TIN TỨC

Đồng Vọng, tiếng thơ từ trầm tích một đời

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-02-10 01:25:36
mail facebook google pos stwis
303 lượt xem

65 bài thơ ứng với 65 mùa xuân đời người, mang dáng dấp của một sự sắp đặt có chủ ý giữa nghệ thuật và đời sống. Tập thơ “Đồng vọng” của Ngô Hoài Chung vì thế vừa là một ấn phẩm kỉ niệm, vừa là một hành trình tinh thần được chưng cất cẩn trọng từ những trải nghiệm dày dặn của một đời người.

Đồng vọng vì thế trở thành một cuốn nhật kí tâm hồn, là những cột mốc cảm xúc được dựng lên trên chặng đường 65 năm, mời gọi độc giả lắng nghe tiếng vọng từ một cuộc đời đã sống trọn vẹn và thiết tha.

Người ngoại đạo có căn thi sĩ

 

Đồng Vọng, tiếng thơ từ trầm tích một đời - ảnh 1

Nhà thơ Ngô Hoài Chung – tác giả tập thơ “Đồng vọng”

 

Ngay từ những dòng đầu tiên trong lời tự bạch mở đầu tập thơ, Ngô Hoài Chung đã khiêm tốn và thành thực định vị mình một cách rõ ràng: “Trong văn chương tôi là kẻ ngoại đạo, có chăng là dân viết nghiệp dư”. Chính điều này đã tạo nên chất thơ rất riêng, không thể trộn lẫn của ông: không trau chuốt hình thức, không cầu kì về ngôn từ, mà mộc mạc, chân thực, thấm đẫm hơi thở nồng ấm và những vui buồn rất thật của đời sống.

Ông tìm đến thơ xuất phát từ một nhu cầu tự nhiên và thiết yếu của nội tâm, như chính lời ông chia sẻ: “Chính nhu cầu bộc bạch những tâm sự đã khiến tôi tìm đến với thơ”. Với ông, thơ trước hết là phương tiện để giải tỏa, để giãi bày, để đối thoại với chính mình trước những bộn bề, suy tư.

Vì thế, những bài thơ thường được sinh ra trong những khoảnh khắc rất đỗi bình thường, thậm chí là bất chợt, như chính ông mô tả: “có thể là lúc đang lắc lư trên xe trong chuyến công tác, một đêm xa nhà khó ngủ hoặc khi nhấm nháp chén trà buổi sáng”.

Cách sáng tác ấy khiến thơ ông gần gũi như một nhịp thở, một lời tâm sự thầm thì, đi thẳng từ trải nghiệm thực tế vào mạch cảm xúc, không qua nhiều lớp lọc hoa mĩ. Nó mang tính trực cảm cao, và nhờ vậy, dễ dàng chạm vào trái tim người đọc bởi sự đồng điệu trong những cảm xúc rất đỗi con người, những điều ai cũng có thể từng trải qua.

Sự “ngoại đạo” ấy, lại hóa thành sức mạnh và thế mạnh riêng biệt. Nó giúp ông giữ được đôi mắt tinh tế, trong trẻo và một trái tim luôn rung động trước cái đẹp bình dị của cuộc sống, không bị chi phối hay gò bó bởi bất kì trường phái hay khuôn sáo nghệ thuật nào.

Trong một chia sẻ, ông tâm sự: “Là công chức, tôi thường xuyên tiếp xúc với những văn bản quy phạm pháp luật khô khan và những trách nhiệm. Chính vì vậy, làm thơ là cách giúp tôi nhìn cuộc đời bằng đôi mắt thi vị, tinh tế, hồn nhiên”.

Căn tính thi sĩ trong con người Ngô Hoài Chung không được đào tạo bài bản từ giảng đường, mà nó được đánh thức, vun đắp một cách tự nhiên từ chính những trải nghiệm đa dạng, phong phú của “một đời người, một đời việc”. Đó là thứ căn cước nghệ thuật hình thành từ thực tiễn sống, từ những va chạm, suy tư, yêu thương và cả những trăn trở rất đời thường.

