TIN TỨC

Nhà thơ Vũ Thiên Kiều, du ca ấy như thời gian thơm thảo | Phùng Văn Khai

Người đăng : vctphcm
Ngày đăng: 2023-05-03 19:26:47
mail facebook google pos stwis
1817 lượt xem

Vũ Thiên Kiều là một cây bút trẻ trung, sung sức ở Kiên Giang. Thân gái dặm trường, cô gái quê lúa xã Quỳnh Hoàng, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình từng là học sinh giỏi Văn toàn quốc năm 1985 bây giờ đã đằm thắm dịu dàng dân mến dân thương trong Ban Dân vận huyện Hòn Đất nơi biên giới Tây Nam Tổ quốc. Không ai nghĩ Vũ Thiên Kiều đã vào độ tuổi năm mươi càng không ai nghĩ Kiều đã đạt nhiều giải thưởng văn chương uy tín, xuất bản các tập thơ dày dặn ngân vang, viết những truyện ngắn thăm thẳm nỗi người mà câu văn xanh thắm.

Nhà thơ Vũ Thiên Kiều

Chúng tôi, các nhà văn quân đội có việc gì đất phương Nam thường lập tức tìm tới Vũ Thiên Kiều. Khi là mời nàng thơ đi trại viết như một thỏi nam châm hút các anh chàng Bắc - Trung - Nam hào hứng tới trại; lúc giao cho Kiều nhiệm vụ kết nối, thực hiện những thao tác của Ban Tổ chức, Kiều đều xuất sắc hoàn thành. Kiều dẫn chương trình trong các cuộc tọa đàm, giao lưu đều ân tình, sáng tạo. Kiều đọc thơ cho bộ đội nơi tận cùng biên giới cháy hết mình như ngọn lửa tuổi đôi mươi... Vũ Thiên Kiều là vậy, nàng thơ Hòn Đất - Kiên Giang luôn cống hiến hết mình cho thi ca, bè bạn và cuộc sống. Mười năm không gặp vẫn như in một tấm lòng không suy suyển. Gặp mặt hôm trước hôm sau điện thoại từ xa hay trò chuyện thật gần vẫn là một Vũ Thiên Kiều đắm say, mới mẻ và đầy tin yêu cuộc sống. Bởi vậy chăng mà thơ Vũ Thiên Kiều luôn dài rộng, mênh mang: Trên đỉnh dốc xông xênh nắng gió/ ngời ngợi sắc xuân/ có chút nào trầm tư về chân dốc/ thuở mồ hôi bầu bạn những âu lo... (Đỉnh dốc); nhưng rất suy tư: Giọt mồ hôi túa trên gương mặt người thợ/ nhúm méo mặt đời cho phẳng phiu từng phiến đá/ vuông thành sắc cạnh/ dịu êm xinh lối nhỏ (Lòng đá); còn vô cùng tinh nghịch: Dông dốc sông Văn/ lồng tồng bụng chữ/ áo ngủ sấn khuy cài... người về thánh thót chiều chuông/ nết dạ nết làng/ vân vân giếng nước (Điềm sen); mới mẻ đầy chiêm nghiệm: Chiếc bánh luộc bằng lửa nhớ/ đỏ than đếm hơi thở em/ cuộn chăn một, hai, ba/ mớ hoa giấy cười đêm sang ngày (Ngụm nước nằm ngang); và ngang tàng thanh thoát: Ánh mắt anh nhốt nắng quái ngang đường/ sương nâng đôi chân mềm em/ bay bay mùa mật... ánh mắt anh bời bời cầu Ô Thước/ cát cuộn bụi tròn/ đôi sam dìu nhau (Mật mùa)...

