi thay, anh và người bạn đang đứng trên mảnh đất nhiệt đới còn nhiều niềm khổ, họ tự nhủ họ đang làm gì ở vùng đất này đây, như một sự hối tiếc cho quá khứ và việc làm của họ trên chiến trường Việt Nam “Cánh đồng sau vụ gặt chỉ còn trơ lại rơm rạ và cỏ dại trông thật hoang liêu.Làng mạc hiện ra ở xa xa, thấp thoáng bóng ngói đỏ (…) Nắng vẫn xối xả. Họ đi qua mấy lùm tre vàng vọt. Hai bên vệ đường la liệt những chân hương cắm xiêu vẹo. Ở đây vừa trải qua lễ hội? Alice thầm đoán. Họ đi tiếp. Xuất hiện thêm mấy khóm thờ đầy hoa và hương. Nhiều cây hương còn nghi ngút khói”[7, tr.19]. Những người lính Mỹ năm xưa ấy vẫn mang mặc cảm khi phải quay lại Việt Nam, họ là những kẻ tội đồ, là kẻ thù, họ chưa hiểu được rằng, chiến tranh đi qua là đau thương, là mất mác, là đắng cay với người Việt nhưng tất cả đã qua rồi, chúng ta không còn hận thù, vì ai cũng chằng chịt những nỗi đớn đau, những nén hương là sự thương nhớ cho cả những người lính đã ngã xuống, không phân biệt người trong nước hay kẻ ngoại lai, chết là đau thương. Điều đó làm cho những người chứng kiến như Dick và Alice phải nghẹn ngào. Dick cảm thấy tội lỗi, họ đã mang những gì tới đất nước xa xôi cách nửa vòng Trái Đất. Họ cầm súng, hung hăng vào làng cướp phá, thiêu trụi những ngôi nhà tranh nghèo nàn, hất đổ hết những hũ gạo chẳng còn lại bao nhiêu… Họ tìm được gì ở đó? Chính họ cũng không thể trả lời câu hỏi ấy.

Chiến tranh đã đi qua nhưng những con người trở về từ chiến trường xưa vẫn còn chưa nguôi những tội lỗi, đó là những lời vọng từ cái chết của đồng đội thân quen ngày trước. Ký ức về Việt Nam với họ không chỉ là đạn bom và chết chóc, một đất nước nghèo xơ “ toàn nhà tranh lụp xụp”, cây cỏ bụi rậm phủ đầu, mà mảnh đất này còn lắm người dám xông lên khi bom đạn vẫn đổ trên đầu, hết người này nằm xuống, lại có người khác xông lên, kiên cường và bất khuất. Dick đã nhớ rất kĩ khoảng lặng giữa những cuộc tấn công, những cánh rừng nhiệt đới xanh ngút ngàn và giờ đây những mái ngói đỏ yên bình, những người dân đã quên hận thù, vì họ còn “bao mối lo toan khác”. Những người như Dick trở về đầy dằn vặt, đau đáu về quá khứ, và họ có chỉ thể sống yên bình khi trở về mảnh đất xưa để tìm lại mình và nhận được sự bao dung thứ tha của những người đã từng bị coi là kẻ thù, lời bà cụ đã xóa nhẹ đi những tội lỗi vẫn nặng nề trong người lính Mỹ bao năm “Cậu này nói nghe lạ không? Ôi dà, bao nhiêu là người chết bờ chết bụi ai mà nhớ cho hết, cứ gì là con tôi! (…) cho cả những người như chúng tôi? Thắp cho họ nén hương sưởi ấm kẻo tội nghiệp. Bữa ni rằm tháng bảy, ngày xá tội vong nhơn…”[7, tr.22]. Dẫu khuất lấp trong vô vàn nỗi đau khủng khiếp do chiến tranh, truyền thống nhân hậu, vị tha đã giúp những người dân của một đất nước từng chịu quá nhiều đau thương và ám ảnh của chiến tranh, gác lại thù hận xích lại gần nhau, quên đi đau thương, thù hận để mà sống tiếp.