 

Đồng Vọng, tiếng thơ từ trầm tích một đời - ảnh 2

“Đồng Vọng” – tập thơ kết tinh ký ức, suy tư và chiêm nghiệm nhân sinh của Ngô Hoài Chung

 

Tri âm với chính mình

Mạch chảy xuyên suốt, sâu lắng và có sức nặng hơn cả trong Đồng vọng chính là cuộc hành trình hướng nội, cuộc đối thoại không ngừng nghỉ với bản thân, hay nói cách khác, là sự “tri âm” với chính mình. Thơ trở thành phương tiện trung thực và nhạy bén nhất để ông khám phá những ngóc ngách sâu kín, những mảng màu cảm xúc phức tạp trong tâm hồn mình.

Ông viết: “Nhờ có thơ tôi khám phá bản thân mình, trở thành chính mình, giữ được sự thăng bằng cho mình trong cuộc sống”. Lời tự sự này vạch ra rõ rệt chức năng trị liệu và tự nhận thức của thơ ca trong đời sống tinh thần của tác giả.

Hành trình “tri âm” ấy được thể hiện rõ nét và cảm động nhất qua những trang thơ ông dành cho gia đình, nơi được ông xem là bến đỗ vững chắc, là nguồn cội của tình yêu thương và sự bình yên vĩnh cửu. Những vần thơ viết cho người vợ của mình không phải là những lời hoa mĩ, mà là lời cảm ơn sâu sắc, chân thành từ một người chồng thấu hiểu và trân trọng giá trị của hậu phương:

“Ngày trước bên em đôi khi anh chỉ muốn
Được đàn đúm bạn bè như thuở độc thân
Giờ xa em anh mới nhận ra rằng
Cuộc sống vắng em không còn là cuộc sống”.

Sự thừa nhận ấy vừa chân thực, vừa đầy ăn năn và biết ơn, cho thấy một tình yêu được vun đắp qua thời gian, qua những hi sinh thầm lặng, và cuối cùng trở thành điểm tựa không thể thiếu.

Đến khi bước sang vai trò ông nội, thơ của Ngô Hoài Chung lại tìm thấy một sự trong trẻo mới, một niềm hạnh phúc giản dị đến lạ kì. Ông viết cho cháu mình với tất cả sự nâng niu, yêu chiều và một niềm hân hoan ngây ngô:

“Thế là được lên chức
Từ ngày cháu chào đời
Với ông chức to nhất
Có được nhờ cháu Xôi”.

Trong những khoảnh khắc ấy, thơ trở thành nhịp cầu kì diệu, nối ông với thế giới thuần khiết, hồn nhiên nhất, giúp ông tái khám phá bản thân qua lăng kính của tình yêu thương mới. Nó khiến ông có thể “sống nhiều cuộc đời khác trong kiếp nhân sinh của mình”, như một lời tự bạch đầy triết lí về sự giàu có của đời sống tinh thần, nơi một con người có thể sống trọn vẹn nhiều vai trò và cung bậc cảm xúc khác nhau.

Tri túc với nhân gian

Hành trình công tác dài với nhiều vị trí, từ địa phương đến trung ương, từ công tác thanh niên đến lĩnh vực văn hóa, du lịch đã cho Ngô Hoài Chung một cái nhìn điềm nhiên, sâu sắc về cuộc đời và con người. Tất cả đã tôi luyện cho ông một tâm thế “tri túc”, một sự biết đủ và an nhiên tự tại trước dòng chảy đa đoan của nhân gian.

Những câu thơ về thế sự của ông thường rất ngắn gọn, súc tích, sắc sảo như một châm ngôn, một lời đúc kết kinh nghiệm sống:

“Đủ tiền là không đủ
Đủ tình là vực sâu
Bởi tình tiền hai thứ
Đủ cho người giết nhau”.

Chỉ bốn câu thơ ngũ ngôn giản dị ấy đã cho thấy một cái nhìn thấu suốt, tỉnh táo và đầy cảnh giác về mối quan hệ giữa các giá trị vật chất và tinh thần, về những tham vọng có thể dẫn con người đến bi kịch.

Sự từng trải ấy dần dẫn ông đến một trạng thái tâm hồn bình thản, an nhiên, như ông đã viết: “Lòng ngổn ngang thế sự/ Mà thanh thản vô thường”.

Tâm thế “tri túc” này không phải là thái độ buông xuôi, phó mặc, mà là sự thấu hiểu, chấp nhận những quy luật tự nhiên của cuộc sống, từ đó chủ động tìm thấy niềm vui và sự mãn nguyện trong những điều giản dị, bền vững nhất.

Đây chính là điểm tựa tinh thần vững chắc nhất, giúp ông giữ được phong thái thanh thản, ung dung sau khi rời khỏi vòng xoáy bận rộn của công việc, để sống trọn vẹn và an nhiên với vai trò một người ông hạnh phúc và một thi sĩ của những điều nhỏ bé nhưng có ý nghĩa lớn lao.

Tiếng vọng của hạt thóc

Có lẽ, trong toàn bộ tập Đồng vọng, không có hình tượng nào có thể diễn tả một cách đầy đủ, trọn vẹn con người và triết lí sống của Ngô Hoài Chung bằng chính “hạt thóc” trong bài thơ nổi tiếng đã đi vào sách giáo khoa của ông.

Như lời kể của tác giả, nó được viết trong khoảng mười lăm phút ngắn ngủi vào một buổi sáng sớm, bắt nguồn từ cảm xúc khi ngắm nhìn khoảng sân và dòng hồi ức về đồng ruộng tuổi thơ. Chính sự giản dị trong cách ra đời ấy lại chứa đựng và chuyển tải được một thông điệp sâu sắc, có sức nặng:

“Tôi chỉ là hạt thóc
Không biết hát biết cười
Nhưng tôi luôn có ích
Vì nuôi sống con người”.

Hạt thóc ở đây đã vượt lên ý nghĩa vật chất thông thường để trở thành một biểu tượng nghệ thuật đẹp đẽ, một ẩn dụ sâu sắc về một lẽ sống đáng quý: sự khiêm nhường, lòng kiên trì bền bỉ và ý nghĩa của sự cống hiến thầm lặng.

Hạt thóc không cần phô trương, không cần biết “hát biết cười” để được chú ý, tán dương. Giá trị đích thực và vĩnh cửu của nó nằm ở sự “có ích” thiết thực, ở khả năng “nuôi sống”, nuôi sống thể xác và cảm hóa, nuôi dưỡng tâm hồn con người.

Đây chính là tuyên ngôn sống giản dị mà minh triết của tác giả: sống trên đời, cốt lõi là để cống hiến, để tạo ra những giá trị thiết thực, âm thầm nhưng bền vững, vì lợi ích chung của cộng đồng.

Bài thơ được đưa vào sách giáo khoa đã trở thành một cây cầu vững chắc, nối tâm hồn và triết lí sống của tác giả với thế hệ trẻ, giúp các em bước đầu nhận thức về giá trị bản thân và ý nghĩa của lao động.

Ông tâm sự: “Tôi rất vui khi thơ đi vào sách, vì chúng đã giúp tôi đến gần hơn với thế hệ măng non”. Như vậy, tiếng vọng của “hạt thóc” đã vượt ra khỏi khuôn khổ một trang thơ cá nhân, để lan tỏa rộng rãi thành một thông điệp nhân văn, giáo dục về lòng tự trọng, sự tự tin và ý thức về một lẽ sống có ích, biết hướng về cộng đồng.

Từ nhà giáo đến người lưu giữ hồn văn hóa

Xuất phát điểm của Ngô Hoài Chung là một nhà giáo dạy môn Lịch sử. Có lẽ, chất “thầy giáo” ấy vẫn âm thầm chảy trong mạch thơ của ông sau này, thể hiện ở sự rõ ràng, mạch lạc và tính giáo dục tinh tế ẩn sau những hình tượng giản dị.

Sau đó, duyên số đưa đẩy ông bước sang con đường công chức, và ông đã lần lượt kinh qua những vị trí quan trọng, đầy thử thách: Bí thư Tỉnh đoàn Thanh Hóa, Bí thư Huyện ủy Ngọc Lặc (cũ), Giám đốc Sở VHTTDL tỉnh Thanh Hóa (trong suốt mười năm).

Ông trực tiếp chỉ đạo, tham gia vào công tác tu bổ, tôn tạo hàng loạt di tích lịch sử - văn hóa trọng điểm của tỉnh như Khu di tích Lam Kinh, đền thờ Bà Triệu, đền thờ Lê Hoàn…

Đặc biệt, ông đã cùng các cơ quan chuyên môn nỗ lực lập hồ sơ, góp phần quan trọng để UNESCO công nhận Thành nhà Hồ là Di sản Văn hóa Thế giới.

Những trải nghiệm sâu sắc, từ khâu nghiên cứu, vận động đến tổ chức bảo tồn di sản, đã thấm sâu vào tâm thức ông, cho ông một cái nhìn vừa am tường chuyên môn, vừa đầy trân trọng, yêu mến khi viết về hồn cốt quê hương, về những dấu tích lịch sử trong thơ.

Sau chặng đường dài ở quê nhà, ông ra Hà Nội nhận nhiệm vụ Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch. Ở cương vị mới này, dù phải bao quát vấn đề toàn quốc, ông vẫn giữ mối liên hệ máu thịt, sâu đậm với Thanh Hóa.

Và khi chính thức nghỉ hưu, ông lại dành thời gian, tâm sức cho một dự định ý nghĩa: viết những bài khảo cứu, địa chí có hệ thống về mảnh đất này.

Với ông, đó là cách thiết thực nhất để tri ân nơi chôn nhau cắt rốn, đồng thời lưu giữ một cách bài bản những thông tin văn hóa, lịch sử quý giá cho các thế hệ sau.

Tập thơ “Đồng Vọng” khép lại với 65 cột mốc thơ, nhưng dư âm và sức vọng của nó hẳn sẽ còn mãi trong lòng những người biết lắng nghe.

Tập thơ là một bản tổng kết chân thực và đầy cảm xúc về một đời sống đa chiều, nơi các mảng màu công việc và đam mê, trách nhiệm xã hội và đời sống cảm xúc cá nhân đã hòa quyện, bồi đắp cho nhau một cách nhuần nhị.

