TIN TỨC

“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-05-05 21:36:51
mail facebook google pos stwis
275 lượt xem

BÙI VIỆT THẮNG

Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.

 

Cuộc phiêu du của Chép Hồng - Tác giả Phạm Hồng Điệp

 

Hệ sinh thái văn hóa và văn học xanh

Quốc gia (Nước) Việt Nam trong truyền thống hàng ngàn năm tựa vào núi non (Đất) để tồn tại và phát triển (nên mới có truyền thuyết Sơn tinh thắng Thủy tinh). Nhưng đến thế kỷ XXI, Việt Nam trở thành một quốc gia biển, vì thế kiến tạo thực tế tâm thức cộng đồng mới Tổ quốc nhìn từ biển (nhan đề một trường ca thành công của thi sĩ Nguyễn Việt Chiến, không hẳn về ý nghĩa đề tài, mà nhờ chủ đề về cương vực lãnh thổ, chủ quyền quốc gia, dân khí và hào khí Đông A).

Đọc xong Cuộc phiêu du của Chép Hồng, đang suy nghĩ tìm cách viết phê bình một tác phẩm mới lạ, hấp dẫn thì hoàn toàn bất chợt và ngẫu nhiên tôi đọc được trên Tạp chí Tia Sáng (Online, 10/3/2026) bài viết hấp dẫn Giáo sư Chung Hoàng Chương - Người đi tìm “vân tay sinh thái” của sông Cửu Long. Bài viết dưới dạng tiểu sử khoa học, đã đành, nhưng quan trọng hơn là nói về năng lực phát kiến của nhà khoa học có tâm và có tầm: “Tại sao một nhà xã hội học lại chuyển hướng sang nghiên cứu thủy văn? Trong thế giới quan của thầy Chương, dòng sông chính là “vân tay” của vùng đất. Nếu mỗi con người có một mã định danh riêng thì mỗi khúc sông Mekong cũng có một bản sắc độc đáo (...).

Trong những cuộc đối thoại gần đây với một số bạn trẻ khởi nghiệp bên dòng Mekong, giáo sư Chương đặc biệt nhấn mạnh khái niệm hydro - humanities - tạm dịch là thủy nhân văn học. Khung lý thuyết hiện đại này được giới thiệu trong cuốn sách Hydrohumanities: Water Discourse and Environmental Futures (Thủy nhân văn học: Diễn ngôn về Nước và Tương lai môi trường) xuất bản năm 2021 của nhóm tác giả Mỹ, theo đó, nước không chỉ là thực thể vật lý mà là chở theo diễn ngôn định hình bản sắc”.

Tôi mạnh dạn gọi Cuộc phiêu du của Chép Hồng của Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp là một tác phẩm đặc tuyển thuộc về phạm trù “văn học xanh” trong hệ sinh thái văn hóa, theo quan điểm hiện đại. Nó rất gần gũi với những tác phẩm thành công gần đây góp phần kiến thiết “văn học xanh”, “văn học sinh thái” sẽ thống ngự trong tương lai trên văn đàn kiểu như Sống mãi với cây xanh của Nguyễn Minh Châu, Muối của rừng của Nguyễn Huy Thiệp, Người bay trong gió xanh của Phạm Duy Nghĩa, Thương ngàn của Vĩnh Quyền...

 

Chép Hồng như một biểu tượng nghệ thuật

Cá chép (tiếng Hán: Lý Ngư) trong tâm thức dân gian biểu trưng cho trí thông minh, lòng dũng cảm, tinh thần vượt khó, chí tiến thủ “vượt vũ môn”, “hóa rồng”, đem lại niềm vui và lợi ích cho cộng đồng như câu chuyện sự tích Cá Chép Đỏ lưu truyền trong văn học dân gian Trung Hoa.

Trong tác phẩm đồng thoại Cuộc phiêu du của Chép Hồng, trong một không gian thủy sinh có tên hồ Cá Chéo điển hình (rộng hơn 30 mẫu bắc Bộ/ gần 11 héc-ta/ 108.000 mét vuông), Chép Hồng được xây dựng thành một “nhân vật” trung tâm, sinh động, đáng yêu, trong một không gian sinh tồn đặc trưng bởi tính chất “quần ngư tranh thực” (cá lớn nuốt cá bé); nơi tác giả gửi gắm những nỗi niềm được nâng lên thành triết lý về đời sống xã hội thông qua cuộc khám phá thế giới thủy sinh bằng phương pháp “nhân cách hóa”.

