TIN TỨC

Đồng Vọng, tiếng thơ từ trầm tích một đời

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-02-10 01:25:36
mail facebook google pos stwis
592 lượt xem

65 bài thơ ứng với 65 mùa xuân đời người, mang dáng dấp của một sự sắp đặt có chủ ý giữa nghệ thuật và đời sống. Tập thơ “Đồng vọng” của Ngô Hoài Chung vì thế vừa là một ấn phẩm kỉ niệm, vừa là một hành trình tinh thần được chưng cất cẩn trọng từ những trải nghiệm dày dặn của một đời người.

Đồng vọng vì thế trở thành một cuốn nhật kí tâm hồn, là những cột mốc cảm xúc được dựng lên trên chặng đường 65 năm, mời gọi độc giả lắng nghe tiếng vọng từ một cuộc đời đã sống trọn vẹn và thiết tha.

Người ngoại đạo có căn thi sĩ

 

Đồng Vọng, tiếng thơ từ trầm tích một đời - ảnh 1

Nhà thơ Ngô Hoài Chung – tác giả tập thơ “Đồng vọng”

 

Ngay từ những dòng đầu tiên trong lời tự bạch mở đầu tập thơ, Ngô Hoài Chung đã khiêm tốn và thành thực định vị mình một cách rõ ràng: “Trong văn chương tôi là kẻ ngoại đạo, có chăng là dân viết nghiệp dư”. Chính điều này đã tạo nên chất thơ rất riêng, không thể trộn lẫn của ông: không trau chuốt hình thức, không cầu kì về ngôn từ, mà mộc mạc, chân thực, thấm đẫm hơi thở nồng ấm và những vui buồn rất thật của đời sống.

Ông tìm đến thơ xuất phát từ một nhu cầu tự nhiên và thiết yếu của nội tâm, như chính lời ông chia sẻ: “Chính nhu cầu bộc bạch những tâm sự đã khiến tôi tìm đến với thơ”. Với ông, thơ trước hết là phương tiện để giải tỏa, để giãi bày, để đối thoại với chính mình trước những bộn bề, suy tư.

Vì thế, những bài thơ thường được sinh ra trong những khoảnh khắc rất đỗi bình thường, thậm chí là bất chợt, như chính ông mô tả: “có thể là lúc đang lắc lư trên xe trong chuyến công tác, một đêm xa nhà khó ngủ hoặc khi nhấm nháp chén trà buổi sáng”.

Cách sáng tác ấy khiến thơ ông gần gũi như một nhịp thở, một lời tâm sự thầm thì, đi thẳng từ trải nghiệm thực tế vào mạch cảm xúc, không qua nhiều lớp lọc hoa mĩ. Nó mang tính trực cảm cao, và nhờ vậy, dễ dàng chạm vào trái tim người đọc bởi sự đồng điệu trong những cảm xúc rất đỗi con người, những điều ai cũng có thể từng trải qua.

Sự “ngoại đạo” ấy, lại hóa thành sức mạnh và thế mạnh riêng biệt. Nó giúp ông giữ được đôi mắt tinh tế, trong trẻo và một trái tim luôn rung động trước cái đẹp bình dị của cuộc sống, không bị chi phối hay gò bó bởi bất kì trường phái hay khuôn sáo nghệ thuật nào.

Trong một chia sẻ, ông tâm sự: “Là công chức, tôi thường xuyên tiếp xúc với những văn bản quy phạm pháp luật khô khan và những trách nhiệm. Chính vì vậy, làm thơ là cách giúp tôi nhìn cuộc đời bằng đôi mắt thi vị, tinh tế, hồn nhiên”.

Căn tính thi sĩ trong con người Ngô Hoài Chung không được đào tạo bài bản từ giảng đường, mà nó được đánh thức, vun đắp một cách tự nhiên từ chính những trải nghiệm đa dạng, phong phú của “một đời người, một đời việc”. Đó là thứ căn cước nghệ thuật hình thành từ thực tiễn sống, từ những va chạm, suy tư, yêu thương và cả những trăn trở rất đời thường.