Trương Xuân Thiên/Báo Văn Hóa

Bài viết liên quan

Xem thêm
Trường Sa và những khoảnh khắc bình yên nơi đảo xa
Vẻ đẹp Trường Sa và tinh thần Trường Sa, không dễ nói hết trong một sớm một chiều. Nhân dịp tham gia Đoàn công tác số 14 đến với quần đảo Trường Sa, chúng tôi chọn lựa 14 khoảnh khắc đáng nhớ, để chia sẻ cùng bạn đọc về một Trường Sa xanh mát và kiêu hãnh hôm nay.
Xem thêm
Giữa Trường Sa, tiếng hát hòa vào tiếng sóng
Bảy ngày giữa biển không chỉ để đi qua những hòn đảo, những nhà giàn nơi đầu sóng. Đó còn là hành trình để hiểu thêm về những người lính biển, về sự hy sinh lặng thầm và về cách Trường Sa đi vào trái tim mỗi người.
Xem thêm
Ai mà chẳng biết… Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Nếu hơn 1300 năm trước, một hôm trên bước đường tiêu dao hay giữa một cơn say rượu túy lúy càn khôn nào đó, Lý Bạch đã thốt lên lời cảm khái: Xử thế ngược đại mộng/ Hồ vi lao kỳ sinh (*) thì cũng từ lâu lắm, người bình dân Việt đã từng trải nghiệm, rằng: Sự đời như giấc chiêm bao… Hoặc nếu từ 2400 năm trước ở Hy Lạp cổ đại, lời dặn của triết gia Socrates (về sau được khắc vào đá ở đền thờ Delphi), rằng Connais-toi, toi-même (Know thyself - Hãy tự hiểu chính mình), thì tại phương Đông, mấy mươi năm sau sinh thời của Socrates, nhà quân sự Tôn Võ Tử cũng đã ghi vào binh pháp điều mà bất cứ người cầm quân nào cũng không được quên, là: Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bất đãi/ Bất tri bỉ nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ/ Bất tri bỉ bất tri kỷ, mỗi chiến tất đãi (tức là: Biết mình biết người, trăm trận đánh không thua. Không biết người mà biết mình, một thắng một thua, Không biết người không biết mình, mỗi lần đánh ắt thua).
Xem thêm
Dư âm mùa hạ – Tản văn Đinh Thu Huế
Có lẽ, những mùa hạ oi nồng nhất lại là những năm tháng xa mẹ. Nắng hanh vàng nơi phố thị đôi khi khiến lòng tôi chùng xuống bởi khoảng trống cô đơn. Bỗng dưng nhớ da diết cảm giác thức dậy ở quê nhà, lắng nghe tiếng bước chân mẹ tảo tần lúc tờ mờ sáng, tiếng đàn gà lục cục dưới gốc khế già, hay tiếng gàu nước va vào thành giếng đánh thức cả một vùng thanh âm trong trẻo. Bao rung cảm bình dị ấy cứ vang vọng, để khi đi xa mới nghẹn lòng nhận ra: đó chính là khoảng trời chân phương nhất mà mình thuộc về. Chẳng có bóng râm nào xanh mát và chở che hơn đôi cánh tay của mẹ.
Xem thêm
Cõng hàng về căn cứ - Bút ký của Ngọc Tấn
Tôi đi như đếm từng bước, như trong vô thức, nhưng cứ đi, đến lúc nào đôi chân không sai khiến được nữa mới dừng lại nghỉ. Cho đến chiều ngày hôm sau tôi bỗng nghe lao xao tiếng người. Địch hay ta đây? Tim như thắt lại vì hồi hộp, tôi bí mật tiến lại gần quan sát. Không phải địch, một đơn vị bộ đội đang hành quân ngang qua! “Trời cho mình được sống lại rồi!” - nỗi vui sướng quá đỗi khiến nước mắt tôi ứa ra... Nghe tôi kể lại đầu đuôi, chỉ huy đơn vị đồng ý cho tôi đi theo. Tôi theo các anh được một tuần thì gặp ông chú trên Gia Lai xuống. Ông khuyên tôi về quê tạm lánh, khi nào gặp người trên cứ xuống thì hẵng theo lên, không thể tay không đi một mình lên cứ được...
Xem thêm
Theo những dấu chân hoài niệm
Gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan (1940–2010) phối hợp với Bảo Tàng Mỹ thuật Đà Nẵng và Bảo Tàng Mỹ Thuật Tp. Hồ Chí Minh tổ chức hai cuộc triển lãm: tại Đà Nẵng (09/05/2026 – 16/05/2026) và Tp. Hồ Chí Minh (25/05/2026 – 31/05/2026 trong tháng 5 năm 2026). Triển lãm mang ý nghĩa hồi cố, tưởng niệm và tri ân, do KTS Phan Trường Sơn, con trai và gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan thực hiện, đồng thời giới thiệu đến những người yêu mến mỹ thuật và bạn bè, người thân của họa sĩ tập sách “Họa sĩ Nguyễn Phan, những năm tháng và sắc màu hoài niệm” (Nxb Hội nhà văn), cũng là tên của cuộc triển lãm.
Xem thêm
Đưa “Tình deagu” về Cánh đồng 41
Kỳ lạ thay, những ngày sau Tết, tôi bị thôi thúc mãnh liệt được trở về thăm Cánh đồng 41, nơi mấy mươi năm trước tôi được chị Út Một - Hội trưởng Hội Phụ nữ xã Tân Hòa - đích thân lái chiếc tắc ráng về ấp Tây, xã Tân Hòa tìm lại những nhân chứng còn sống sót sau trận thảm sát ngày 19/6/1967 (nhằm ngày 22 tháng 5 Đinh Mùi) cho quyển sách Lịch sử Phụ nữ tỉnh Long An.
Xem thêm
Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời.
Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm
Những con đường ký ức - Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Những con đường của Hội An là những sợi máu trong tôi. Chúng đã đi qua thời gian, chịu đựng bao thác ghềnh, nhiều lúc ngỡ tan biến như những bào ảnh của lãng quên để rồi cuối cùng vẫn lặng lẽ cất lên tiếng nói mơ hồ của ký ức, nhắc rằng đó là một phần không thể thiếu trong tôi.
Xem thêm