 

“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước - 2

Tác giả Phạm Hồng Điệp và nhà văn, nhà báo Hoàng Dự tại Lễ ra mắt sách “Cuộc phiêu du của Chép Hồng”

Nếu nhìn thế giới từ con mắt của Cá Chép Hồng thì trước tiên hẳn là từ đôi mắt xanh của tuổi trẻ. Khi người ta trẻ ắt hẳn cái nhìn cuộc đời bằng con mắt xanh, sẽ đậm tính chất viễn kiến. Viễn kiến trên quan điểm hiện sinh. Vũ trụ quan, thế giới quan của Cá Chép Hồng với nơi mình trú ngụ và sinh tồn (hồ Cá Chéo), ắt hẳn luôn là “vừa là mái nhà quen thuộc, vừa là vùng nước chất chứa không ít rủi ro trong cuộc sống của Cá Chép Hồng”. Đó là nhãn giới cần được trang bị và bất ly thân với những công dân tương lai, sớm có cái nhìn thấu thị về quy luật sinh tồn trong những không gian và thời gian mặc định, khi mới bước vào đời.

Thế giới hẳn không chỉ có một màu hồng hay chỉ một màu đen. Những bài học đầu đời mà Cá Chép Hồng thấm nhuần là nhận được từ bác Cá Trê, lão làng ở thế giới thủy sinh nơi hồ Cá Chéo. Rõ ràng tác giả không có ý định dọn “mâm cao cỗ đầy” cho nhân vật chính, cũng không bày đặt ra đại lộ thẳng tắp rải đầy hoa lá, đan kết cổng chào rực rỡ để nó thẳng tiến bước trong những điệu hoan ca vang rền, mà có thể tạo nên con đường chông gai để thử thách, theo lối “lửa thử vàng gian nan thử sức”, hay “thất bại là mẹ của thành công”.

Bác Cá Trê ưu ái truyền đạt kinh nghiệm ứng xử khi vào đời cho Cá Chép Hồng: “Sau này nhớ tránh xa những chỗ nước nông, kẻo gặp nguy hiểm cháu nhé”. Đúng vậy, đồng thời có triết lý của nhân gian “dưới chân cột đèn là nơi tối nhất”. Đây chính là cách thức dạy kĩ năng sống cho trẻ thơ từ khi rời khỏi ngôi nhà thân yêu của mình và vòng tay âu yếm ôm ấp chở che của ông bà, bố mẹ, anh chị em ruột thịt. Nó trái với cách hiện nay chúng ta dạy trẻ thơ bắt đầu từ yêu những cái lớn lao quá đỗi, nhưng xa xôi, vô hình, thiếu tinh thần “thực” học, thực hành, thực tế. Theo cách nói hiện đại là thiếu hay kém hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả.

Sau khi gặp gỡ bác Cá Trê, Chép Hồng còn có cơ hội được giao kiến với cụ Trắm Đen, bác Cá Trôi, cụ Cá Rô, bác Lươn Già, chú Cua Đực, cụ Cá Vược,... toàn là những vị tiên chỉ lão làng. Bài học tiếp theo giúp Cá Chép Hồng trưởng thành là “cuộc sống thú vị nhưng luôn có hiểm nguy”. Vượt qua những hiểm nguy bất thường đã là khó. Nhưng khó hơn là bản thân có trở nên hữu ích, có thể tương thân tương ái, giúp đỡ lẫn nhau, nhất là với những ai yếu thế, sức hèn lực cạn. Rõ ràng là, cuộc sống không đơn thuần chỉ là chuyện mưu sinh, mà còn là hành trình biết quan tâm, giúp đỡ nhau để mỗi ngày trôi qua đều có giá trị và đáng sống. Bài học đầu đời của Cá Chép Hồng chính là mối quan hệ mật thiết giữa “tôi” và “ta” (mình vì mọi người, mọi người vì mình). Bài học về mục đích sống và giá trị của đời sống.

Nhưng nếu Cá Chép Hồng chỉ ru rú trong hồ Cá Chéo (dù được coi là rộng lớn, khoáng đạt, sung túc cái ăn), thì cũng chỉ là một góc quê kiểng, khó tiến bộ, trưởng thành nếu không được ném ra biển lớn (môi trường, không gian vĩ mô, có tính mở với giao diện rộng lớn hơn gấp bội). Cá Chép Hồng không thể không chấp nhận và thực thi một cuộc phiêu bạt (dạt) ra cánh đồng mẫu lớn. Mà thường là những cánh đồng bất tận. Đây là một cuộc phiêu dạt, xê dịch, viễn du, phiêu du làm thỏa chí tang bồng của một trang  thanh niên tuấn tú (nếu chúng ta coi Cá Chép Hồng là một nhân vật). Nay Cá Chép Hồng tạm coi là đủ lông đủ cánh, đủ sức đi xa, sẵn sàng vượt vũ môn, sẵn sàng hóa rồng.

Ở giai đoạn trưởng thành, Cá Chép Hồng học được kĩ năng sống ở cấp độ cao sâu hơn - nhận biết thế giới xung quanh càng thấu tỏ thì càng gia tăng tính an toàn trong quy luật sinh tồn khắc nghiệt. Cũng như trong chiến trận, khi người chiến binh phải “biết địch biết ta trăm trận trăm thắng”.

Đi ra cánh đồng lớn như ra biển lớn, điều thu lượm bổ ích nhất với Cá Chép Hồng là “thiên nhiên có quy luật riêng”, vì thế ai hiểu được và tôn trọng quy luật ấy (ta thường gọi là quy luật “thuận thiên”, hợp lẽ trời) thì sẽ biết cách tránh được nguy hiểm và tìm kiếm niềm vui sống, kể cả khi bĩ cực hay thái lai. Cứ như thế từng bước một, Cá Chép Hồng đã trưởng thành với ý thức “cứ đi, cứ đi, trời xanh thêm”. Càng đi càng thấm thía chân lý sức mạnh của tập thể (cộng đồng) lớn hơn rất nhiều sức mạnh của một cá nhân đơn lẻ, nhất là khi mọi người biết chung tay vì mục đích chung. Càng trải nghiệm, Cá Chép Hồng càng nhanh chóng từ bỏ được cái tâm thế ếch ngồi đáy giếng, thoát khỏi cái gọi là “tiểu nhân đắc chí” của những “vĩ nhân tỉnh lẻ”.

Người ta thường nói một cá thể (người hay vật) chỉ có giá trị trong một hệ thống nhất định nào đó. Đúng như thế. Nên kể từ khi Cá Chép Hồng giáp mặt với con người và can dự vào “cuộc chiến với con người” (từ chương 13) thì tình thế xoay vần, kết cục cũng sẽ khác nếu như chỉ sống chung với cùng họ hàng nhà mình hay cùng loài thủy sinh. Một tình huống mới sẽ xảy ra bởi “Sắp có một cuộc đánh bắt cá động trời, có thể hủy diệt cả họ nhà chúng ta”. Do đó “Dưới lòng hồ, các loài cá và toàn bộ thủy sinh đều bị chấn động bởi cơn “địa chấn” mang tên loài người”. Đây không phải là “cuộc chiến tranh giữa các vì sao” như trong văn học giả tưởng nữa, đây đích thực là một cuộc chiến giữa người và loài vật ở chính trên mảnh đất này. Tất cả khẩn trương cho một cuộc di cư lớn vì chiến tranh giữa người và loài vật sắp nổ ra. Vì cuộc sống là một hành trình không ngừng dịch chuyển. Khi biến cố và hoàn cảnh khắc nghiệt đến, chúng ta cần chủ động tìm lối đi mới để tồn tại và vươn lên. Đây không đơn thuần là triết lý, mà là thực tiễn, có tác dụng kiểm tra chân lý.

Cuộc sống mới của Cá Chép Hồng và họ hàng cua cá, thủy sinh bây giờ trong không gian sinh tồn mới - mương nổi, rồi ra đầm lúa. Tưởng bề yên thân, yên vị, yên hàn để mưu sinh nhưng thực ra “hiểm nguy ở đầm lúa” vẫn cứ rình rập (từ chương 20). Nhưng Cá Chép Hồng đã thông minh và dũng cảm “dẫn đàn vượt qua hiểm nguy” (từ chương 25). Cứ thế, đàn cá do Chép Hồng dẫn dắt cứ phiêu du từ đầm lúa qua đầm nước lợ (chương 26). Một khoảng cách di chuyển thêm, Cá Chép Hồng lại tích lũy thêm được “đi một ngày đàng học một sàng khôn”, đoàn kết hơn để thêm bạn bớt thù. Kết quả mỹ mãn nhất với Cá Chép Hồng và loài cá là càng đi càng có cơ hội khám phá thiên nhiên kỳ thú (từ chương 31). Mỗi chặng phiêu du của Cá Chép Hồng và đồng loại là giúp nó tri nhận quy luật: Không phải loài thông minh, không phải kẻ mạnh, mà kẻ nào thích nghi nhanh, kẻ đó sẽ tồn tại và phát triển; ai chậm trễ và trì trệ sẽ nhận thất bại.

Nhưng Cá Chép Hồng, bản thân nó không vượt thoát được tấm xiêm áo dù đẹp nhưng bó hẹp tầm nhìn nếu không có chuyến vượt vũ môn, hóa rồng, cùng với Chép Đực như là song kiếm hợp bích, hơn thế một cặp đôi hoàn hảo. Trong tình huống của truyện đồng thoại này, với nhân vật Cá Chép Hồng là “giấc mơ vượt đê” (từ chương 37). Vì theo bậc “tiền bối’ là bác Cá Măng thì “Bác đã bơi sang đó nhiều lần rồi. Ở bên rừng nước mặn có rất nhiều điều lý thú đó, mang tiếng là rừng nước mặn nhưng nước bên đó lên xuống điều hòa vì vậy độ mặn của nước cũng chỉ bằng ở bên này thôi các cháu ạ. Nếu các cháu muốn chu du chinh phục rừng nước mặn thì bác sẽ mở lối đưa đường nhé. Các cháu cứ yên tâm đi với bác”. Kể từ đó, cá  Chép Hồng và đồng loại cùng chung cái tâm tưởng “hướng tới rừng nước mặn”, “chinh phục rừng nước mặn”, tìm ra “lợi ích của rừng ngập mặn”. Từ đây Cá Chép Hồng có thêm người bạn đường tin tưởng, cùng chí hướng là Chép Đực.