Thơ Vũ Thiên Kiều như cuộc sống của chính con người Hòn Đất - Kiên Giang. Mà rộng hơn, mông mênh hơn bởi những đắng cay cuộc đời không một riêng ai mà tất cả chúng ta thảy đều phải đón nhận. Vũ Thiên Kiều lúc nào cũng cười thật tươi, mau mắn và lí lắc nhưng đủ thông minh cũng như đủ khù khờ trong tất thảy các câu chuyện văn chương. Hôm gần đây thôi, khi gặp nhà thơ Hoài Vũ ở Sài Gòn, tôi cứ tưởng nhắc đến Vũ Thiên Kiều chắc gì tác giả Hương tràm, Vàm Cỏ Đông, Vàm cỏ Tây... biết tới bậc hậu sinh mà ông lại rất rành thơ của Kiều còn bảo các nhà thơ trẻ, nhất là các nữ nhà thơ đất phương Nam hiện nay tài tình lắm. Tôi im lặng bởi những gì không nói ra cũng là cần thiết. Như thi ca cũng vậy, chớ có nói hết ra. Ví như là Phơi lá đỏ mong mùa đựng chín/ ruột nối một dây/ căng/ đứt đoạn giữa chừng (Búi chổi mắt anh); Nôi thở trong váng đèn dầu đỏ/ mầm tre chồi lên từ gò đất/ mẹ sinh em (Sấm chớp phù sa); Anh về đầy chén cơm hơn/ trăng non/ già/ khuyết/ dỗi hờn.../ mặc trăng (Anh về)... thì rõ ràng những gì chưa nói hết ra mới là ngân vọng vậy.

Tôi đã từng được làm “học trò” của Vũ Thiên Kiều với tư cách học viên hẳn hoi, thi cử hẳn hoi. Cuộc ấy chỉ có một học viên và tôi chỉ thi với chính mình mà chánh chủ khảo là Vũ Thiên Kiều. Cuộc ấy ở trại viết Đồng Tháp do tôi là trại trưởng. Tôi tự thi với chính mình. Tôi bảo: “Kiều ơi! Một trại trưởng, một trưởng ban Thơ như mình mà không làm thơ còn mặt mũi gì nữa. Cuộc này thím phải giúp ta mới được”. Vũ Thiên Kiều tưởng tôi giỡn chơi bèn nói: “Không! Anh cũng có vẻ biết làm thơ thật đấy. Hôm bọn em đưa chùm lục bát lên trang cũng có dăm bảy cụ lão tám, chín mươi bình phẩm ra trò”. Tôi nghiêm ngắn: “Thím đừng có mắng ta tội nghiệp. Cuộc này xa bia rượu vợ con tất thành chính quả thơ ca”.

Hôm sau, tôi gửi chánh chủ khảo Kiều bài thơ Hỏi sen: Sen ơi, sen bao nhiêu tuổi/ mãi thơm sâu nụ hôn đầu/ Sen ơi áo ta sao bạc/ mồ hôi ủ vết chân trâu/ Tơ vạc tàn ngày mưa lạnh/ âm thầm nhóm lửa mặt sông/ Tóc đèn tận đêm ngậm bóng/ kín nỗi sương sa trùng trùng/ Tiếng hót vun chân trời hoa/ hồn nụ tượng hình mấy trắng/ Hàng cây âm âm đội sóng/ trang nghiêm lệ mạn mạn thuyền/ Vách đá trĩu câm vai biển/ khô khuya gõ vết sông bầm/ Nỗi hỏi vang sâu thinh lặng/ cao xanh một giọt sen buông.

Giám khảo Kiều đọc rất kỹ, trầm ngâm rồi trang nghiêm phán: “Hỏng! Thơ của ai chứ không phải của anh. Chung chung quá. Chữ nghĩa vặn vẹo quá”.

Ngày hôm sau, tôi lại trình giám khảo Kiều bài Thơm sen: Mười ba tuổi/ tắm ao sen/ em ửng áo cầu ao/ sen nghiêng bẽn lẽn/ Mười tám tuổi/ tạ sen vào tiếng súng/ em hẹn dấu chim trong/ lấm tấm cau mừng/ Mười năm đằng đẵng sen khuya/ thức xanh hương nhụy/ Anh về - tấm giấy/ tiếng mõ chùa tự bấy thơm sen.

Lần này thì cô giáo Kiều hơi ngước mắt lên thong thả nói: “Tạm được! Bắt đầu có ý tứ nhưng nhất định phải cố lên”.

Tôi không tự ái. Thế là may mắn lắm rồi. Làm văn chương hơi tí tự ái chỉ là xách dép cho thiên hạ.

Ba ngày sau, tôi lại trình ra bài Sen cởi áo: Hé chồi nghiêng lung/ Mưa mừng chấp chới/ Chúm chím hương bung/ Xanh ngần tơ tuổi/ Bung biêng đá sỏi/ Thắm thẹn then xanh/ Lụa gầy thức nhụy/ Chớp lóa gõ cành/ Riết phồng ngát ngọt/ Gió nhức mùa non/ Trăng mưng tở mở/ Núm thơm nghiên son/ Nhiên trong tơ tóc/ Buông cởi sơ sương/ Ngực hoan khỏa khép/ Muốt bờ mây vương.

Quá tam ba bận, giám khảo Vũ Thiên Kiều lần này biết rằng không khen “học trò” cũng không ổn bèn căng mắt nhìn mãi rồi bảo: “Cái câu Núm thơm nghiên son có vẻ đường được. Từ rày trở đi, anh hoàn toàn có thể làm thơ”.

Cuộc ấy với tôi quả là một thử thách nhớ đời.

Vũ Thiên Kiều đến với thơ nghiêm túc còn có phần nghiêm khắc với chính bản thân mình. Phải vậy chăng mà chặng đường bền bỉ ba mươi năm không chút hụt hơi càng đi càng xum xuê gốc cành hoa lá. Vô số những quả chín mùa yêu hạt vàng siêng nhặt đã đậu xuống hai vai Vũ Thiên Kiều. Nào riêng gì những rong chơi mới nên cơ nghiệp mà chính yếu là sự làm lụng, chắt chiu, thương buốt đến tận cùng mỗi cánh hoa rơi. Thơ Kiều tình ẩn đằng sau chữ, nghĩa mở mang từ những đóng khép câu từ. Có những câu đọc thấy tưng tức mà đọc đi đọc lại thấy thực là mới chữ mới nghĩa cũng là một cách đóng góp của nàng thơ. Ở những chỗ như vậy chớ có lườm nguýt so sánh làm gì. Đời người đời văn chương vốn dài dằng dặc sá gì câu chữ gập ghềnh đôi lúc đánh đố nhau cũng là mến yêu nhau vậy.

Đừng tưởng Vũ Thiên Kiều không dám viết những khúc thơ dằng dặc miên man. Để đưa ra những thông điệp có ích cho đời sống dưới con mắt thơ, Vũ Thiên Kiều đã dám tự mình làm nhà triết học một cách khúc chiết ngọn ngành lắm: Kiến không có cánh để bay. Dường như nó hiểu mỗi cuộc du hành thì xác suất của sự an toàn trở về tổ là rất thấp. Thế nên, nó miệt mài tìm những con đường ngoằn nghèo thậm chí là có địa hình hiểm trở để mỗi lần ra đi lại nguyên vẹn ngày trở lại... Nếu lúc xuất hành ra đi gian khổ một thì nẻo về còn khó khăn vất vả gấp trăm lần. Kiến phải gồng mình lên để kéo hạt gạo đi theo hướng giật lùi, kéo chán thì đẩy, đẩy chán lại ngoạm ngang eo hạt gạo mà tiến. Đây thật sự là một cuộc chiến thử thách tính kiên trì của Kiến. Vừa thồ vừa quan sát chọn lối đi an toàn cho tính mạng và tài sản vừa nhặt được. Cứ thế cứ thế Kiến đi. Có ai đồng hành cùng với Kiến? Có ai nhìn thấy nó lúc hoàn thành sứ mệnh khi đặt chiến lợi phẩm nằm gọn trong tổ. Rồi như không biết mệt mỏi, cũng không kể lể báo cáo thành tích, nó lại âm thầm hối hả với chuyến tiếp theo. Một câu hỏi chợt nảy ra: Kiến có ngủ không nhỉ? Chỉ thấy nó rất cần mẫn lao động, cần mẫn lao động một cách đáng nể. Và sự nỗ lực của những bàn chân, bàn tay bé xíu như không thể bé hơn được nữa đã viết lên câu ca dao để đời mà ai cũng thuộc lòng: “Kiến tha lâu đầy tổ” (Con đường của Kiến).

Đó chính là một du ca - du hành chữ nghĩa thảo thơm đầy đặn lắm thay.

Đó cũng là những định luận ngàn đời không bao giờ ngưng nghỉ.

Đó cũng là một trở về trong một ra đi.

Như một trở về trong một ra đi, thơ và nàng thơ Vũ Thiên Kiều đã không là của riêng ai đơn nhất nhưng cũng thật riêng của chính Kiều. Một trở về trong một ra đi, du ca ấy như thời gian thơm thảo trong những hạt vàng siêng nhặt tháng năm.

P.V.K

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nguyễn Khoa Điềm - Người mang “Đất Nước” vào lòng thi ca
Trong dòng chảy của văn học Việt Nam hiện đại, hiếm có nhà thơ nào lại hòa quyện sâu sắc giữa tâm hồn nghệ sĩ và trách nhiệm công dân, giữa khát vọng cách mạng và nỗi niềm truyền thống như Nguyễn Khoa Điềm. Ông không chỉ là một chính khách từng giữ những trọng trách cao của đất nước, mà trước hết và hơn hết, ông là một thi sĩ - người đã khắc họa hình tượng Đất Nước bằng một thứ ngôn ngữ vừa bình dị, gần gũi, vừa thiêng liêng, sâu lắng, đi vào tâm thức của nhiều thế hệ.
Xem thêm
Nguyễn Huy Bang: Một đời làm thầy, làm thợ… làm tớ văn chương
Trong làng văn Việt Nam hôm nay, có những người viết lên từ những gì xa xôi, mộng ảo; nhưng cũng có những người chỉ biết cặm cụi viết bằng xương máu, bằng mồ hôi và cả những vui buồn của một đời lính, một đời làm báo, một đời “làm bà đỡ” cho những tác phẩm của người khác. Đại tá, nhà văn Nguyễn Huy Bang thuộc về dạng thứ hai.
Xem thêm
Đại tá Nguyễn Văn Hồng: Gìn giữ ký ức chiến tranh trên từng trang viết
Dù đã hơn 80 tuổi, 26 năm “gác súng, cầm bút”, Đại tá, nhà văn Nguyễn Văn Hồng vẫn luôn tràn đầy năng lượng, lạc quan, yêu đời, khát khao được dùng ngòi bút của mình để gìn giữ ký ức, nhắc nhớ thế hệ trẻ về giá trị của hòa bình.
Xem thêm
Lâm Bình: Người đàn bà đi nhặt cát giữa biển đời
Lâm Bình từng là người lính văn công Quân Giải phóng, sau đó là nghệ sĩ kịch nói, nữ sĩ Lâm Bình bước vào thi đàn với một tâm hồn đa cảm và đầy khát khao.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu - Màu hoa đỏ đã mây bay
Bỗng buổi sáng mùa xuân nay mùng tám tháng tư trĩu nặng dù tiết trời trong mát, cao xanh. Hai vầng hoa đại Nhà số 4 thong thả cánh hoa đậu xuống thềm gạch cổ. Một ngày rất bận rộn khi tôi được giao tiếp đoàn kiểm tra giám sát của Tổng cục Chính trị với Đảng ủy Văn nghệ Quân đội. Sáu Chi bộ với khối lượng công việc khá lớn đan xen nhau thực hiện việc giám sát vốn đòi hỏi phải rất tỉ mỉ, chặt chẽ, đúng quy trình, từng bước một.
Xem thêm
Vân Thanh – Người đầu tiên viết nghiên cứu về văn học thiếu nhi Việt
Ở tuổi 93, nhà văn Vân Thanh là người cuối cùng của thế hệ các nhà văn tiền bối của Văn học thiếu nhi Việt Nam đã từ giã chúng ta để về nơi an nghỉ cuối cùng.Nhớ sao những ngày xưa ấy, một thời vàng son, cả một lớp các nhà văn sáng tác cho trẻ em nổi tiếng như: Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng, Đoàn Giỏi, Võ Quảng, Phạm Hổ, Nguyễn Kiên, Định Hải, Phong Thu, Trần Hoài Dương, Hà Ân, Vũ Hùng, Xuân Quỳnh… Tất cả đều sung sức, đều vui tươi, yêu trẻ em và viết cho các em.
Xem thêm
Trịnh Công Sơn - Tiếng hát không cũ trước chiến tranh
Nhân 25 năm ngày Trịnh Công Sơn rời cõi tạm, nhìn lại di sản của ông không chỉ là những ca khúc đi cùng năm tháng, mà còn là một tiếng nói nhân văn chưa bao giờ cũ trước những cuộc chiến vẫn đang hiện hữu.
Xem thêm
Lại Văn Long và hành trình “Hồ sơ lửa”: Đời sống hóa thành văn chương
Qua chương trình này ta không chỉ gặp một nhà văn, mà còn gặp một người làm báo — người ghi chép đời sống bằng tất cả trải nghiệm và trách nhiệm của mình. Xin mời bạn cùng xem, như một cách hiểu thêm về lao động chữ nghĩa phía sau những trang viết tưởng như đã quen thuộc.