Những câu chuyện của Lê Trâm nhẹ nhàng mà gây xúc động mạnh, qua đó mới thấy được những con người đã đi qua những đau thương, những người từ chiến trường trở về họ không thiết thù hận, không muốn ôm giữ lòng căm thù, không thiết truy lại những tội lỗi mà kẻ thù gây ra, vì với họ đó là “thương đau lần nữa”.

2. Nhân vật nữ và tuổi xuân chiến thắng

Lê Trâm không chỉ phản ánh những nỗi đau của những người trở về từ chiến trường xưa, mà truyện ông còn cho thấy một góc nhìn mới về những người phụ nữ với cuộc sống đời thường sau chiến tranh, đó không phải là những người mẹ, hay những người vợ có chồng hy sinh ngoài trận tuyến, mà đó là những người nữ du kích, trở về với những hy vọng ở cuộc sống mới, sau bom đạn và nhiều hy vọng nhưng họ lại cô đơn, lẻ loi một mình đối diện với một cuộc sống nhiều lo toan bề bộn, bỏ lại tuổi xuân chiến thắng.

 Không giống như những người phụ nữ vẫn thường được miêu tả các truyện ngắn khác với những phẩm chất anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang. Những người phụ nữ có chồng, con ra trận là niềm tự hào, điều tất yếu. Các cô gái tiễn chồng hoặc người yêu ra trận, tham gia thanh niên xung phong với niềm lạc quan phơi phới, coi nhẹ gian khổ, hy sinh. Những khó khăn, mất mát nếu có cũng trở thành cội nguồn nghị lực sống của họ. Thì những nhân vật như bà Duyên, người du kích trẻ đẹp, hồn nhiên và đầy sức sống trong mắt ông Bừng ở truyện Mùa chim bay đi, sau chiến tranh bà trở về cô đơn lặng lẽ sống phần đời còn lại, không chồng, không con, vui vẻ gắn bó ruộng vườn, dù chỉ thoáng qua dưới ngòi bút của Lê Trâm qua lời kể của ông Bừng mà ta cảm thấy thương cho bà, một người nữ du kích đầy khát khao yêu thương hạnh phúc, bước qua chiến tranh, trở về phải đối diện với những ám ảnh của chiến tranh mà không thiết cuộc sống êm vui hằng ao ước của mình. Hòa bình cũng chứa đựng biết bao sóng ngầm, người phụ nữ ở đây chênh vênh trên bến tình người, nên bà Duyên chỉ lủi thủi một mình và ôm hoài những kí ức xưa cũ. Hay Lê Trâm muốn làm sáng những góc khuất của những người nhiều tâm sự như bà Duyên, sau chiến tranh bà Duyện trở về với sự dang dở tình duyên, không tròn lời hẹn ước năm xưa, nên bà chỉ một mình, bà mang theo bao lời hẹn thề như trang giấy trắng chưa kịp viết lời yêu đã hóa sỏi đá mất rồi. Lê Trâm đã mở ra một cái nhìn mới về những người nữ, không phải là vết thương như những người mẹ mất con, hay những người vợ mất chồng, mà ở một vết thương lòng khó nhìn thấy, vẫn ngày ngày không nguôi. Sau khi cơn bão chiến tranh tràn qua, nhiều cuộc đời trở thành dang dở nhưng có lẽ khắc khoải nhất vẫn là những người phụ nữ. Họ chơi vơi, vô định trên con đường đi tìm hạnh phúc. Tuổi trẻ, nhan sắc, sức sống đã hao mòn bởi thời gian, bởi chiến tranh cùng với nếp sống tình cảm, sự chi phối của dư luận khiến họ gặp nhiều trắc trở tình duyên, nhiều người như bà Duyên, đã sống đơn độc phần đời còn lại.

Cũng có những người phụ nữ không phải là du kích, cũng không phải thanh niên xung phong, họ chỉ là những cô gái hậu phương, âm thầm sống giữa mưa bom bão đạn của chiến tranh và là những nạn nhân của cuộc chiến nhiều đau thương đó. Đi qua và chứng kiến bao kiện tích của chiến tranh đạn lửa, họ trở về cuộc sống với những vết thương không lành. Lê Trâm đã đi khai thác những nhân vật như thế trong những trang viết của mình, đây là một cái nhìn toàn diện về cuộc chiến tranh đầy gian khổ của dân tộc ta. Thùy Dung trong truyện Chìm dưới bụi thời gian là một nhân vật đã đi qua chiến tranh và bắt đầu cuộc sống như bao người, nhưng trong cô lại mang nhiều mảng kí ức đầy chua chát. Thùy Dung sống dưới đạn bom thời chiến, gặp gỡ và chứng kiến bao nhiêu con người đã gian khổ hy sinh trong những trận càn quét của địch. Lúc trẻ Thùy Dung bán nước ven đường, mong sống qua những ngày chiến sự cam go.

Trong kí ức cô cả một vùng đất đầy cát trắng đầy gió và khói bụi mịt mù bao ngày tan thương luôn là hình ảnh mà mỗi ngày vẫn như hiện hữu, sống qua thời bom đạn ác liệt như vậy có lẽ là chiến tranh đã ân sủng chừa cô ra  “Chị bỗng nhớ tới cái vùng cát đầy nắng gió và khói lửa mịt mùng. Hai chục năm trước, ngày nào chẳng có người chết. Mấy ngày đầu cuộc chiến, người ta còn vật vã than khóc. Mãi rồi chẳng ai còn nước mắt. Người ta vội vã chôn cất người chết rồi lầm lũi chui về những chòi lá lụp xụp, thản nhiên chờ tới phiên mình. Nhiều năm, người ta cứ thế, sống và hơn thế, chiến đấu với cái chết”[10, tr.211]. Đúng vậy chiến tranh đã chừa cô ra, nhưng những gì xảy ra trong những ngày tháng đầy bom đạn đó vẫn như mới ngày hôm qua, tuổi trẻ của bà không có niềm hạnh phúc yêu đương như bao người, cũng không tương lai, chỉ mong sống sót qua những ngày khói lửa tro tàn “Thùy Dung chỉ có một nơi để sinh ra, lớn lên, sống, yêu và chết.Trời ơi, chị chưa kịp sống, chưa kịp yêu. Làm gì có đàn ông để mà yêu. Tất cả ra trận hết rồi…”[10, tr. 214].  Chưa kịp yêu và chưa kịp hạnh phúc, tất cả đã trở nên tan tác với Thùy Dung, bởi những ngày sống lầm lũi, bên quán nước nhỏ ven đường như cây cỏ không người lui tới, Thùy Dung gặp hắn – một tên lính Mỹ, trong những trận càn lại về quán nước của Thùy Dung bày tỏ bao nỗi nhọc nhằn của hắn trên chiến trận ở Việt Nam.

Hắn đã vĩnh viễn cướp đi cuộc đời Thùy Dung, và chẳng bao lâu thì biệt tích, những ngày sau đó là những ngày tồi tệ cô phải đối mặt. chỉ có Thùy Dung với những niềm cay đắng về những gì hắn để lại, đó là cái bụng càng ngày càng lớn của cô, và những dèm pha, khinh miệt của người đời, về con đàn bà hư hỏng, về đứa con lai chị đang mang “Những gì hắn để lại ngày một lớn lên trong chị rất rõ ràng. Chị sinh con đúng đêm cái đồn Mỹ bị phá tanh bành. Về lại nơi chôn nhau cắt rốn chị trở thành người đàn bà hư hỏng trước đôi mắt dè bỉu của nhiều người, Đến độ không thể nào chịu đựng nổi. Không hơn một năm sau chị ôm con phiêu bạt xứ người. Đói khổ quá mức chị đành bán cả con, lại quay về, khép một vòng đầy oan khiên”[10, tr.216]. Đến cuối cùng cô trở về và sống cô đơn, lẻ bóng. Trở thành người không nhà, không chồng, không thêm con cái, không gia đình, không điều hy vọng, đến lúc gặp lại đứa con cô đã bán năm nào, mọi thứ mới vỡ “còn sống ư?”.Những con người như Thùy Dung, trở về sau chiến tranh trong truyện ngắn Lê Trâm không chỉ đối diện với những thương tật về thể chất, mang theo khuyết thiếu đớn đau tinh thần, đó là những vết thương tâm hồn, tình cảm. Cụ thể là những người phụ nữ trẻ đang tuổi thanh xuân, phải chịu nhiều nỗi đau đớn, mà để sống tiếp họ phải “điếc” đi cái phần hồn của người mới có thể chịu đựng nổi. Quan tâm đến vấn đề đó, Lê Trâm đã cho thấy những mặt khác của chiến tranh với tinh thần nhân văn, nhân bản của văn học nói chung, truyện ngắn chiến tranh nói riêng.

