TIN TỨC

“Nỗi lòng người lính” – Thơ của ký ức sống sót

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-01-24 20:06:06
mail facebook google pos stwis
53 lượt xem

QUỐC TUẤN
(Cảm nhận tập thơ “Nỗi lòng người lính” của Trần Bá Dũng)

Chiến tranh, đặc biệt là chiến tranh kéo dài suốt thế kỷ XX, đã quét qua “tuổi trẻ” với những mơ ước niềm riêng rạn vỡ vì sự thể chung... Tuổi trẻ của nhiều thế hệ không kịp định hình đã bị ném thẳng vào bom đạn, buộc phải trưởng thành trong một nghi thức khắc nghiệt, nơi lý tưởng tập thể thường lấn át đời sống cá nhân – tất cả đã sớm trở nên phi thường và thiêng liêng. Tuy nhiên, từ điểm nhìn hậu chiến, khi tiếng súng đã lùi xa, ký ức về tuổi trẻ, về chiến tranh và về những gì đã mất không còn hiện lên trong giọng tráng ca, mà trở thành những nỗi niềm âm ỉ, day dứt, không dễ khép lại bởi những mất mát tang tóc. Trong mạch vận động đó của văn học Việt Nam, Nỗi lòng người lính của Trần Bá Dũng có thể được đọc như tiếng nói của một chủ thể đã đi trọn một vòng đời: từ chiến tranh…, từ tập thể trở về cá nhân, từ lý tưởng đến đời sống thường nhật luôn đeo mang bóng hình “hoa niên tuổi trẻ” gối đất nằm sương...

“Không tin nhắn

Không lá thư tay

Không cả dòng địa chỉ...

 

Chỉ gió mây hoang giăng lạnh đỉnh

Trường Sơn Tiếng bom nổ tan ra ngay lễ truy điệu sống

Khói hương cay hay mắt ta cay...

 

Khoác lá cờ vinh quang quyên mình cho

Tổ quốc Những đồng đội tôi và đêm dài treo mắt

Trận đánh cam go ai mất ai còn

 

Sự diệu kỳ mong manh nơi bão lửa

Bao nhiêu rồi nằm lại với cỏ cây

Và ngoài kia khi sáng mai thức dậy

Một mặt trời bất tử ngang qua.”

                         (Bất Tử)

Thơ Trần Bá Dũng không xuất hiện như một tiếng nói tìm cách chen vào trung tâm văn đàn, cũng không mang tham vọng làm mới thi pháp hay gây xáo trộn cảm quan tiếp nhận. Đó là thứ thơ đi ra từ ký ức, từ đời sống đã lắng cặn, nơi người viết hết thời hoa niên để mơ mộng, mà đã đi qua chiến tranh, trả giá và những năm tháng hậu chiến âm thầm những “khoảng lặng”. Vì thế, Nỗi lòng người lính trước hết là thơ của hồi cố, của một chủ thể đã sống đủ lâu để hiểu rằng có những điều không thể khép lại, chỉ có thể mang theo:

“…Con tạo xoay vần quy luật chia xa

Dòng mực tím nhạt nhòe lưu bút

Đêm chiến trường nhớ thương thao thức

Vần thơ ngập ngừng dang dở ngày qua

 

Ba lô trên vai kỉ niệm làm quà

Trang vở cũ vần thơ viết vội

Cảm xúc dại khờ nào đâu có tội

Ôi cái tuổi phượng hồng hờn dỗi với thời gian”

Chiến tranh trong tiếng thơ ấy không được kể bằng chiến công hay giọng sử thi, mà hiện diện như một trạng thái tâm lý kéo dài, nơi ký ức thường xuyên tràn về, xóa nhòa ranh giới giữa thực tại và quá khứ. Trong bài Ảo thực, người lính đứng giữa đời sống hiện tại nhưng tinh thần vẫn mắc kẹt trong sương khói chiến trường: “Ta vẫn đây là mơ hay thực / Nhân ảnh mờ hương khói cay cay”. Trạng thái “chênh chao đôi bờ” không chỉ là một cảm giác hoài niệm, mà là biểu hiện của khủng hoảng căn tính, khi chiến tranh đã đi qua nhưng chưa từng rời bỏ con người. Câu hỏi “Ta còn là ta?” vì thế vang lên như một tự vấn hiện sinh, cho thấy cái giá tinh thần mà người sống sót phải mang theo lâu dài hơn cả những vết thương thể xác.