 

Đồng Vọng, tiếng thơ từ trầm tích một đời - ảnh 2

“Đồng Vọng” – tập thơ kết tinh ký ức, suy tư và chiêm nghiệm nhân sinh của Ngô Hoài Chung

 

Tri âm với chính mình

Mạch chảy xuyên suốt, sâu lắng và có sức nặng hơn cả trong Đồng vọng chính là cuộc hành trình hướng nội, cuộc đối thoại không ngừng nghỉ với bản thân, hay nói cách khác, là sự “tri âm” với chính mình. Thơ trở thành phương tiện trung thực và nhạy bén nhất để ông khám phá những ngóc ngách sâu kín, những mảng màu cảm xúc phức tạp trong tâm hồn mình.

Ông viết: “Nhờ có thơ tôi khám phá bản thân mình, trở thành chính mình, giữ được sự thăng bằng cho mình trong cuộc sống”. Lời tự sự này vạch ra rõ rệt chức năng trị liệu và tự nhận thức của thơ ca trong đời sống tinh thần của tác giả.

Hành trình “tri âm” ấy được thể hiện rõ nét và cảm động nhất qua những trang thơ ông dành cho gia đình, nơi được ông xem là bến đỗ vững chắc, là nguồn cội của tình yêu thương và sự bình yên vĩnh cửu. Những vần thơ viết cho người vợ của mình không phải là những lời hoa mĩ, mà là lời cảm ơn sâu sắc, chân thành từ một người chồng thấu hiểu và trân trọng giá trị của hậu phương:

“Ngày trước bên em đôi khi anh chỉ muốn
Được đàn đúm bạn bè như thuở độc thân
Giờ xa em anh mới nhận ra rằng
Cuộc sống vắng em không còn là cuộc sống”.

Sự thừa nhận ấy vừa chân thực, vừa đầy ăn năn và biết ơn, cho thấy một tình yêu được vun đắp qua thời gian, qua những hi sinh thầm lặng, và cuối cùng trở thành điểm tựa không thể thiếu.

Đến khi bước sang vai trò ông nội, thơ của Ngô Hoài Chung lại tìm thấy một sự trong trẻo mới, một niềm hạnh phúc giản dị đến lạ kì. Ông viết cho cháu mình với tất cả sự nâng niu, yêu chiều và một niềm hân hoan ngây ngô:

“Thế là được lên chức
Từ ngày cháu chào đời
Với ông chức to nhất
Có được nhờ cháu Xôi”.

Trong những khoảnh khắc ấy, thơ trở thành nhịp cầu kì diệu, nối ông với thế giới thuần khiết, hồn nhiên nhất, giúp ông tái khám phá bản thân qua lăng kính của tình yêu thương mới. Nó khiến ông có thể “sống nhiều cuộc đời khác trong kiếp nhân sinh của mình”, như một lời tự bạch đầy triết lí về sự giàu có của đời sống tinh thần, nơi một con người có thể sống trọn vẹn nhiều vai trò và cung bậc cảm xúc khác nhau.

Tri túc với nhân gian

Hành trình công tác dài với nhiều vị trí, từ địa phương đến trung ương, từ công tác thanh niên đến lĩnh vực văn hóa, du lịch đã cho Ngô Hoài Chung một cái nhìn điềm nhiên, sâu sắc về cuộc đời và con người. Tất cả đã tôi luyện cho ông một tâm thế “tri túc”, một sự biết đủ và an nhiên tự tại trước dòng chảy đa đoan của nhân gian.

Những câu thơ về thế sự của ông thường rất ngắn gọn, súc tích, sắc sảo như một châm ngôn, một lời đúc kết kinh nghiệm sống:

“Đủ tiền là không đủ
Đủ tình là vực sâu
Bởi tình tiền hai thứ
Đủ cho người giết nhau”.

Chỉ bốn câu thơ ngũ ngôn giản dị ấy đã cho thấy một cái nhìn thấu suốt, tỉnh táo và đầy cảnh giác về mối quan hệ giữa các giá trị vật chất và tinh thần, về những tham vọng có thể dẫn con người đến bi kịch.

Sự từng trải ấy dần dẫn ông đến một trạng thái tâm hồn bình thản, an nhiên, như ông đã viết: “Lòng ngổn ngang thế sự/ Mà thanh thản vô thường”.

Tâm thế “tri túc” này không phải là thái độ buông xuôi, phó mặc, mà là sự thấu hiểu, chấp nhận những quy luật tự nhiên của cuộc sống, từ đó chủ động tìm thấy niềm vui và sự mãn nguyện trong những điều giản dị, bền vững nhất.

Đây chính là điểm tựa tinh thần vững chắc nhất, giúp ông giữ được phong thái thanh thản, ung dung sau khi rời khỏi vòng xoáy bận rộn của công việc, để sống trọn vẹn và an nhiên với vai trò một người ông hạnh phúc và một thi sĩ của những điều nhỏ bé nhưng có ý nghĩa lớn lao.

Tiếng vọng của hạt thóc

Có lẽ, trong toàn bộ tập Đồng vọng, không có hình tượng nào có thể diễn tả một cách đầy đủ, trọn vẹn con người và triết lí sống của Ngô Hoài Chung bằng chính “hạt thóc” trong bài thơ nổi tiếng đã đi vào sách giáo khoa của ông.

Như lời kể của tác giả, nó được viết trong khoảng mười lăm phút ngắn ngủi vào một buổi sáng sớm, bắt nguồn từ cảm xúc khi ngắm nhìn khoảng sân và dòng hồi ức về đồng ruộng tuổi thơ. Chính sự giản dị trong cách ra đời ấy lại chứa đựng và chuyển tải được một thông điệp sâu sắc, có sức nặng:

“Tôi chỉ là hạt thóc
Không biết hát biết cười
Nhưng tôi luôn có ích
Vì nuôi sống con người”.

Hạt thóc ở đây đã vượt lên ý nghĩa vật chất thông thường để trở thành một biểu tượng nghệ thuật đẹp đẽ, một ẩn dụ sâu sắc về một lẽ sống đáng quý: sự khiêm nhường, lòng kiên trì bền bỉ và ý nghĩa của sự cống hiến thầm lặng.

Hạt thóc không cần phô trương, không cần biết “hát biết cười” để được chú ý, tán dương. Giá trị đích thực và vĩnh cửu của nó nằm ở sự “có ích” thiết thực, ở khả năng “nuôi sống”, nuôi sống thể xác và cảm hóa, nuôi dưỡng tâm hồn con người.

Đây chính là tuyên ngôn sống giản dị mà minh triết của tác giả: sống trên đời, cốt lõi là để cống hiến, để tạo ra những giá trị thiết thực, âm thầm nhưng bền vững, vì lợi ích chung của cộng đồng.

Bài thơ được đưa vào sách giáo khoa đã trở thành một cây cầu vững chắc, nối tâm hồn và triết lí sống của tác giả với thế hệ trẻ, giúp các em bước đầu nhận thức về giá trị bản thân và ý nghĩa của lao động.

Ông tâm sự: “Tôi rất vui khi thơ đi vào sách, vì chúng đã giúp tôi đến gần hơn với thế hệ măng non”. Như vậy, tiếng vọng của “hạt thóc” đã vượt ra khỏi khuôn khổ một trang thơ cá nhân, để lan tỏa rộng rãi thành một thông điệp nhân văn, giáo dục về lòng tự trọng, sự tự tin và ý thức về một lẽ sống có ích, biết hướng về cộng đồng.

Từ nhà giáo đến người lưu giữ hồn văn hóa

Xuất phát điểm của Ngô Hoài Chung là một nhà giáo dạy môn Lịch sử. Có lẽ, chất “thầy giáo” ấy vẫn âm thầm chảy trong mạch thơ của ông sau này, thể hiện ở sự rõ ràng, mạch lạc và tính giáo dục tinh tế ẩn sau những hình tượng giản dị.

Sau đó, duyên số đưa đẩy ông bước sang con đường công chức, và ông đã lần lượt kinh qua những vị trí quan trọng, đầy thử thách: Bí thư Tỉnh đoàn Thanh Hóa, Bí thư Huyện ủy Ngọc Lặc (cũ), Giám đốc Sở VHTTDL tỉnh Thanh Hóa (trong suốt mười năm).

Ông trực tiếp chỉ đạo, tham gia vào công tác tu bổ, tôn tạo hàng loạt di tích lịch sử - văn hóa trọng điểm của tỉnh như Khu di tích Lam Kinh, đền thờ Bà Triệu, đền thờ Lê Hoàn…

Đặc biệt, ông đã cùng các cơ quan chuyên môn nỗ lực lập hồ sơ, góp phần quan trọng để UNESCO công nhận Thành nhà Hồ là Di sản Văn hóa Thế giới.

Những trải nghiệm sâu sắc, từ khâu nghiên cứu, vận động đến tổ chức bảo tồn di sản, đã thấm sâu vào tâm thức ông, cho ông một cái nhìn vừa am tường chuyên môn, vừa đầy trân trọng, yêu mến khi viết về hồn cốt quê hương, về những dấu tích lịch sử trong thơ.

Sau chặng đường dài ở quê nhà, ông ra Hà Nội nhận nhiệm vụ Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch. Ở cương vị mới này, dù phải bao quát vấn đề toàn quốc, ông vẫn giữ mối liên hệ máu thịt, sâu đậm với Thanh Hóa.

Và khi chính thức nghỉ hưu, ông lại dành thời gian, tâm sức cho một dự định ý nghĩa: viết những bài khảo cứu, địa chí có hệ thống về mảnh đất này.

Với ông, đó là cách thiết thực nhất để tri ân nơi chôn nhau cắt rốn, đồng thời lưu giữ một cách bài bản những thông tin văn hóa, lịch sử quý giá cho các thế hệ sau.

Tập thơ “Đồng Vọng” khép lại với 65 cột mốc thơ, nhưng dư âm và sức vọng của nó hẳn sẽ còn mãi trong lòng những người biết lắng nghe.

Tập thơ là một bản tổng kết chân thực và đầy cảm xúc về một đời sống đa chiều, nơi các mảng màu công việc và đam mê, trách nhiệm xã hội và đời sống cảm xúc cá nhân đã hòa quyện, bồi đắp cho nhau một cách nhuần nhị.

Trương Xuân Thiên/Báo Văn Hóa

Bài viết liên quan

Xem thêm
Thương nhớ những mùa trăng – Tản văn Trà Bình
- Ai trong đời cũng có một tuổi thơ hồn nhiên gắn liền với những mùa trăng thật đẹp. Tôi cũng vậy, ánh trăng của những mùa Tết Trung thu năm xưa luôn là miền ký ức dịu dàng, trong trẻo. Bây giờ, dù đã trưởng thành, tôi vẫn giữ nguyên thói quen mong đợi đêm rằm – khoảnh khắc khiến lòng lại ngập tràn niềm vui như thuở bé.
Xem thêm
Bão tháng 9 - Tản văn của Vũ Minh Phúc
Trong tất cả những điều này – như sự nổi giận của nhiên nhiên, bầu không khí an nhiên và trong lành bị nghiêng ngả bởi làn gió thổi liên hoàn không biết từ đẩu từ đâu, mặt trời bị biến dạng, không còn xuất hiện nữa, bức tranh cuộc sống đầy tiếng thở dài nặng nhọc, thậm chí chẳng ai có thể làm nổi việc nữa, mọi thứ đều phải dừng lại – nhưng việc người ta có thể làm trong lúc này là ngồi chờ đợi trong nhà và ước gì bão sẽ qua đi.
Xem thêm
Những ngọn đèn đứng gác trong đêm – Tản văn của Vũ Minh Phúc
Suốt đêm dài, họ không ngủ và như thể còn trong giấc ngủ chập chờn, tôi nói chuyện với họ, về công việc, gia đình, con gái, luôn trong trạng thái lo lắng; và sau một hồi tiếp nhận đủ các thông tin từ trung tâm báo về, họ ngập đầu trong các ca trực, nghe điện thoại, ghi chép nhật ký lịch trình thời gian tàu chạy, giải quyết ùn tắc ở ngã tư và đóng barie chắn ngang, tôi mới hiểu tại sao trong mọi tình huống giao thông nguy hiểm người gác chắn lại trở nên quan trọng hơn đối với tất cả mọi người.
Xem thêm
Tiếng trống ngày khai trường giữa hai thế hệ - Tản văn Nguyễn Đại Duẫn
Sáng nay, tôi đưa cháu đến trường dự lễ khai giảng năm học mới. Con đường đến trường như cũng vui hơn trong tiếng nói cười của trẻ nhỏ; tiếng ồn ào xe cộ, tiếng lao xao của các bậc phụ huynh. Cháu tôi năm nay vào lớp 1, cái tuổi vừa ngỡ ngàng, rụt rè vừa muốn tìm hiểu làm cho tâm trạng cháu vừa hồi hộp vừa náo nức. Cháu mặc bộ quần áo mới, đeo chiếc cặp trên vai, bàn tay nhỏ xíu nắm lấy tay ông. Nhìn cháu nhảy chân sáo bước vào cổng trường, lòng tôi bỗng rộn ràng một niềm vui khó tả.
Xem thêm
Từ mùa thu 1945 đến kỷ nguyên vươn mình của dân tộc – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Trong không gian phát triển mới đầy thách thức và cơ hội đó, mục tiêu chiến lược của Đảng vì con người được thể hiện một cách nhất quán, xuyên suốt và mang tầm vóc đột phá. Trước hết, đó là quyết tâm chính trị cao độ nhằm không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm an sinh xã hội bền vững, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền để tinh thần không ai bị bỏ lại phía sau trở thành hiện thực sinh động trong từng cộng đồng dân cư.
Xem thêm
Tiếng chim trong vườn bà – Tản văn của Trà Bình
Tôi trở về ngôi nhà cũ của bà vào một buổi chiều mùa hạ. Ngôi nhà cấp bốn nằm nép mình trong xóm nhỏ giờ im lìm, cửa đóng then cài, mái ngói phủ rêu xanh. Tôi chậm rãi bước ra khu vườn trước nhà. Đứng bên gốc vải già còn sót lại vài quả cuối vụ, tôi chợt nghe tiếng chim lảnh lót từ vòm cây vọng xuống, như đánh thức miền ký ức tuổi thơ.
Xem thêm
Pha Đin – Nơi đỉnh trời vương vấn – Bút ký Đào Thị Thu Hiền
Trên cửa ngõ của chiến trường Điện Biên, tôi nghĩ đèo Pha Đin quả là một huyền thoại. Huyền thoại không phải chỉ được hiểu theo nghĩa là một phương pháp sáng tác trong văn học dân gian nhằm giải thích, phân chia ranh giới của hai tỉnh Sơn La và Điện Biên như người Thái từng kể, mà là cách gọi một hiện thực vượt quá ngưỡng bình thường như người ta nghĩ. Cái hiện thực vượt quá ngưỡng bình thường ấy không có gì khác ngoài sự khốc liệt của chiến tranh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp để bảo vệ đất nước diễn ra trên con đèo.
Xem thêm
Vận dụng nghệ thuật chỉ huy tác chiến của Đại tướng Võ Nguyên Giáp vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới
Kỷ niệm 115 năm Ngày sinh Đại tướng Võ Nguyên Giáp (25/8/1911 - 25/8/2026) là dịp để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta thành kính tưởng nhớ, tri ân sâu sắc công lao to lớn của vị Tổng Tư lệnh văn võ song toàn, người học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người anh cả của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Xem thêm
Ngoại tôi – Tản văn Nguyễn Đức Hải
Nhớ hồi nhỏ, ngoại và tụi bạn cùng trang lứa trong ấp lội đồng bắt cá, chân lấm tay bùn vô tư lắm. Bắt được con cá lóc, cả đám gom rơm rạ khô trui ngay bên bờ cỏ, da cá cháy xém, mùi thơm phức lan tỏa trong gió chiều. Cá chín được xé ra nóng hổi, chấm muối ớt cay xé lưỡi, đứa nào cũng hít hà, miệng mồm đen nhẻm. Những ký ức thời tuổi thơ ấy đã làm nên một tuổi trẻ thấm đẫm hồn quê miền Tây, vừa hồn hậu, vừa nguyên sơ. Ngoại mỉm cười, ánh mắt đong đầy bao hoài niệm của một thời đã xa.
Xem thêm
Trái tim xanh của Bắc Kinh
Vào những ngày nóng nắng nhất đầu tháng 8, tôi cùng đoàn nhà văn TP.HCM hăm hở kéo va ly sang Bắc Kinh.
Xem thêm
Nhà văn Khuynh Diệp nằm hầm bí mật và tình yêu với TP Hồ Chí Minh
Cuộc thi “50 năm thành phố trong tôi” giúp nhà văn Khuynh Diệp lan tỏa ký ức, gửi gắm tình yêu dành cho TPHCM – nơi ông đã đi qua chiến tranh, trưởng thành trong nghề viết và gắn bó hơn nửa thế kỷ.
Xem thêm
Bát pin – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Có những kỷ niệm tưởng đã lùi rất xa vào dĩ vãng, vậy mà chỉ cần một âm thanh quen thuộc bất chợt vang lên là tất cả lại hiện về rõ ràng như mới hôm qua. Với tôi, đó là tiếng nói ấm áp phát ra từ chiếc đài bán dẫn cũ – thứ âm thanh từng thắp sáng những ngày tháng gian khó nơi miền quê chưa có điện. Và mỗi lần nhớ về chiếc đài ấy, tôi lại nhớ đến “bát pin” – một sáng kiến vụng về nhưng chứa đựng biết bao niềm hy vọng của một thời thiếu thốn mà đầy khát khao.
Xem thêm
Dòng suối mát trong rừng Mạn Ngược – Tùy bút Phương Uyên
Quê hương tôi có thể chưa nổi tiếng trên những bản đồ du lịch, nhưng với tôi, dòng suối giữa đại ngàn luôn là món quà đẹp nhất mà thiên nhiên đã ban tặng. Đó là vẻ đẹp của sự giản dị, thuần khiết và bền bỉ, như chính tâm hồn của những con người miền núi luôn chân thành, mộc mạc mà nghĩa tình.
Xem thêm
Mồ hôi và nước mắt tìm kiếm liệt sĩ
Chiến tranh đã lùi vào quá khứ nửa thế kỷ, nhưng dư âm của những năm tháng máu trộn bùn non vẫn còn khắc sâu trên từng tấc đất quê hương, trong tâm trí của triệu triệu người con đất Việt. Những người lính Cụ Hồ, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, những chiến sĩ biệt động và dân quân du kích năm ấy, khi dấn thân ra trận, tuổi đời hãy còn rất trẻ; các anh, các chị mang theo những hoài bão thanh xuân mãnh liệt và cả những ước mơ còn dang dở. Rồi trong khói lửa đạn bom khắc nghiệt, các anh, các chị đã anh dũng ngã xuống, hóa thân thành hồn thiêng sông núi, trở thành một phần máu thịt của đất trời Tổ quốc. Hưởng ứng hành trình 500 ngày đêm tìm kiếm hài cốt và xác định danh tính liệt sĩ đang được triển khai sâu rộng trên toàn quốc, hàng triệu trái tim lại thổn thức, cùng hướng về một cuộc hành trình lặng thầm nhưng vô cùng cao cả: tìm kiếm, đón các anh, các chị về với đất mẹ, về với vòng tay ôm ấp của gia đình, người thân và quê hương xứ sở.
Xem thêm
Sắc tím bàng vuông - Tản văn Nguyễn Thu Hà SG
Tháng sáu, hoa bàng vuông nhà mình năm nay nở đặc bông. Thứ hoa chẳng được bày trưng bao giờ, cứ bung rực ra sắc tím tươi như những lời hẹn ước. Đôi khi em bắt gặp con đứng cạnh lồng chim và đăm đăm ngắm chùm hoa đang rộ. Tiếng con nhồng kêu lanh lảnh “ Cha về! Cha về!” làm thằng bé chợt giật mình…
Xem thêm
Cuộc gặp gỡ kỳ lạ - Bút ký của Vũ Minh Phúc
Năm ấy, tôi được cử lên Điện Biên Phủ để tường thuật về sự kiện 1.000 anh hùng thời đại Hồ Chí Minh. Những con người anh hùng nhất, dũng cảm nhất, hôm ấy giữa Hội trường khang trang rộng lớn, ai cũng thổn thức kể chuyện đời mình. Những tấm huân, huy chương lấp lánh và cao quý nhất trên ngực những người lính già, nó được dành để trao tặng cho những con người đã hy sinh cả cuộc đời mình cho sự nghiệp vĩ đại của Tổ quốc. Cuộc gặp gỡ qua đi, tôi về nhà, nhưng những câu chuyện ấy chẳng bao giờ qua đi, nó như cứ trở đi trở lại trong những giấc mơ.
Xem thêm
Nhà tù Sơn La và cây đào Tô Hiệu
Mỗi lần trở lại nhà tù Sơn La, gót chân tôi như bị níu chặt trước cây đào mang tên người chiến sĩ cộng sản Tô Hiệu. Giống như lần trước, tôi lại trông thấy rất nhiều người vây quanh và lặng yên chụp ảnh bên tấm biển nhỏ cắm ở dưới gốc cây đào. Cội đào cổ thụ kiêu hãnh bên nền móng cổ xưa như thể tựa mình vào vách đá của tù ngục; sừng sững ngay bên lối vào với cành lá tươi xanh, tán xoè rộng khắp như thể đang che chở cho những miền ký ức.
Xem thêm
Trên những nẻo đường tri ân - Ký của Nguyên Hùng
Dọc dải đất miền Trung, nơi từng rung chuyển bởi đạn bom và nước mắt, vẫn còn đó những địa danh đã đi vào tâm thức dân tộc: Trường Sơn, Khe Sanh, Thành cổ Quảng Trị, sông Thạch Hãn, địa đạo Vĩnh Mốc... Mỗi tấc đất, mỗi dòng sông là một trang sử được viết bằng máu của những người lính tuổi hai mươi.
Xem thêm
Em đợi anh về
Dòng sông Vàm Cỏ vẫn miệt mài chảy, nước vẫn trôi đi, thời gian vẫn luân hồi qua từng mùa lá rụng. Nhưng bên bờ sông ấy, có những nỗi nhớ đã hóa đá, có những tình yêu đã vượt thoát khỏi ranh giới của sự sống và cái chết, để trở thành một biểu tượng bất tử. Câu chuyện về người chiến sĩ - liệt sĩ Huỳnh Văn Quên và người con gái Nguyễn Thị Lệ là một minh chứng sâu sắc – một câu chuyện được viết bằng máu, nước mắt và tấm lòng sắt son của người phụ nữ Việt Nam trong khói lửa chiến tranh.
Xem thêm
Nghĩa tình với liệt sĩ
Những ngày này, cả nước cùng tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ, chúng ta lại càng thấm thía hơn về hai chữ “tri ân”. Tri ân không chỉ là những vòng hoa, những nén tâm hương thành kính dâng trên đài tưởng niệm, mà đôi khi còn là những câu chuyện lặng thầm, bền bỉ được thắp sáng từ nghĩa đồng bào, tình đồng đội sâu nặng giữa thời bình.
Xem thêm