Những nhân vật như bà Duyên hay Thùy Dung được miêu tả mang theo sự hụt hẫng, dang dở, mất phương hướng trong việc kiếm tìm tình yêu, hạnh phúc sau chiến tranh. Những lý do khách quan khiến họ rơi vào tình cảnh thích nghi với cuộc sống thiếu vắng người đàn ông, hầu như họ không còn hy vọng về tương lai. Bởi cuộc đời của họ thường được đặc tả ở thời điểm hiện tại, khi nỗi đớn đau, cô đơn đã theo họ bước sang tuổi xế chiều. Họ góp thêm tiếng nói phản đối chiến tranh khi chia cắt những tình cảm thiêng liêng của con người. Những nhân vật phụ nữ với chấn thương, bi kịch sau chiến tranh cũng xuất hiện khá nhiều trong truyện ngắn Lê Trâm, thể hiện cái nhìn khách quan, tiếp cận đề tài qua số phận cá nhân của nhà văn sau giải phóng.

Một số truyện ngắn của nhà văn Lê Trâm đã khắc họa hình tượng những người trở về từ sau chiến tranh từ nhiều khía cạnh, trong đó một góc nhìn mới về những bi kịch trong số phận của họ hiện lên rõ rệt qua từng nhân vật. Nhìn lại những con người vẫn còn mắc kẹt lại trong đau thương chiến tranh, họ vẫn đau thương tìm lại phần hồn lạc lõng trong kí ức và cả những người phụ nữ chới với giữa cuộc sống sau đạn bom khiến người đọc không thôi xót xa. Lê Trâm không chỉ đặt vấn đề về sự hy sinh mất mát qua chính bản thân những người đã nằm xuống mà vấn đề còn ở những người còn sống trở về.

H.D

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  • Trần Đình Sử (2005), Tiếp nhận – bình diện mới của lí luận văn học, NXB Giáo dục.
  • Trần Đình Sử (2014), Trên đường biên văn học, NXB Văn học

3.Trần Đình Sử (2014), Bước ngoặt diễn ngôn và chuyển đổi hệ hình trong nghiên cứu văn học, NXB Văn học.

  • Bùi Quang Thắng (2008), 30 thuật ngữ nghiên cứu văn hóa, NXB Khoa học xã hội.
  • Bùi Việt Thắng (2000), Truyện ngắn, những vấn đề lý thuyết và thực tiễn thể loại, NXB Đại học quốc gia Hà Nội.
  • 6. Lê Trâm (1992 ), Lai lịch một thành hoàng, NXB Hội VHNT Quảng Nam – Đà Nẵng.
  • 7. Lê Trâm (1999), Tìm lại thời gian, NXB Đà Nẵng.
  • 8. Lê Trâm (2007), Một giấc hồ điệp, NXB Hà Nội.
  • 9. Lê Trâm (2016), Phía gió biển không còn ai, NXB Trẻ.
  • Lê Trâm ( 2018), Đêm nguyệt Bạch, NXB Trẻ.
  • Trần Lê Hoa Tranh (2016), Hiện tượng đi về của các nhà văn đương đại Việt Nam, Văn học Việt Nam trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế (tập 1), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm