- Thế giới sách
- Nhà thơ Trần Kim Dung mơ một ngày Kim Giang xưa trở lại
Nhà thơ Trần Kim Dung mơ một ngày Kim Giang xưa trở lại
"Những dấu chân thơ vẫn ruổi rong" của nhà giáo nhà thơ Trần Kim Dung không chỉ là tập thơ hành trình, mà còn là cuộc trở về ký ức – lịch sử – nghĩa tình đất nước. Qua góc nhìn cảm nhận của Xuân Trường, chân dung một nữ thi sĩ ít ồn ào, bền bỉ đi giữa các địa danh văn hóa – lịch sử Việt Nam hiện lên dung dị mà sâu lắng. Văn chương TPHCM trân trọng giới thiệu bài viết này.
Những bước chân lãng du trong thơ Trần Kim Dung dường như vẫn còn rong ruổi không mỏi. Chị là người ưa xê dịch, đi nhiều trong nước và ngoài nước, viết nhiều, giàu trải nghiệm nhưng ít nói, ít xuất hiện trước đám đông. Thơ chị tĩnh lặng mà dữ dội, chừng mực mà hồn nhiên, vụng dại mà khôn ngoan. Có lẽ chính vì thế mà Trần Kim Dung sở hữu một nghị lực sáng tạo bền bỉ và lặng lẽ.

Nhà thơ Trần Kim Dung và bìa tập thơ “Những dấu chân thơ vẫn ruổi rong” (NXB Hội Nhà văn, 2025).
Những phát hiện của chị về đất nước, con người và dân tộc thường rất gần gũi với đời sống hằng ngày, nhưng không phải ai cũng để ý. Những câu thơ hướng về cội nguồn trong hiện tại hôm nay, theo tôi, là điều rất cần thiết để kết nối quá khứ với hiện tại, đặc biệt là những địa danh gắn với nhân danh lịch sử hào hùng của dân tộc. Bằng thơ, Trần Kim Dung như tái hiện những danh lam thắng cảnh của đất nước, con người Việt Nam đẹp duyên dáng, hào phóng như một cô gái trước biển Đông.
Trước tốc độ đô thị hóa nhanh chóng, cảnh quan và lối sống con người thay đổi, môi trường bị tác động nặng nề, Trần Kim Dung đã có một tiếng thở dài trước dòng sông Tô Lịch:
Giữa Thủ đô gặp dòng sông Tô Lịch
Chi lưu ngàn năm sóng nước sông Hồng
Qua Thọ Xương, Hồ Tây, Quan Thánh
Rồi hòa vào sông Nhuệ mênh mông
…
Ta lại về thăm đất Thăng Long
Mơ một ngày Kim Giang xưa trở lại
Như dải lụa trong xanh mềm mại
Chảy giữa kinh kỳ cho mây đến soi gương
(Sông Tô Lịch)
Ở đây, nhà thơ không chỉ vẽ lại một thiên cảnh xưa mà còn gợi lên một tâm cảnh – ký ức dịu dàng, thơ mộng, nay chỉ còn trong thơ. Câu thơ “Chảy giữa kinh kỳ cho mây đến soi gương” bằng phép nhân hóa gợi hình đã mở ra một không gian mênh mang, nói thay nỗi lòng của bao người từng có quê hương nơi ấy mà nay đã tha phương.
Trần Kim Dung đối thoại với cây bàng cổ thụ để đưa người đọc trở về di tích Hỏa Lò, tìm lại những lớp trầm tích lịch sử:
Đến Hỏa Lò di tích xưa tăm tối
Gặp bàng xanh tuổi đã trăm năm
Nhân chứng sống của một thời nô lệ
Dẫn tôi thăm nơi xiềng xích giam cầm
…
Xin hẹn với bàng lần sau đi khắp
Để hiểu thêm về “địa ngục trần gian”
(Di tích Hỏa Lò)
Đi vào những thăng trầm, khổ đau của lịch sử để tìm ra lẽ sống từ các di tích là một hành trình thơ không dễ. Nhà thơ phải có vốn liếng lịch sử, đặc biệt là mối quan hệ hữu cơ giữa nhân danh và địa danh. Trần Kim Dung đã băng qua hành trình ấy trong bài thơ viết về Yên Tử:
Tôi chắp tay trước Ngài
Tượng Phật Hoàng thiền trên cao vời vợi
Ngài tự tại ung dung
Sau hai chiến thắng khải hoàn
(Yên Tử)
Vua Trần Nhân Tông sau hai lần đánh bại quân Nguyên – Mông đã truyền ngôi, lên Yên Tử tu hành, đem ánh đạo vàng soi cho nhân gian. Bài thơ không chỉ giới thiệu một thắng cảnh đẹp mà còn gắn liền với một nhân danh lớn của dân tộc.
Viết về làng cổ Đường Lâm, Trần Kim Dung gợi lại hình ảnh Ngô Quyền – vị anh hùng đã đánh tan quân xâm lược phương Bắc:
Giếng nước sân đình còn nguyên dáng vẻ
Nơi đất khô cằn sinh được hai vua
(Làng cổ Đường Lâm)
Văn chương luôn mang tính thời sự của nó. Trần Kim Dung nhanh nhạy ghi lại dấu ấn các địa danh mới sau sáp nhập hành chính, vẽ nên một “bản đồ thơ” của hiện tại:
Cô gái biển và chàng trai rừng núi
Duyên trăm năm giờ đã họp thành
(Gửi Phú Yên)
Hay những câu thơ kết nối Bạc Liêu – Cà Mau, còn tươi nguyên hơi thở thời sự:
Hôm nay về một nhà rồi
Bạc Liêu – Đất Mũi kết đôi hòa cùng
Những câu thơ ấy cho thấy thi ca không đứng ngoài đời sống.
Trần Kim Dung cũng dành nhiều rung cảm cho Sài Gòn – thành phố nghĩa tình, nơi chị ghi lại những khoảnh khắc mùa và vẻ đẹp con người:
Chẳng phân giàu nghèo đầy ắp nghĩa nhân
Bắc Trung Nam cùng về đây hội ngộ
(Sài Gòn cuối đông)
Đặc biệt, thơ chị nhắc đến đại dịch Covid-19 như một ký ức không thể quên:
Quên làm sao dịch Covid xoay vần
Những cây gạo ATM mở ra cứu trợ
(Sài Gòn trong tôi)
Qua Những dấu chân thơ vẫn ruổi rong (NXB Hội Nhà văn, 2025), tôi cảm nhận rõ hành trình sáng tạo bền bỉ của Trần Kim Dung. Chị gắn bó với thơ tự do và lục bát, giọng thơ nhỏ nhẹ, nhịp điệu chậm, giàu khoảng lặng. Ngôn ngữ thơ mở ra vùng giao thoa với âm nhạc, hội họa. Không ngẫu nhiên mà thơ chị đã được phổ nhạc trong các ca khúc: Về quê cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm, Bầu trời dưới đáy sông, Qua cầu Bạch Đằng Giang.
Nếu mỗi người lữ hành về nguồn có trong tay tập thơ Những dấu chân thơ vẫn ruổi rong của Trần Kim Dung, tôi tin hành trình ấy sẽ thêm phần sâu lắng. Chúc chị sẽ mãi là người đi đường không biết mỏi với thi ca.