Cái kết của truyện đồng thoại Cuộc phiêu du của Chép Hồng tương thích với tư duy hình tượng của folklore: “Đúng lúc đó, vòng xoáy trôn ốc tích tụ đầy năng lượng thò sâu xuống mặt hồ, hút trọn nguồn năng lượng tuyệt đối của đôi chép hóa rồng. Một tiếng nổ “Bùng! Bùng!”, vang trời, tiếng thần sấm dội xuống, đưa Chép Hồng và Chép Đực bay vút lên thiên đình với nguồn năng lượng đỉnh cao, mang theo những tinh túy thuần khiết nhất của trời và đất, ghi dấu một ấn tượng tuyệt vời về câu chuyện Chép Hồng. Và từ đó, trong nhân gian vẫn lưu truyền câu chuyện cá chép hóa rồng đưa Táo Quân lên báo cáo Ngọc Hoàng”.

 

Một thông điệp về nhân sinh, hòa bình, hữu nghị

Cuộc phiêu du của Chép Hồng là hình ảnh tái tạo một thế giới khả nhiên, vừa tĩnh vừa động, một dòng chảy thao thiết bất tận phù hợp với quy luật thuận thiên (hợp lẽ trời, hợp tự nhiên), không có sự can thiệp của ý chí luận. Trong con mắt của các nhà hiện thực cổ điển thì cuộc sống đã đến mức “mốc lên, gỉ ra, mòn đi” (Sống mòn - Nam Cao). Nhưng trong con mắt của các nhà tân hiện thực, tân cổ điển thì thế giới mang tính “mở”. Vì thế, văn học thời đại cũng là văn học của thế kỷ mở. Với văn học đương đại Việt Nam, có thể nói, tính mở hằn sâu vào sự chuyển dịch góc nhìn, góc trần thuật tạo nên diễn ngôn mới. đa chiều, đa dạng, đa phong cách, đa  trào lưu và khuynh hướng sáng tác theo lối “trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng”.

 Tinh thần cộng sinh, nghiệm sinh, hiện sinh (cùng tồn tại và chung sống hòa bình) của các sự vật (thế giới động vật, thực vật) là cách thức tồn tại lấy đối thoại thay cho đối đầu, chung sống hòa bình thay cho chiến tranh hủy diệt chính là triết lý trường tồn mới. Thế giới mở đòi hỏi tương thích một thế hệ mới dám dấn thân, chấp nhận, xả thân qua những trải nghiệm đủ các cung bậc.

Với thế hệ này, ý thức về tự nhiên hài hòa với ý thức về xã hội, tránh cực đoan. Tinh thần thích nghi với hoàn cảnh là một chỉ dấu đánh giá năng lực thực tiễn của mỗi cá nhân. Một thế hệ có tư duy viễn kiến trong một thế giới tranh đấu giữa kỹ trị và tâm linh, giữa cái tôi và cộng đồng, giữa dân tộc và nhân loại. Cá chép vượt vũ môn, hóa rồng dù hiển thị trong tâm thức dân gian hay suy tư triết học hiện đại đều hướng tới xây dựng nhân vật lý tưởng - những “con người khổng lồ” kiểu thời đại Phục hưng theo quan điểm của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác.

Cuộc phiêu du của Chép Hồng là biểu tượng của một cuộc ra đi tìm kiếm sự sống và chân lý bằng cả lý trí anh minh và tình cảm sâu sắc để thực hiện thành công quá trình đổi mới, khi một thế hệ trẻ khỏe, thông minh và sáng tạo đã sẵn sàng lên đường chinh phục thế giới mới. Tác phẩm khoác bộ xiêm áo “đồng thoại” non tơ và cổ điển “viết cho thiếu nhi” nhưng độ bền, độ đẹp, độ hữu dụng mang tính đại chúng, đặng có thể dành cho mọi người, mọi lứa tuổi, mọi trình độ và khác nhau về sở thích đọc sách văn học. Riêng tôi, tràn đầy hy vọng về Cuộc phiêu du của Chép Hồng sẽ thuộc loại sách hay và đồng thời là “best-seller”.

B.V.T

Nguồn: Thời Báo Văn Học Nghệ Thuật

Bài viết liên quan

Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm