TIN TỨC

Thơ Xuân Diệu và tình yêu cuộc sống, yêu nhân dân

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-08-18 11:41:57
mail facebook google pos stwis
3019 lượt xem

(Kỷ niệm 90 năm phong trào Thơ mới, 1932-2022)

Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, Xuân Diệu đến với cuộc đời mới trong niềm vui chào đón, hồ hởi. Một chặng đường mới, những đóng góp mới tiêu biểu nhất trong những năm đầu Cách mạng tháng Tám là Ngọn quốc kỳ và Hội nghị non sông. Xuân Diệu gọi đó là những trường ca “viết bằng hồn”, khi tâm hồn gắn với đất nước và nhân dân, và đất nước đã bước sang trang sử mới. Tứ thơ, lời thơ toả sáng mà ấm áp với bao cảm xúc yêu thương, trân trọng, ngợi ca những biểu tượng về cuộc sống, con người của đất nước mới hồi sinh.


Nhà thơ Xuân Diệu (1916-1985)

Xuân Diệu cảm kích với ngày hội non sông “Giòng giống Việt thật hả lòng, hả dạ!” và tác giả thắm thiết ngợi ca: Hội này đây mặt trời dọi với trăng/Cả dân tộc đứng hiên ngang nhật nguyệt/ Đất trường cửu ngắm với trời với đất/ Nói vô cùng còn mãi nước muôn năm./ (Hội nghị non sông).

Ngoài ra phải kể đến những bài thơ đả kích. Càng thiết tha yêu cuộc đời mới càng căm thù những kẻ phá hoại cuộc sống yên lành. Bọn Quốc dân đảng đảo điên tìm mọi cách phá hoại cách mạng. Cách mạng được dân bảo vệ. Chúng hô hào tổng đình công nhưng chợ vẫn họp, cửa hàng vẫn mở. Xuân Diệu viết bài Tổng… bắt đình công để phản đối bọn phản động.

Tổng đình công đấy, nghĩ mà thương/ Phố đóng sao mà cửa mở toang?/ Tàu điện long cong ra vẫn chạy/Đồng Xuân ầm ĩ họp như thường!/ Tổng đình công hỡi, tổng đình công!/Dân chúng sao mà xỏ chúng ông?/ Tưởng chắc được dân nên mới tổng/ Mà dân không được thế là tong./ (Tổng… bất đình công).

Xuân Diệu vốn không phải là nhà thơ châm biếm. Trước Cách mạng chủ yếu là nhà thơ của tình yêu, tình thương, nỗi buồn nhưng trong một số bài văn viết về người cạo giấy ở văn phòng, viết về một số kẻ lang thang cơ nhỡ kể cả viết về loài vật cũng đã mang ít nhiều chất châm biếm. Có sống những ngày tháng Tám ở Hà Nội mới thấy hết không khí cách mạng của quần chúng và cả thái độ của bọn phản cách mạng. Nhưng cách mạng đã vững bước đi lên, trái tim của Xuân Diệu rạo rực tuổi thanh niên. Chào đón cách mạng ở tuổi 27 nhưng tấm lòng Xuân Diệu đã đến với cách mạng từ phong trào Việt Minh những năm 1943-1944. Anh chứng kiến không khí chuẩn bị chiến tranh của Hà Nội và càng cảm phục: Đất đào xuống cho biết lòng mỗi phố/ Sắt trồng lên, cây ngã xuống ngang tàng,/ Đây rầm rầm đêm 19 hiên ngang/ Hà Nội đứng với cả lòng biển lửa./ (Thủ đô đêm mười chín).

Xuân Diệu thiết tha yêu cuộc sống. Nếu trước đây là lòng yêu đời qua tình yêu lứa đôi, yêu thiên nhiên thì nay tình yêu cụ thể hơn, yêu đất nước, cuộc sống, con người. Bài thơ Trở về viết nhân kỷ niệm Cách mạng tháng Tám mang không khí yêu đời đó, rất thiết tha và tươi thắm: Cũng bởi vì tôi nhớ, tôi mong/ Một sớm mai hồng tôi sẽ lên đường trở lại/ Giữa vũ trụ nhân gian trong gia đình xã hội/ Giữa quốc gia nhân loại trong thế giới hoà bình/ Một sớm mai hồng, vắng một bình minh/ Xanh mắt trẻ em/ Hồng môi thiếu nữ./ … Tôi phải về nghe dự nhạc đoàn viên/ Nhân loại mới nói cười như trẻ nhỏ./ (Trở về).

Xuân Diệu thích nói đến nhân loại mới với niềm hân hoan chào đón:Trong lúc tầm lên nhân loại mới/ Lòng tôi như thể chiếc nong xanh.

Nhân loại mới như lúa tằm đang lên; nhân loại mới nói cười như trẻ nhỏ… cũng chính là nói một phần cho mình. Mình như trẻ lại, hoà nhập với số đông. Và có những câu thơ của Xuân Diệu chân tình đến vồ vập:Trời ơi quần chúng hóa tình nhân/ (Mê quần chúng).

Xuân Diệu đến với quần chúng từ những ngày đầu cách mạng và cảm thấy chất thơ phải được khơi nguồn từ cuộc đời mới: Có một suối thơ chảy từ gần gũi/ Ra xa xôi và lại đến gần quanh/ Một suối thơ lá ngọt với hoa lành/ Nói trong xóm và giỡn cười dưới phố/ (Nguồn thơ mới).

Và Xuân Diệu yêu cái bình dị của cuộc đời. Chẳng có gì thật cao xa mà sao gần gũi: Đời đáng yêu nhiều lúc có gì đâu/ Miếng ván chênh vênh giữa nhịp cầu/ Một buổi chiều sương nghe chó sủa/ Sân hè thóc trải lượn bồ câu./ Và thật đáng yêu hương vị của làng quê:/Cái nắng ồ lên trong tiếng lá/ Một làn gió nhẹ thoảng hương cau.

Và điều quan trọng nhất là cách nhìn cuộc sống. Phải nhìn đời với con mắt tin yêu lòng không u ám, trí không mất phương hướng.

Hãy nhìn đời bằng đôi mắt xanh non/ Hãy để trẻ con nói cái ngon của kẹo/ Hãy để cho bà nói má thơm của cháu/ Hãy nghe tuổi trẻ ca ngợi tình yêu/ (Đôi mắt xanh non).

Sau Cách mạng tháng Tám được sống với tư cách công dân, tấm lòng nghệ sĩ là tấm lòng công dân nên cảm hứng với đất nước không làm sao nói hết được: Việt thanh thanh, Việt sắc sảo mặn mà: Miền Trung Bộ như vòng cung sắp bắn/ Dáng em Nam mềm mại chiếc chân giò/ Chị Bắc bộ cánh quạt xoè tươi tắn/ Ba vẻ cùng biêng biếc một màu tơ/ (Việt muôn đời).

Đó là những lời ca, tiếng nói buổi đầu đến với cách mạng. Có một cái gì đó gần gũi, non tơ, đằm thắm như mối duyên đầu:Cái thuở ban đầu Dân quốc ấy/ Nghìn năm chưa dễ mấy ai quên!

Và tình cảm ban đầu ấy ngày càng sâu đậm thiết tha qua năm tháng. Đi vào kháng chiến là quá trình quần chúng hoá của Xuân Diệu. Mỗi nhà thơ có một cách quần chúng hoá. Tố Hữu từ Từ ấy đã bộc lộ xu hướng quần chúng hoá trong Từ ấy với dân nghèo thành thị. Với Tiếng hát trên đê, anh đã quần chúng hoá với nông dân và càng gắn bó với nông dân cách mạng qua Bầm ơi, Bà mẹ Việt Bắc và cao nhất là trong bài Việt Bắc. Xuân Diệu quần chúng hoá với chùm thơ phát động. Xuân Diệu đến với quần chúng sớm nhưng giai đoạn sau có chững lại. Chùm thơ phát động là chùm thơ viết với tấm lòng thương cảm chân tình với người nông dân, với tấm lòng cảm phục. Bà cụ mù loà tìm đến được với ánh sáng mới: Mẹ dù đau đớn mù loà/ Ánh xuân sẽ dọi chan hoà tâm can.

Có lẽ trong những bài thơ viết về phát động quần chúng và cải cách ruộng đất thì những bài thơ của Xuân Diệu vẫn đứng lại được. Trở về với nhân dân là quá trình chuyển biến về nhận thức và tình cảm của tất cả các nhà thơ mới. Mỗi người quần chúng hoá theo một cách riêng. Huy Cận tiến hành quá trình quần chúng hoá từ những năm đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Huy Cận đi chậm hơn nhưng lại có nhiều thành tựu đáng kể. Về với vùng mỏ, gắn bó với đời thơ, Huy Cận đã có một mùa thơ bội thu với các tập thơ Trời mỗi ngày lại sáng, Đất nở hoa và Bài thơ cuộc đời. Còn Chế Lan Viên thì bắt đầu quá trình quần chúng hoá trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Theo Xuân Diệu thì “trước Cách mạng, thơ của Chế Lan Viên lạnh, không ấm bằng Hàn Mạc Tử. Có một số bài tình cảm ấm áp nhưng Chế Lan Viên vẫn dựa chủ yếu vào óc! Thơ của Chế Lan Viên là thơ của óc”. Ánh sáng và phù sa là tập thơ bộc lộ rõ rệt nhất quá trình đi từ chân trời một người đến chân trời tất cả”. Chế Lan Viên nói lên nỗi buồn cô đơn và quyết tâm “Phá cô đơn ta hoà hợp với người”. Chế Lan Viên hiểu rõ ngọn nguồn, ánh sáng đã soi rọi và phù sa bồi đắp cho tâm hồn tác giả trong cuộc đời mới. Với Xuân Diệu trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp có một giai đoạn bế tắc, khó viết khoảng từ 1949-1953. Lúc này, Xuân Diệu cảm thấy đứng trên lập trường cái tôi không ổn nữa. Bị khủng hoảng. Tập Dưới sao vàng cũng chìm chìm không gây ấn tượng gì: Kéo dài tâm trạng lênh đênh/ Sống mà lắm lúc như mình bỏ đi.

Khu 4 lúc đó không khí sáng tác có màu sắc riêng đô hội. Cuộc chỉnh huấn 1953 của văn nghệ sĩ đã đem lại cho Xuân Diệu ánh sáng mới: Bước đầu tuy chưa là bao/ Nhưng nghe đã rộng đã cao vô ngần.

Tập Riêng chung ghi nhận những bước phát triển về tư tưởng của Xuân Diệu. Xuân Diệu chân tình ngợi ca cuộc sống mới “tôi thẳng thắn ngợi ca nền chuyên chính”. Xuân Diệu muốn đấu tranh chống lại con người xưa cũ của mình, con người hay bi lụy, bùi ngùi, con người chạy theo hư danh, lá mặt lá trái “hai mặt người trên một mặt người ta”. Tấm lòng của nhà thơ với cuộc đời mới như trái tim hồng, Một khối hồng đau đáu trong tim.

Những câu thơ đẹp của Xuân Diệu ngợi ca đất nước và nhân dân: Lòng yêu cuộc sống với nhân dân/Mạnh mẽ vươn xa lại toả gần/ Đêm hoá làm sương ôm mặt đất/ Ngày là nắng ấm giục mùa xuân.

Theo dõi bước đi của nhà thơ cách mạng càng thấy nhà thơ với quần chúng cách mạng là một, ngày càng gắn bó. Như một phương châm, một tâm sự có tính chất tuyên ngôn: Tôi cùng xương thịt với nhân dân tôi/ Cùng đổ mồ hôi, cùng sôi giọt máu/ Tôi sống với cuộc đời chiến đấu/ Của triệu người yêu dấu gian lao.

Cuộc đời thơ của Xuân Diệu mở đầu là những trang thơ lãng mạn nhưng bộc lộ sâu sắc khát vọng tự do và tình yêu vươn tới cái đẹp mộng tưởng. Nửa chặng đường sau thơ Xuân Diệu trở về với cuộc đời thực, gắn bó với Tổ quốc, nhân dân và mang những phẩm chất mới cao đẹp mà thơ Xuân Diệu chưa thể có được trong trường thơ lãng mạn.

Hà Minh Đức

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhà thơ tuổi Bính Ngọ Đinh Nho Tuấn, ai gõ vào hồn phách?
Bước vào thi đàn khi đã ở tuổi ngũ tuần, Tiến sĩ Đinh Nho Tuấn không chọn cách đi thong dong mà quyết liệt bùng nổ với một năng lượng cảm xúc dồn nén suốt nửa đời người.
Xem thêm
Nhà thơ Bruce Weigl: “Không có cách nào đẹp hơn để tôn vinh văn hóa và đất nước mình bằng nghệ thuật và thi ca”
Nhà thơ Bruce Weigl (SN 1949) được biết đến là một nhà thơ đương đại có tầm ảnh hưởng lớn ở Mỹ. Ông cũng là một dịch giả, giáo sư đại học và là tác giả của hàng chục tập thơ riêng và cuốn hồi kí nổi tiếng mang tên “Vòng tròn của Hạnh”. Bruce Weigl là một trong 2 cựu chiến binh Mỹ đã được Tổng Bí thư Tô Lâm trực tiếp trao tặng Huân chương Hữu nghị năm 2024, vì sự đóng góp tích cực cho việc quảng bá, giới thiệu văn học Việt Nam ra thế giới và góp phần xây dựng nhịp cầu hữu nghị giữa Việt Nam và Mỹ.
Xem thêm
Trịnh Bích Ngân: Người nối dài những câu chuyện
Nhà văn Trịnh Bích Ngân hiện là Ủy viên Ban thường vụ Hội Nhà văn Việt Nam, Chủ tịch Hội Nhà văn TP.Hồ Chí Minh. Hành trình của chị không chỉ là hành trình của một cây bút đa tài, mà còn là hành trình của một người “giữ lửa” và “kết nối” không mệt mỏi cho văn chương.
Xem thêm
Tiểu thuyết Ngô Vương và dấu mốc Bạch Đằng
Chúng ta là công dân trong thời đại Hồ Chí Minh, trong thời đại số này chúng ta càng phải hiểu sâu sắc những bài học từ lịch sử như vậy. Chúng ta có hiểu chúng ta mới giáo dục được con cháu chứ. Chúng ta còn lờ mờ không hiểu rồi cũng không có hành động gì, làm gì cũng lười nhác, cống hiến thì ngại, so sánh rồi ganh ghét với các khu vực khác là người ta thế này thì tôi chỉ thế thôi... Chúng ta không cống hiến về thời gian về trí tuệ, vật chất thì đời nào có sự hào hùng về sau, mãi mãi sẽ tụt hậu, lại trở thành thu nhập thấp, trở thành bị lệ thuộc, lại thành không đáng có thì lấy đâu ra sự hào hùng dân tộc nữa? Cho nên tôi nghĩ rằng, bằng sức vóc của mình, bằng trí tuệ, niềm tin, bằng khả năng của mình, tôi đề nghị, đặc biệt là lớp trẻ chúng ta tự hào không thể tự hào suông được, tự tin không thể tự tin suông được, phải hành động bằng trí tuệ, khát vọng và sự cống hiến của mình thật tốt để tiếp tục xứng đáng với tổ tiên.
Xem thêm
Hành trình Chạm và gợi mở...
Cầm trên tay, ngắm, nhìn, chầm chậm lật giở từng trang LookBook Quảng Bình Đông Xuân, cuốn sách theo phong cách Travel Lookbook (sách ảnh du lịch) đầu tiên của Việt Nam; dành thời gian tiếp xúc, làm việc với nhóm thực hiện nội dung, nhất là người chịu trách nhiệm chính Mai Trịnh (Trịnh Thị Phương Mai), tôi có thêm góc nhìn về những người trẻ không ngại đầu tư lớn, khao khát sáng tạo, cống hiến và ghi dấu ấn riêng để tạo nên những giá trị nhân văn cho cộng đồng.
Xem thêm
Nam Hiệp và 300 cuộc hẹn với thi ca trên làn sóng phát thanh
Khi THI CA ĐIỂM HẸN chạm mốc số 300, đó vừa là một con số đáng nhớ của một chương trình phát thanh và là dấu mốc của một chặng đường bền bỉ, kiên định và đầy trách nhiệm với thơ ca Việt Nam đương đại.
Xem thêm
Đại tướng Lê Văn Dũng – Một “ông già Nam bộ”
Bài viết của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Nhật Ánh: Ngày nào tôi cũng bì bõm trong những trang văn
Thấy nhà văn Nguyễn Nhật Ánh vẫn ra sách đều đặn sau nhiều năm, có người hỏi ông rằng bao giờ thì ngừng viết. Đối với ông, đó là câu hỏi kỳ lạ, giống như khi bạn hỏi một người đang yêu: “Bao giờ thì anh mới ngừng yêu?”.
Xem thêm
86 gương mặt văn nghệ sĩ của Phùng Văn Khai: Những “gương mặt” biết kể chuyện
Dưới những chuyển động gấp gáp của đời sống đương đại, khi văn chương không ít lúc bị cuốn vào vòng quay của sự kiện, truyền thông và thị hiếu, thì những cuốn sách chọn cách đi chậm lại, lặng lẽ quan sát con người, lắng nghe chiều sâu của từng phận đời nghệ sĩ, càng trở nên hiếm và đáng quý, như một sự trở về thể loại chân dung văn học truyền thống. 86 gương mặt văn nghệ sĩ (Nxb Hội Nhà văn, 2025) của Phùng Văn Khai thuộc về mạch sách như vậy. Đây không chỉ là một tập chân dung văn học theo nghĩa thông thường, mà còn là một bản phác thảo rộng mở về đời sống tinh thần của nhiều thế hệ sáng tạo Việt Nam, từ những cây đại thụ đã thành tên tuổi trong lịch sử văn học, đến những gương mặt đương thời và lớp trẻ đang từng bước không ngừng khẳng định mình. Và, ẩn tàng phía sau những chân dung văn nghệ sĩ, chính là một chân dung tinh tế của người cầm bút.
Xem thêm
Nhà văn Trương Anh Quốc – Văn chương như người đi tìm kho báu
Nhà văn Trương Anh Quốc, ủy viên Ban văn trẻ Hội Nhà văn Việt Nam, sinh năm 1976 tại vùng miền núi tỉnh Quảng Nam. Anh đạt giải Nhì cuộc thi Văn học tuổi 20 năm 2005 với tập truyện ngắn “Sóng biển rì rào”, giải Nhất cuộc thi văn học tuổi 20 năm 2010 với tiểu thuyết “Biển”, cùng nhiều giải thưởng truyện ngắn của Tạp chí Văn nghệ Quân đội, Báo Sài Gòn Giải phóng… Nhân dịp anh vừa ra mắt cuốn tiểu thuyết thứ tư “Trùng khơi nghe sóng”, Trương Anh Quốc đã có cuộc trò chuyện nhỏ về văn chương với Văn nghệ Thành phố.
Xem thêm
Chuyện bút danh Đynh Trầm Ca và bài hát Ru con tình cũ
Đynh Trầm Ca tên thật Mạc Phụ, sinh năm 1941 tại Vĩnh Điện, Quảng Nam (cũ). Hơn 60 năm tuổi nghề, Đynh Trầm Ca đã sáng tác hơn 300 bài thơ và gần 100 bài ca khúc. Vì tuổi cao sức yếu, nhạc sĩ đã qua đời vào ngày 1/12/2025, hưởng thọ 85 tuổi.
Xem thêm
Vi Thùy Linh và hành trình vượt lên chính mình
Tính từ bài thơ đầu tiên viết năm 15 tuổi (tháng 9/1995), sau này được đưa vào tập thơ đầu tay (Khát, NXB Hội Nhà văn, 1999), Vi Thùy Linh đã có một hành trình sáng tác 30 năm với 7 tập thơ. 30 năm trôi đi gắn với bao đổi thay, biến động trong đời sống, thiếu nữ Vi Thùy Linh đã là bà mẹ hai con.
Xem thêm
Nhạc sĩ Thế Hiển - Người lính không mang quân hàm
Bài viết của NSND Nguyễn Thị Thanh Thúy
Xem thêm