Xem thêm
Nhà thơ tuổi Bính Ngọ Đinh Nho Tuấn, ai gõ vào hồn phách?
Bước vào thi đàn khi đã ở tuổi ngũ tuần, Tiến sĩ Đinh Nho Tuấn không chọn cách đi thong dong mà quyết liệt bùng nổ với một năng lượng cảm xúc dồn nén suốt nửa đời người.
Xem thêm
Nhà thơ Bruce Weigl: “Không có cách nào đẹp hơn để tôn vinh văn hóa và đất nước mình bằng nghệ thuật và thi ca”
Nhà thơ Bruce Weigl (SN 1949) được biết đến là một nhà thơ đương đại có tầm ảnh hưởng lớn ở Mỹ. Ông cũng là một dịch giả, giáo sư đại học và là tác giả của hàng chục tập thơ riêng và cuốn hồi kí nổi tiếng mang tên “Vòng tròn của Hạnh”. Bruce Weigl là một trong 2 cựu chiến binh Mỹ đã được Tổng Bí thư Tô Lâm trực tiếp trao tặng Huân chương Hữu nghị năm 2024, vì sự đóng góp tích cực cho việc quảng bá, giới thiệu văn học Việt Nam ra thế giới và góp phần xây dựng nhịp cầu hữu nghị giữa Việt Nam và Mỹ.
Xem thêm
Trịnh Bích Ngân: Người nối dài những câu chuyện
Nhà văn Trịnh Bích Ngân hiện là Ủy viên Ban thường vụ Hội Nhà văn Việt Nam, Chủ tịch Hội Nhà văn TP.Hồ Chí Minh. Hành trình của chị không chỉ là hành trình của một cây bút đa tài, mà còn là hành trình của một người “giữ lửa” và “kết nối” không mệt mỏi cho văn chương.
Xem thêm
Tiểu thuyết Ngô Vương và dấu mốc Bạch Đằng
Chúng ta là công dân trong thời đại Hồ Chí Minh, trong thời đại số này chúng ta càng phải hiểu sâu sắc những bài học từ lịch sử như vậy. Chúng ta có hiểu chúng ta mới giáo dục được con cháu chứ. Chúng ta còn lờ mờ không hiểu rồi cũng không có hành động gì, làm gì cũng lười nhác, cống hiến thì ngại, so sánh rồi ganh ghét với các khu vực khác là người ta thế này thì tôi chỉ thế thôi... Chúng ta không cống hiến về thời gian về trí tuệ, vật chất thì đời nào có sự hào hùng về sau, mãi mãi sẽ tụt hậu, lại trở thành thu nhập thấp, trở thành bị lệ thuộc, lại thành không đáng có thì lấy đâu ra sự hào hùng dân tộc nữa? Cho nên tôi nghĩ rằng, bằng sức vóc của mình, bằng trí tuệ, niềm tin, bằng khả năng của mình, tôi đề nghị, đặc biệt là lớp trẻ chúng ta tự hào không thể tự hào suông được, tự tin không thể tự tin suông được, phải hành động bằng trí tuệ, khát vọng và sự cống hiến của mình thật tốt để tiếp tục xứng đáng với tổ tiên.
Xem thêm
Hành trình Chạm và gợi mở...
Cầm trên tay, ngắm, nhìn, chầm chậm lật giở từng trang LookBook Quảng Bình Đông Xuân, cuốn sách theo phong cách Travel Lookbook (sách ảnh du lịch) đầu tiên của Việt Nam; dành thời gian tiếp xúc, làm việc với nhóm thực hiện nội dung, nhất là người chịu trách nhiệm chính Mai Trịnh (Trịnh Thị Phương Mai), tôi có thêm góc nhìn về những người trẻ không ngại đầu tư lớn, khao khát sáng tạo, cống hiến và ghi dấu ấn riêng để tạo nên những giá trị nhân văn cho cộng đồng.
Xem thêm
Nam Hiệp và 300 cuộc hẹn với thi ca trên làn sóng phát thanh
Khi THI CA ĐIỂM HẸN chạm mốc số 300, đó vừa là một con số đáng nhớ của một chương trình phát thanh và là dấu mốc của một chặng đường bền bỉ, kiên định và đầy trách nhiệm với thơ ca Việt Nam đương đại.
Xem thêm
Đại tướng Lê Văn Dũng – Một “ông già Nam bộ”
Bài viết của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển.
Xem thêm