Đồng đội, ký ức cá nhân hòa tan vào ký ức tập thể, tạo nên một không gian xót đau thấm lắng: “Đồng đội ơi… giờ đang ở nơi đâu / Thành Cổ, nghĩa trang hay dòng trôi Thạch Hãn”. Những địa danh tồn tại không còn xác định, mà trở thành biểu tượng cho sự tan biến không thể quy hồi. Đáng chú ý là giọng thơ không tìm cách khép lại nỗi đau bằng lời an ủi hay lý tưởng hóa hy sinh, mà để nó ở trạng thái mở, đúng với tâm thế của người còn sống – những người phải tiếp tục đời thường trong khi ký ức thì mãi mắc kẹt ở “tuổi đời đôi mươi”.

Nếu tình đồng đội thiêng liêng trên máu lửa chiến tuyến là miền ký ức không thể xóa, thì tình yêu và đời sống gia đình trong thơ Trần Bá Dũng là nơi con người bám víu để tồn tại. Nhưng đó không phải là tình yêu lãng mạn của tuổi mới lớn đầy mơ tưởng và mộng ước, mà là thứ tình cảm đã được thử thách bởi thời gian, lao động và trách nhiệm. Bài Vợ cho thấy một mỹ học đời thường rõ nét, nơi vẻ đẹp không nằm ở nhan sắc mà ở sự tảo tần: “Ừ thì mắt chẳng bồ câu / Ừ thì rám nắng da nâu cũng đành”. Người phụ nữ hiện lên với “ruộng nương cấy cày”, với những đêm “xâu đêm không ngủ bấm ngày nuôi con”, trở thành trụ cột tinh thần hơn là đối tượng ngợi ca. Chính sự giản dị, không tô vẽ ấy làm nên độ tin cậy cảm xúc cho thơ.

Trong những bài ca như Ước, Giá…, Không tuổi, chủ thể trữ tình thường quay nhìn quá khứ với một nỗi tiếc nuối điềm tĩnh. Ước mơ không còn mang dáng dấp lãng mạn bay bổng, mà co lại thành điều rất nhỏ nhoi: “Chỉ một thôi sau những gì được mất / Nắm tay nhau đến cuối con đường”. Ở đây, hạnh phúc không được định nghĩa bằng cao trào cảm xúc, mà bằng sự đồng hành – một quan niệm sống đã được gạn lọc qua mất mát.

Không gian quê hương trong thơ Trần Bá Dũng đóng vai trò như một miền trú ẩn tinh thần. Hương quê mở ra bằng những hình ảnh dịu nhẹ: “heo may nâng nhẹ cánh rèm / đâu đây hoa sữa lạc đêm ùa về”, để con người “chìm em nỗi đê mê / giữa hương hoa, giữa tình quê ngọt ngào”. Quê hương không chỉ là cảnh sắc mà là tiếng gọi căn cước: “Em có nghe biển gọi: / Về Hà Tĩnh mình ơi…”. Những địa danh như Đắc Uy, Thạch Hãn, Thành Cổ vì thế vừa mang tính địa lý, vừa là dấu mốc kí ức, nơi đời sống cá nhân hòa vào lịch sử cộng đồng.

Về phương diện nghệ thuật, thơ Trần Bá Dũng sử dụng hình ảnh quen thuộc, ngôn ngữ mộc mạc, vần điệu dễ tiếp cận, đôi chỗ còn an toàn, chưa thoát khỏi lối diễn đạt ước lệ. Tuy nhiên, chính sự không cầu kỳ ấy lại phù hợp với thế giới cảm xúc mà tác giả theo đuổi. Thơ không tìm cách gây ấn tượng bằng kỹ thuật, mà bền bỉ giữ lấy giá trị của sự chân thành. Nỗi lòng người lính vì thế không phải là tập thơ tạo ra tiếng vang ồn ào, mà là một dòng độc thoại trầm lắng, nơi người lính sau chiến tranh vẫn tiếp tục sống, yêu, nhớ và đối thoại với chính mình trong những khoảng lặng của đời thường.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhà văn Nhật Chiêu ra mắt tập thơ Nghìn nghi lễ tình
Vào lúc 09 giờ ngày 25 tháng 01 năm 2026, tại Nhà xuất bản Phụ nữ số 16 Alexandre de Rhodes, phường Sài Gòn, Thành phố Hồ Chí Minh sẽ diễn ra buổi giao lưu và ra mắt tập thơ “Nghìn nghi lễ tình” - chủ đề “Vòng mùa và vòng đời” của nhà văn, nhà nghiên cứu Nhật Chiêu.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Kim Dung mơ một ngày Kim Giang xưa trở lại
Bài cảm nhận của nhà thơ Xuân Trường về tập thơ Những dấu chân thơ vẫn ruổi rong của Trần Kim Dung.
Xem thêm
Khi tiểu thuyết là một bài thơ dài
“Lý do tôi viết tiểu thuyết là để bắt độc giả của mình đọc thơ” – chia sẻ của Nguyễn Phan Quế Mai trong tập podcast đầu tiên của Nhã Nam Reading Room gợi mở một cách nhìn thú vị về hành trình sáng tác của chị.
Xem thêm
Nhà văn Lưu Vĩ Lân và cuốn Cửu đảo: Tôi sợ chưa kịp kể hết những trải nghiệm!
Ở tuổi 66, nhà văn Lưu Vĩ Lân hoàn thành Cửu đảo - tác phẩm về Việt Nam năm 2039. Ông chia sẻ triết lý sống rồi mới viết, nỗi sợ chưa kịp kể những gì đã trải nghiệm.
Xem thêm
Công trình “Văn học giải phóng Miền Nam Việt Nam” – Một tư liệu lớn về văn học kháng chiến
Cuốn “Văn học giải phóng Miền Nam Việt Nam”, một công trình đồ sộ hơn 1.100 trang do Lê Quang Trang và Trần Thị Thắng biên soạn, xuất hiện như một nỗ lực quy mô nhằm hệ thống hóa toàn bộ di sản đặc biệt này.
Xem thêm
Thế trận và lòng dân: Góc nhìn lý luận và thực tiễn của Trung tướng Nguyễn Đức Hải
“Thế trận và Lòng dân” (*) – không chỉ là tên cuốn sách, mà còn là thông điệp xuyên suốt, là hai trụ cột then chốt mà tác giả muốn truyền tải.
Xem thêm
Đọc “Phong Ba biển tình” của Trung tướng Nguyễn Đức Hải
Bài giới thiệu sách của Đại tá nhà văn Trần Thế Tuyển
Xem thêm
Nhà văn Trương Anh Quốc duyên nợ với biển
Là một kỹ sư điện tàu vận tải biển và gắn bó nhiều năm với biển cả, nhà văn xứ Quảng Trương Anh Quốc vừa ra mắt cuốn “Trùng khơi nghe sóng”; đây là cuốn sách thứ 4 viết về biển của anh sau tiểu thuyết “Biển”, “Sóng” và tập truyện ngắn “Sóng biển rì rào”.
Xem thêm
“Mưa nắng Vũng Tàu” – Bản tình ca từ những vần thơ Đường Xoan
Bài viết của nhà thơ Nguyên Bình từ Bà Rịa Vũng Tàu
Xem thêm
Phan Nhật Tiến: “Lỡ làm nghiêng góc chiều phố núi”
Bài viết của nhà thơ Xuân Trường về tập thơ mới của Phan Nhật Tiến.
Xem thêm
Cuốn sách nhỏ về một “người lớn”
Bài viết của Đại tá Nhà thơ Trần Thế Tuyển về cuốn sách Nghĩ về anh
Xem thêm
Chủ tịch Hội Tĩnh mạch TP.HCM viết văn để giữ đầu óc tỉnh táo
Sau hơn một thập kỷ viết văn đều đặn, PGS.TS.BS Nguyễn Hoài Nam, Chủ tịch Hội Tĩnh mạch học TP.HCM, chính thức trở thành hội viên Hội Nhà văn và vừa ra mắt tác phẩm thứ 13.
Xem thêm
Xuân Trường say hai vệt nắng chiều
Với tập thơ này, những buổi chiều như ngưng đọng, nỗi xót xa đã lặn vào sâu, thăm thẳm chiêm bao.
Xem thêm
Đọc “Những năm tháng khốc liệt” –Nghĩ về phẩm chất bộ đội Cụ Hồ
Đọc Những năm tháng khốc liệt của Hoàng Phương, thêm một lần nữa, ta nhận diện cuộc chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc vừa khốc liệt vừa vinh quang.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Minh Ngọc ra mắt tiểu thuyết Miền cỏ tranh
Mới đây, nhân dịp ra mắt tiểu thuyết Miền cỏ tranh (NXB Quân đội nhân dân), Đại tá - Nhà văn Nguyễn Minh Ngọc đã có buổi gặp gỡ thân tình và ấm áp với đồng nghiệp tại TPHCM.
Xem thêm
Sống và yêu ở “Miền cỏ tranh”
Nguồn: Báo Thanh Niên, 23-6-2025
Xem thêm
Cuốn sách “Người giữ thời gian” đã chạm tới bạn đọc, lan toả giá trị yêu thương
Chỉ vỏn vẹn 2 tiếng đồng hồ, nhưng thông qua những chia sẻ trực tiếp của tác giả Lê Thị Thanh Lâm, nhiều thông điệp đã chạm đến bạn đọc, gợi mở thêm về giá trị tình thân.
Xem thêm