TIN TỨC

Đồng Vọng, tiếng thơ từ trầm tích một đời

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-02-10 01:25:36
mail facebook google pos stwis
220 lượt xem

65 bài thơ ứng với 65 mùa xuân đời người, mang dáng dấp của một sự sắp đặt có chủ ý giữa nghệ thuật và đời sống. Tập thơ “Đồng vọng” của Ngô Hoài Chung vì thế vừa là một ấn phẩm kỉ niệm, vừa là một hành trình tinh thần được chưng cất cẩn trọng từ những trải nghiệm dày dặn của một đời người.

Đồng vọng vì thế trở thành một cuốn nhật kí tâm hồn, là những cột mốc cảm xúc được dựng lên trên chặng đường 65 năm, mời gọi độc giả lắng nghe tiếng vọng từ một cuộc đời đã sống trọn vẹn và thiết tha.

Người ngoại đạo có căn thi sĩ

 

Đồng Vọng, tiếng thơ từ trầm tích một đời - ảnh 1

Nhà thơ Ngô Hoài Chung – tác giả tập thơ “Đồng vọng”

 

Ngay từ những dòng đầu tiên trong lời tự bạch mở đầu tập thơ, Ngô Hoài Chung đã khiêm tốn và thành thực định vị mình một cách rõ ràng: “Trong văn chương tôi là kẻ ngoại đạo, có chăng là dân viết nghiệp dư”. Chính điều này đã tạo nên chất thơ rất riêng, không thể trộn lẫn của ông: không trau chuốt hình thức, không cầu kì về ngôn từ, mà mộc mạc, chân thực, thấm đẫm hơi thở nồng ấm và những vui buồn rất thật của đời sống.

Ông tìm đến thơ xuất phát từ một nhu cầu tự nhiên và thiết yếu của nội tâm, như chính lời ông chia sẻ: “Chính nhu cầu bộc bạch những tâm sự đã khiến tôi tìm đến với thơ”. Với ông, thơ trước hết là phương tiện để giải tỏa, để giãi bày, để đối thoại với chính mình trước những bộn bề, suy tư.

Vì thế, những bài thơ thường được sinh ra trong những khoảnh khắc rất đỗi bình thường, thậm chí là bất chợt, như chính ông mô tả: “có thể là lúc đang lắc lư trên xe trong chuyến công tác, một đêm xa nhà khó ngủ hoặc khi nhấm nháp chén trà buổi sáng”.

Cách sáng tác ấy khiến thơ ông gần gũi như một nhịp thở, một lời tâm sự thầm thì, đi thẳng từ trải nghiệm thực tế vào mạch cảm xúc, không qua nhiều lớp lọc hoa mĩ. Nó mang tính trực cảm cao, và nhờ vậy, dễ dàng chạm vào trái tim người đọc bởi sự đồng điệu trong những cảm xúc rất đỗi con người, những điều ai cũng có thể từng trải qua.

Sự “ngoại đạo” ấy, lại hóa thành sức mạnh và thế mạnh riêng biệt. Nó giúp ông giữ được đôi mắt tinh tế, trong trẻo và một trái tim luôn rung động trước cái đẹp bình dị của cuộc sống, không bị chi phối hay gò bó bởi bất kì trường phái hay khuôn sáo nghệ thuật nào.

Trong một chia sẻ, ông tâm sự: “Là công chức, tôi thường xuyên tiếp xúc với những văn bản quy phạm pháp luật khô khan và những trách nhiệm. Chính vì vậy, làm thơ là cách giúp tôi nhìn cuộc đời bằng đôi mắt thi vị, tinh tế, hồn nhiên”.

Căn tính thi sĩ trong con người Ngô Hoài Chung không được đào tạo bài bản từ giảng đường, mà nó được đánh thức, vun đắp một cách tự nhiên từ chính những trải nghiệm đa dạng, phong phú của “một đời người, một đời việc”. Đó là thứ căn cước nghệ thuật hình thành từ thực tiễn sống, từ những va chạm, suy tư, yêu thương và cả những trăn trở rất đời thường.

 

Đồng Vọng, tiếng thơ từ trầm tích một đời - ảnh 2

“Đồng Vọng” – tập thơ kết tinh ký ức, suy tư và chiêm nghiệm nhân sinh của Ngô Hoài Chung

 

Tri âm với chính mình

Mạch chảy xuyên suốt, sâu lắng và có sức nặng hơn cả trong Đồng vọng chính là cuộc hành trình hướng nội, cuộc đối thoại không ngừng nghỉ với bản thân, hay nói cách khác, là sự “tri âm” với chính mình. Thơ trở thành phương tiện trung thực và nhạy bén nhất để ông khám phá những ngóc ngách sâu kín, những mảng màu cảm xúc phức tạp trong tâm hồn mình.

Ông viết: “Nhờ có thơ tôi khám phá bản thân mình, trở thành chính mình, giữ được sự thăng bằng cho mình trong cuộc sống”. Lời tự sự này vạch ra rõ rệt chức năng trị liệu và tự nhận thức của thơ ca trong đời sống tinh thần của tác giả.

Hành trình “tri âm” ấy được thể hiện rõ nét và cảm động nhất qua những trang thơ ông dành cho gia đình, nơi được ông xem là bến đỗ vững chắc, là nguồn cội của tình yêu thương và sự bình yên vĩnh cửu. Những vần thơ viết cho người vợ của mình không phải là những lời hoa mĩ, mà là lời cảm ơn sâu sắc, chân thành từ một người chồng thấu hiểu và trân trọng giá trị của hậu phương:

“Ngày trước bên em đôi khi anh chỉ muốn
Được đàn đúm bạn bè như thuở độc thân
Giờ xa em anh mới nhận ra rằng
Cuộc sống vắng em không còn là cuộc sống”.

Sự thừa nhận ấy vừa chân thực, vừa đầy ăn năn và biết ơn, cho thấy một tình yêu được vun đắp qua thời gian, qua những hi sinh thầm lặng, và cuối cùng trở thành điểm tựa không thể thiếu.

Đến khi bước sang vai trò ông nội, thơ của Ngô Hoài Chung lại tìm thấy một sự trong trẻo mới, một niềm hạnh phúc giản dị đến lạ kì. Ông viết cho cháu mình với tất cả sự nâng niu, yêu chiều và một niềm hân hoan ngây ngô:

“Thế là được lên chức
Từ ngày cháu chào đời
Với ông chức to nhất
Có được nhờ cháu Xôi”.

Trong những khoảnh khắc ấy, thơ trở thành nhịp cầu kì diệu, nối ông với thế giới thuần khiết, hồn nhiên nhất, giúp ông tái khám phá bản thân qua lăng kính của tình yêu thương mới. Nó khiến ông có thể “sống nhiều cuộc đời khác trong kiếp nhân sinh của mình”, như một lời tự bạch đầy triết lí về sự giàu có của đời sống tinh thần, nơi một con người có thể sống trọn vẹn nhiều vai trò và cung bậc cảm xúc khác nhau.

Tri túc với nhân gian

Hành trình công tác dài với nhiều vị trí, từ địa phương đến trung ương, từ công tác thanh niên đến lĩnh vực văn hóa, du lịch đã cho Ngô Hoài Chung một cái nhìn điềm nhiên, sâu sắc về cuộc đời và con người. Tất cả đã tôi luyện cho ông một tâm thế “tri túc”, một sự biết đủ và an nhiên tự tại trước dòng chảy đa đoan của nhân gian.

Những câu thơ về thế sự của ông thường rất ngắn gọn, súc tích, sắc sảo như một châm ngôn, một lời đúc kết kinh nghiệm sống:

“Đủ tiền là không đủ
Đủ tình là vực sâu
Bởi tình tiền hai thứ
Đủ cho người giết nhau”.

Chỉ bốn câu thơ ngũ ngôn giản dị ấy đã cho thấy một cái nhìn thấu suốt, tỉnh táo và đầy cảnh giác về mối quan hệ giữa các giá trị vật chất và tinh thần, về những tham vọng có thể dẫn con người đến bi kịch.

Sự từng trải ấy dần dẫn ông đến một trạng thái tâm hồn bình thản, an nhiên, như ông đã viết: “Lòng ngổn ngang thế sự/ Mà thanh thản vô thường”.

Tâm thế “tri túc” này không phải là thái độ buông xuôi, phó mặc, mà là sự thấu hiểu, chấp nhận những quy luật tự nhiên của cuộc sống, từ đó chủ động tìm thấy niềm vui và sự mãn nguyện trong những điều giản dị, bền vững nhất.

Đây chính là điểm tựa tinh thần vững chắc nhất, giúp ông giữ được phong thái thanh thản, ung dung sau khi rời khỏi vòng xoáy bận rộn của công việc, để sống trọn vẹn và an nhiên với vai trò một người ông hạnh phúc và một thi sĩ của những điều nhỏ bé nhưng có ý nghĩa lớn lao.

Tiếng vọng của hạt thóc

Có lẽ, trong toàn bộ tập Đồng vọng, không có hình tượng nào có thể diễn tả một cách đầy đủ, trọn vẹn con người và triết lí sống của Ngô Hoài Chung bằng chính “hạt thóc” trong bài thơ nổi tiếng đã đi vào sách giáo khoa của ông.

Như lời kể của tác giả, nó được viết trong khoảng mười lăm phút ngắn ngủi vào một buổi sáng sớm, bắt nguồn từ cảm xúc khi ngắm nhìn khoảng sân và dòng hồi ức về đồng ruộng tuổi thơ. Chính sự giản dị trong cách ra đời ấy lại chứa đựng và chuyển tải được một thông điệp sâu sắc, có sức nặng:

“Tôi chỉ là hạt thóc
Không biết hát biết cười
Nhưng tôi luôn có ích
Vì nuôi sống con người”.

Hạt thóc ở đây đã vượt lên ý nghĩa vật chất thông thường để trở thành một biểu tượng nghệ thuật đẹp đẽ, một ẩn dụ sâu sắc về một lẽ sống đáng quý: sự khiêm nhường, lòng kiên trì bền bỉ và ý nghĩa của sự cống hiến thầm lặng.

Hạt thóc không cần phô trương, không cần biết “hát biết cười” để được chú ý, tán dương. Giá trị đích thực và vĩnh cửu của nó nằm ở sự “có ích” thiết thực, ở khả năng “nuôi sống”, nuôi sống thể xác và cảm hóa, nuôi dưỡng tâm hồn con người.

Đây chính là tuyên ngôn sống giản dị mà minh triết của tác giả: sống trên đời, cốt lõi là để cống hiến, để tạo ra những giá trị thiết thực, âm thầm nhưng bền vững, vì lợi ích chung của cộng đồng.

Bài thơ được đưa vào sách giáo khoa đã trở thành một cây cầu vững chắc, nối tâm hồn và triết lí sống của tác giả với thế hệ trẻ, giúp các em bước đầu nhận thức về giá trị bản thân và ý nghĩa của lao động.

Ông tâm sự: “Tôi rất vui khi thơ đi vào sách, vì chúng đã giúp tôi đến gần hơn với thế hệ măng non”. Như vậy, tiếng vọng của “hạt thóc” đã vượt ra khỏi khuôn khổ một trang thơ cá nhân, để lan tỏa rộng rãi thành một thông điệp nhân văn, giáo dục về lòng tự trọng, sự tự tin và ý thức về một lẽ sống có ích, biết hướng về cộng đồng.

Từ nhà giáo đến người lưu giữ hồn văn hóa

Xuất phát điểm của Ngô Hoài Chung là một nhà giáo dạy môn Lịch sử. Có lẽ, chất “thầy giáo” ấy vẫn âm thầm chảy trong mạch thơ của ông sau này, thể hiện ở sự rõ ràng, mạch lạc và tính giáo dục tinh tế ẩn sau những hình tượng giản dị.

Sau đó, duyên số đưa đẩy ông bước sang con đường công chức, và ông đã lần lượt kinh qua những vị trí quan trọng, đầy thử thách: Bí thư Tỉnh đoàn Thanh Hóa, Bí thư Huyện ủy Ngọc Lặc (cũ), Giám đốc Sở VHTTDL tỉnh Thanh Hóa (trong suốt mười năm).

Ông trực tiếp chỉ đạo, tham gia vào công tác tu bổ, tôn tạo hàng loạt di tích lịch sử - văn hóa trọng điểm của tỉnh như Khu di tích Lam Kinh, đền thờ Bà Triệu, đền thờ Lê Hoàn…

Đặc biệt, ông đã cùng các cơ quan chuyên môn nỗ lực lập hồ sơ, góp phần quan trọng để UNESCO công nhận Thành nhà Hồ là Di sản Văn hóa Thế giới.

Những trải nghiệm sâu sắc, từ khâu nghiên cứu, vận động đến tổ chức bảo tồn di sản, đã thấm sâu vào tâm thức ông, cho ông một cái nhìn vừa am tường chuyên môn, vừa đầy trân trọng, yêu mến khi viết về hồn cốt quê hương, về những dấu tích lịch sử trong thơ.

Sau chặng đường dài ở quê nhà, ông ra Hà Nội nhận nhiệm vụ Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch. Ở cương vị mới này, dù phải bao quát vấn đề toàn quốc, ông vẫn giữ mối liên hệ máu thịt, sâu đậm với Thanh Hóa.

Và khi chính thức nghỉ hưu, ông lại dành thời gian, tâm sức cho một dự định ý nghĩa: viết những bài khảo cứu, địa chí có hệ thống về mảnh đất này.

Với ông, đó là cách thiết thực nhất để tri ân nơi chôn nhau cắt rốn, đồng thời lưu giữ một cách bài bản những thông tin văn hóa, lịch sử quý giá cho các thế hệ sau.

Tập thơ “Đồng Vọng” khép lại với 65 cột mốc thơ, nhưng dư âm và sức vọng của nó hẳn sẽ còn mãi trong lòng những người biết lắng nghe.

Tập thơ là một bản tổng kết chân thực và đầy cảm xúc về một đời sống đa chiều, nơi các mảng màu công việc và đam mê, trách nhiệm xã hội và đời sống cảm xúc cá nhân đã hòa quyện, bồi đắp cho nhau một cách nhuần nhị.

Trương Xuân Thiên/Báo Văn Hóa

Bài viết liên quan

Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm
Những con đường ký ức - Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Những con đường của Hội An là những sợi máu trong tôi. Chúng đã đi qua thời gian, chịu đựng bao thác ghềnh, nhiều lúc ngỡ tan biến như những bào ảnh của lãng quên để rồi cuối cùng vẫn lặng lẽ cất lên tiếng nói mơ hồ của ký ức, nhắc rằng đó là một phần không thể thiếu trong tôi.
Xem thêm
Làm du lịch từ lò gạch Sa Đéc xưa
Vào dịp tết Nguyên đán hàng năm, cứ từ 20 tháng chạp đổ lên, người miền Nam lại lũ lượt tìm về vãn cảnh nhà vườn hoa kiểng Tân Quy Đông (Sa Đéc- Đồng Tháp). Cạnh bên Tân Quy Đông là vùng đất Tân Quy Tây bạt ngàn vườn ruộng được bồi đắp phù sa quanh năm bởi con sông Tiền hiền hoà quê kiểng. Lớp phù sa dày dặn bám trên đồng ruộng lâu năm trở thành lớp đất nâu non (đất sét) dẻo quẹo, là loại nguyên liệu rất tốt để người địa phương nung gạch xây dựng các công trình.
Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm
Viết cho tuổi hai mươi: giữa chênh vênh và hoài bão – Tản văn Phạm Phúc Vinh
“Tuổi hai mươi giống như một cơn mưa rào mùa hạ. Người ta vừa sợ ướt áo, lại vừa muốn đằm mình vào cái mát lạnh của đất trời. Chênh vênh đó, nhưng cũng rực rỡ vô cùng.”
Xem thêm
Thấy gì sau những chiếc xe hút đinh tự nguyện – Tạp bút Trần Đôn
Trong dòng chảy hối hả của giao thông đô thị, đôi khi ta bắt gặp hình ảnh những chiếc xe tự chế gắn thanh nam châm miệt mài rà sát mặt đường để “giải cứu” người đi đường khỏi nạn “đinh tặc”. Hình ảnh ấy đã trở nên quen thuộc ở nhiều nơi.
Xem thêm
Sắc hoa tháng Ba ở Điện Biên - Tản văn Phan Anh
Thời bây giờ, hoa ban không còn là loài hoa độc quyền của Tây Bắc nữa. Người ta đã nhân giống và đưa cây ban về trồng ở khắp mọi nơi. Chỉ riêng ở Hà Nội, cứ mỗi độ xuân về, trong hơi ấm của nắng mới tháng ba, trên đường Điện Biên Phủ, Hoàng Diệu, Thanh Niên, Bắc Sơn, công viên Cầu Giấy, hồ Gươm, hồ Thiền Quang, hồ Tân Xã … người ta thấy nàng công chúa của xứ sở Tây Bắc tưng bừng bung nở trên các vòm cây, đua nhau khoe sắc ngập trời, rồi thoang thoảng gửi hương vào trong không gian êm dịu của mùa xuân; khiến cho chị em không khỏi xốn xang, quên cả cái tiết trời còn chưa hết gió lạnh lẫn mưa bụi mà nô nức sửa soạn áo váy, rủ nhau đi sống ảo làm cho phố phường những nơi ấy cũng trở nên vui tươi, náo nhiệt.
Xem thêm
​Đám rau mùi già tháng Giêng của mẹ - Tạp bút Lê Thị Hiệp
Là một người rất thích rau mùi(người miền Nam gọi là ngò rí) nên mẹ tôi ngay từ lúc còn trẻ cho tận tới nay khi đã về già, bà vẫn luôn duy trì thói quen gieo trồng loại rau gia vị cực kỳ ngon và có mùi thơm vô cùng hấp dẫn này. Mẹ tôi kể rằng, từ khi lấy bố về làm dâu nhà ông bà nội tôi, thì mảnh vườn sau nhà rộng rãi, dẫu có trồng loại rau gì đi chăng nữa thì mẹ vẫn luôn dành ra một khoảng đất màu mỡ gần ngay khu vực cầu ao để gieo trồng rau mùi.
Xem thêm
Chân Mây 3 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Anh kể: Một hôm đang trong cơn tuyệt vọng. Anh cố gượng dậy cho mấy con cá nhỏ trong bể ăn. Bỗng nhiên anh thấy viên cuội lấp lánh đáy bể và chợt nhớ ra. Hôm ở đảo Hòn Dáu anh có nhặt một viên cuội ở bãi biển. Viên cuội vân hoa nhiều màu rất đẹp nhưng nhỏ chỉ bằng ngón chân cái. Mang về anh thả viên cuội vào bể cá và quên.
Xem thêm
Lặng lẽ Tết – Tản văn Lê Trọng Bình
Sau 45 năm đằng đẵng Tết Nam, lần đầu tiên được về quê ăn Tết, cảm giác của tôi như được “chào đời không tiếng khóc” nơi quê cha đất tổ, bởi sinh tôi ra chưa được cái Tết nào thì gia đình đã Nam tiến. Thường thì tâm lý người xa quê đoàn tụ sẽ vui lắm, nhưng trong tôi thì khác hoàn toàn bởi những cung bậc đầu tiên ấy.
Xem thêm
Tình mẫu tử - Trần Thế Tuyển
Nhân Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3, Văn chương TP.HCM giới thiệu tản văn “Tình mẫu tử” của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển: một câu chuyện giản dị mà xúc động về tình mẹ.
Xem thêm
Tuổi thơ tôi - Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Có những ký ức tưởng như đã ngủ yên trong quá khứ, nhưng chỉ cần một buổi chiều lặng gió, một mùi hương quen bất chợt thoảng qua, chúng lại trở về nguyên vẹn. Khi ấy, tuổi thơ hiện lên trong tôi như một thước phim cũ – chậm rãi, trong trẻo mà thấm đẫm những rung động rất sâu của một đời người.
Xem thêm
Tha phương…Tùy bút Lê Thi
Nước Mỹ có phải thiên đường cho tất cả những người đến miền đất hứa này không? Chưa hẳn là như thế. Tôi gặp biết bao nhiêu người đến định cư ở đây mang nhiều quốc tịch khác nhau, nhưng mỗi người mang số phận khác nhau nhiều khi không biết có hơn ở Việt Nam không, nếu như họ không có ý chí và nghề nghiệp gì nhất định.
Xem thêm
Một mùa thơ đi qua – tình người ở lại
Sau ba ngày hoạt động sôi nổi, Ngày Thơ Việt Nam 2026 tại TP.HCM đã khép lại, nhưng dư âm của nó vẫn còn đọng lại trong nhiều cuộc gặp gỡ và câu chuyện bên lề. Từ việc phát động cuộc thi thơ “Tiếng gọi đô thị mới” với sự đồng hành của Quỹ Tình Thơ, đến những lều thơ và đêm thơ nhạc của các câu lạc bộ, tất cả góp phần tạo nên một không gian thi ca vừa trang trọng vừa ấm áp tình bằng hữu.
Xem thêm
Vẻ đẹp miền di sản cuối trời Nam – Tùy bút Nguyễn Phú Thành
Miền đất được mệnh danh nơi “đất biết nở, rừng biết đi” (chữ dùng của Sơn Nam) – luôn mang trong mình vẻ đẹp hoang sơ và giàu sức sống. Những dòng kênh đậm phù sa, rừng U Minh bạt ngàn và mũi đất vươn ra biển Tây tạo nên một miền quê thấm đẫm chất phương Nam, nơi con người hiền hòa, chân chất và mạnh mẽ trước thiên nhiên. Còn Hà Tiên lại quyến rũ bởi vẻ thơ mộng của miền biên viễn, nơi non nước giao hòa mang dấu ấn lịch sử với những thắng cảnh từng đi vào thơ ca. Từ đất Mũi hoang sơ, phóng khoáng đến Hà Tiên hữu tình, cổ kính – đều là miền di sản của đất phương Nam như hai nét chấm phá độc đáo, tạo nên bức tranh thiên nhiên và văn hoá đầy mê hoặc của cực Nam Tổ quốc.
Xem thêm
Văn chương Việt và câu hỏi toàn cầu - Tùy văn Lê Hưng Tiến
Trong những năm gần đây, đời sống văn học Việt Nam đang đối mặt với một thực trạng đáng báo động, đó chính là sự xuống cấp đồng thời của chất lượng sáng tác và dịch thuật, đặc biệt trong lĩnh vực thơ khi nhiều sản phẩm yếu kém lại được nhân danh hội nhập để đưa ra nước ngoài. Hiện tượng này không chỉ làm tổn thương giá trị nội tại của văn chương, mà còn trực tiếp bóp méo diện mạo văn học Việt Nam trong con mắt bạn đọc quốc tế.
Xem thêm
Chén trà trong đêm trực – Tản văn Hồng Loan
Khi nhắc đến uống trà, nhiều người hình dung ngay những khoảnh khắc thư thả, ngồi giữa không gian yên tĩnh để cảm nhận vị “thanh khiết chậm rãi của cuộc sống”. Nhưng với những y, bác sĩ trực cấp cứu, trà lại mang một ý nghĩa hoàn toàn khác. Đó là phút dừng ngắn ngủi để kịp hít một hơi sâu giữa những cuộc chạy đua với số phận; là lúc họ đứng dưới ánh đèn trắng lạnh của phòng cấp cứu, đôi tay còn hằn dấu găng, mùi sát khuẩn vẫn bám trên áo blouse, và tiếng bút ghi hồ sơ vẫn kêu “sột soạt” đâu đó trên chiếc bàn trực.
Xem thêm
Người chiến sĩ và mùa xuân đất nước - Tùy bút Phùng Văn Khai
Bến phà Lục Nam mùa xuân hơn ba mươi năm trước - năm 1994 với tôi là một bước ngoặt lớn của đời người. Có nằm mơ tôi cũng không nghĩ rằng mình đã trở thành một người lính trong tiểu đội tân binh của Trung đoàn 421 - Sư đoàn 306 - Binh đoàn Hương Giang anh hùng thấm đẫm chiến công...
Xem thêm
Cỗ Tết không thể thiếu dưa hành – Tản văn Nguyễn Gia Long
Năm nào cũng vậy, hễ Tết Nguyên đán còn cách khoảng mươi ngày, và cho dù có bận trăm công ngàn việc đi chăng nữa, thì mẹ tôi vẫn dành thời gian để muối vại dưa hành thật lớn! Vâng, cho dù đã có nhiều các món ngon rồi mà trong mâm cỗ Tết vẫn còn thiếu món dưa hành thì coi như vẫn còn thiếu chút hương vị Tết truyền thống. Nếu như các gia đình Miền Trung, Miền Nam trong mâm cỗ Tết thường có dưa món và đĩa củ kiệu, thì cỗ Tết ở Miền Bắc không thể thiếu được dưa hành muối chua.
Xem thêm
Nhiều niềm vui bên nồi bánh chưng ngày Tết – Tạp bút Nguyễn Gia Long
Nhớ khoảng thời gian tuổi thơ khi tôi còn sống ở quê nhà, cứ đến giáp Tết Nguyên đán thì gia đình nhà nào cũng vậy, dù bận rộn đến đâu cũng cắt cử ra một, vài người để lo sửa soạn rửa lá dong, vo gạo nếp, đãi đỗ, ướp thịt lợn…, để gói bánh chưng ăn Tết. Ngày ấy, dù kinh tế nhà nào cũng nghèo nhưng việc ăn một cái Tết to và tươm tất thì khỏi phải bàn, bởi người ta từng bảo: “Đói ngày giỗ cha, no ba ngày Tết”, mà bánh chưng thì là một trong số các món cơ bản không thể thiếu được trong mâm cỗ Tết, nên nhà nào cũng gói rất nhiều bánh chưng. Nhà ít thì gói dăm, bảy ký gạo; các hộ gia đình gói nhiều lên tới vài, ba chục ký. Chính vì vậy mà các cặp bánh, xâu bánh chưng vuông, bánh chưng dài (bánh tày) đều bày ngổn ngang trong nhà, quanh chạn bát trong gian bếp. Việc gói bánh chưng không chỉ để cúng kiếng và ăn trong ba ngày Tết chính, mà bánh chưng còn dùng để ăn dần trong những ngày tiếp theo khi mọi người ra đồng cày, cấy, trồng rau màu…
Xem thêm