TIN TỨC

“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-05-05 21:36:51
mail facebook google pos stwis
14 lượt xem

BÙI VIỆT THẮNG

Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.

 

Cuộc phiêu du của Chép Hồng - Tác giả Phạm Hồng Điệp

 

Hệ sinh thái văn hóa và văn học xanh

Quốc gia (Nước) Việt Nam trong truyền thống hàng ngàn năm tựa vào núi non (Đất) để tồn tại và phát triển (nên mới có truyền thuyết Sơn tinh thắng Thủy tinh). Nhưng đến thế kỷ XXI, Việt Nam trở thành một quốc gia biển, vì thế kiến tạo thực tế tâm thức cộng đồng mới Tổ quốc nhìn từ biển (nhan đề một trường ca thành công của thi sĩ Nguyễn Việt Chiến, không hẳn về ý nghĩa đề tài, mà nhờ chủ đề về cương vực lãnh thổ, chủ quyền quốc gia, dân khí và hào khí Đông A).

Đọc xong Cuộc phiêu du của Chép Hồng, đang suy nghĩ tìm cách viết phê bình một tác phẩm mới lạ, hấp dẫn thì hoàn toàn bất chợt và ngẫu nhiên tôi đọc được trên Tạp chí Tia Sáng (Online, 10/3/2026) bài viết hấp dẫn Giáo sư Chung Hoàng Chương - Người đi tìm “vân tay sinh thái” của sông Cửu Long. Bài viết dưới dạng tiểu sử khoa học, đã đành, nhưng quan trọng hơn là nói về năng lực phát kiến của nhà khoa học có tâm và có tầm: “Tại sao một nhà xã hội học lại chuyển hướng sang nghiên cứu thủy văn? Trong thế giới quan của thầy Chương, dòng sông chính là “vân tay” của vùng đất. Nếu mỗi con người có một mã định danh riêng thì mỗi khúc sông Mekong cũng có một bản sắc độc đáo (...).

Trong những cuộc đối thoại gần đây với một số bạn trẻ khởi nghiệp bên dòng Mekong, giáo sư Chương đặc biệt nhấn mạnh khái niệm hydro - humanities - tạm dịch là thủy nhân văn học. Khung lý thuyết hiện đại này được giới thiệu trong cuốn sách Hydrohumanities: Water Discourse and Environmental Futures (Thủy nhân văn học: Diễn ngôn về Nước và Tương lai môi trường) xuất bản năm 2021 của nhóm tác giả Mỹ, theo đó, nước không chỉ là thực thể vật lý mà là chở theo diễn ngôn định hình bản sắc”.

Tôi mạnh dạn gọi Cuộc phiêu du của Chép Hồng của Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp là một tác phẩm đặc tuyển thuộc về phạm trù “văn học xanh” trong hệ sinh thái văn hóa, theo quan điểm hiện đại. Nó rất gần gũi với những tác phẩm thành công gần đây góp phần kiến thiết “văn học xanh”, “văn học sinh thái” sẽ thống ngự trong tương lai trên văn đàn kiểu như Sống mãi với cây xanh của Nguyễn Minh Châu, Muối của rừng của Nguyễn Huy Thiệp, Người bay trong gió xanh của Phạm Duy Nghĩa, Thương ngàn của Vĩnh Quyền...

 

Chép Hồng như một biểu tượng nghệ thuật

Cá chép (tiếng Hán: Lý Ngư) trong tâm thức dân gian biểu trưng cho trí thông minh, lòng dũng cảm, tinh thần vượt khó, chí tiến thủ “vượt vũ môn”, “hóa rồng”, đem lại niềm vui và lợi ích cho cộng đồng như câu chuyện sự tích Cá Chép Đỏ lưu truyền trong văn học dân gian Trung Hoa.

Trong tác phẩm đồng thoại Cuộc phiêu du của Chép Hồng, trong một không gian thủy sinh có tên hồ Cá Chéo điển hình (rộng hơn 30 mẫu bắc Bộ/ gần 11 héc-ta/ 108.000 mét vuông), Chép Hồng được xây dựng thành một “nhân vật” trung tâm, sinh động, đáng yêu, trong một không gian sinh tồn đặc trưng bởi tính chất “quần ngư tranh thực” (cá lớn nuốt cá bé); nơi tác giả gửi gắm những nỗi niềm được nâng lên thành triết lý về đời sống xã hội thông qua cuộc khám phá thế giới thủy sinh bằng phương pháp “nhân cách hóa”.

 

“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước - 2

Tác giả Phạm Hồng Điệp và nhà văn, nhà báo Hoàng Dự tại Lễ ra mắt sách “Cuộc phiêu du của Chép Hồng”

Nếu nhìn thế giới từ con mắt của Cá Chép Hồng thì trước tiên hẳn là từ đôi mắt xanh của tuổi trẻ. Khi người ta trẻ ắt hẳn cái nhìn cuộc đời bằng con mắt xanh, sẽ đậm tính chất viễn kiến. Viễn kiến trên quan điểm hiện sinh. Vũ trụ quan, thế giới quan của Cá Chép Hồng với nơi mình trú ngụ và sinh tồn (hồ Cá Chéo), ắt hẳn luôn là “vừa là mái nhà quen thuộc, vừa là vùng nước chất chứa không ít rủi ro trong cuộc sống của Cá Chép Hồng”. Đó là nhãn giới cần được trang bị và bất ly thân với những công dân tương lai, sớm có cái nhìn thấu thị về quy luật sinh tồn trong những không gian và thời gian mặc định, khi mới bước vào đời.

Thế giới hẳn không chỉ có một màu hồng hay chỉ một màu đen. Những bài học đầu đời mà Cá Chép Hồng thấm nhuần là nhận được từ bác Cá Trê, lão làng ở thế giới thủy sinh nơi hồ Cá Chéo. Rõ ràng tác giả không có ý định dọn “mâm cao cỗ đầy” cho nhân vật chính, cũng không bày đặt ra đại lộ thẳng tắp rải đầy hoa lá, đan kết cổng chào rực rỡ để nó thẳng tiến bước trong những điệu hoan ca vang rền, mà có thể tạo nên con đường chông gai để thử thách, theo lối “lửa thử vàng gian nan thử sức”, hay “thất bại là mẹ của thành công”.

Bác Cá Trê ưu ái truyền đạt kinh nghiệm ứng xử khi vào đời cho Cá Chép Hồng: “Sau này nhớ tránh xa những chỗ nước nông, kẻo gặp nguy hiểm cháu nhé”. Đúng vậy, đồng thời có triết lý của nhân gian “dưới chân cột đèn là nơi tối nhất”. Đây chính là cách thức dạy kĩ năng sống cho trẻ thơ từ khi rời khỏi ngôi nhà thân yêu của mình và vòng tay âu yếm ôm ấp chở che của ông bà, bố mẹ, anh chị em ruột thịt. Nó trái với cách hiện nay chúng ta dạy trẻ thơ bắt đầu từ yêu những cái lớn lao quá đỗi, nhưng xa xôi, vô hình, thiếu tinh thần “thực” học, thực hành, thực tế. Theo cách nói hiện đại là thiếu hay kém hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả.

Sau khi gặp gỡ bác Cá Trê, Chép Hồng còn có cơ hội được giao kiến với cụ Trắm Đen, bác Cá Trôi, cụ Cá Rô, bác Lươn Già, chú Cua Đực, cụ Cá Vược,... toàn là những vị tiên chỉ lão làng. Bài học tiếp theo giúp Cá Chép Hồng trưởng thành là “cuộc sống thú vị nhưng luôn có hiểm nguy”. Vượt qua những hiểm nguy bất thường đã là khó. Nhưng khó hơn là bản thân có trở nên hữu ích, có thể tương thân tương ái, giúp đỡ lẫn nhau, nhất là với những ai yếu thế, sức hèn lực cạn. Rõ ràng là, cuộc sống không đơn thuần chỉ là chuyện mưu sinh, mà còn là hành trình biết quan tâm, giúp đỡ nhau để mỗi ngày trôi qua đều có giá trị và đáng sống. Bài học đầu đời của Cá Chép Hồng chính là mối quan hệ mật thiết giữa “tôi” và “ta” (mình vì mọi người, mọi người vì mình). Bài học về mục đích sống và giá trị của đời sống.

Nhưng nếu Cá Chép Hồng chỉ ru rú trong hồ Cá Chéo (dù được coi là rộng lớn, khoáng đạt, sung túc cái ăn), thì cũng chỉ là một góc quê kiểng, khó tiến bộ, trưởng thành nếu không được ném ra biển lớn (môi trường, không gian vĩ mô, có tính mở với giao diện rộng lớn hơn gấp bội). Cá Chép Hồng không thể không chấp nhận và thực thi một cuộc phiêu bạt (dạt) ra cánh đồng mẫu lớn. Mà thường là những cánh đồng bất tận. Đây là một cuộc phiêu dạt, xê dịch, viễn du, phiêu du làm thỏa chí tang bồng của một trang  thanh niên tuấn tú (nếu chúng ta coi Cá Chép Hồng là một nhân vật). Nay Cá Chép Hồng tạm coi là đủ lông đủ cánh, đủ sức đi xa, sẵn sàng vượt vũ môn, sẵn sàng hóa rồng.

Ở giai đoạn trưởng thành, Cá Chép Hồng học được kĩ năng sống ở cấp độ cao sâu hơn - nhận biết thế giới xung quanh càng thấu tỏ thì càng gia tăng tính an toàn trong quy luật sinh tồn khắc nghiệt. Cũng như trong chiến trận, khi người chiến binh phải “biết địch biết ta trăm trận trăm thắng”.

Đi ra cánh đồng lớn như ra biển lớn, điều thu lượm bổ ích nhất với Cá Chép Hồng là “thiên nhiên có quy luật riêng”, vì thế ai hiểu được và tôn trọng quy luật ấy (ta thường gọi là quy luật “thuận thiên”, hợp lẽ trời) thì sẽ biết cách tránh được nguy hiểm và tìm kiếm niềm vui sống, kể cả khi bĩ cực hay thái lai. Cứ như thế từng bước một, Cá Chép Hồng đã trưởng thành với ý thức “cứ đi, cứ đi, trời xanh thêm”. Càng đi càng thấm thía chân lý sức mạnh của tập thể (cộng đồng) lớn hơn rất nhiều sức mạnh của một cá nhân đơn lẻ, nhất là khi mọi người biết chung tay vì mục đích chung. Càng trải nghiệm, Cá Chép Hồng càng nhanh chóng từ bỏ được cái tâm thế ếch ngồi đáy giếng, thoát khỏi cái gọi là “tiểu nhân đắc chí” của những “vĩ nhân tỉnh lẻ”.

Người ta thường nói một cá thể (người hay vật) chỉ có giá trị trong một hệ thống nhất định nào đó. Đúng như thế. Nên kể từ khi Cá Chép Hồng giáp mặt với con người và can dự vào “cuộc chiến với con người” (từ chương 13) thì tình thế xoay vần, kết cục cũng sẽ khác nếu như chỉ sống chung với cùng họ hàng nhà mình hay cùng loài thủy sinh. Một tình huống mới sẽ xảy ra bởi “Sắp có một cuộc đánh bắt cá động trời, có thể hủy diệt cả họ nhà chúng ta”. Do đó “Dưới lòng hồ, các loài cá và toàn bộ thủy sinh đều bị chấn động bởi cơn “địa chấn” mang tên loài người”. Đây không phải là “cuộc chiến tranh giữa các vì sao” như trong văn học giả tưởng nữa, đây đích thực là một cuộc chiến giữa người và loài vật ở chính trên mảnh đất này. Tất cả khẩn trương cho một cuộc di cư lớn vì chiến tranh giữa người và loài vật sắp nổ ra. Vì cuộc sống là một hành trình không ngừng dịch chuyển. Khi biến cố và hoàn cảnh khắc nghiệt đến, chúng ta cần chủ động tìm lối đi mới để tồn tại và vươn lên. Đây không đơn thuần là triết lý, mà là thực tiễn, có tác dụng kiểm tra chân lý.

Cuộc sống mới của Cá Chép Hồng và họ hàng cua cá, thủy sinh bây giờ trong không gian sinh tồn mới - mương nổi, rồi ra đầm lúa. Tưởng bề yên thân, yên vị, yên hàn để mưu sinh nhưng thực ra “hiểm nguy ở đầm lúa” vẫn cứ rình rập (từ chương 20). Nhưng Cá Chép Hồng đã thông minh và dũng cảm “dẫn đàn vượt qua hiểm nguy” (từ chương 25). Cứ thế, đàn cá do Chép Hồng dẫn dắt cứ phiêu du từ đầm lúa qua đầm nước lợ (chương 26). Một khoảng cách di chuyển thêm, Cá Chép Hồng lại tích lũy thêm được “đi một ngày đàng học một sàng khôn”, đoàn kết hơn để thêm bạn bớt thù. Kết quả mỹ mãn nhất với Cá Chép Hồng và loài cá là càng đi càng có cơ hội khám phá thiên nhiên kỳ thú (từ chương 31). Mỗi chặng phiêu du của Cá Chép Hồng và đồng loại là giúp nó tri nhận quy luật: Không phải loài thông minh, không phải kẻ mạnh, mà kẻ nào thích nghi nhanh, kẻ đó sẽ tồn tại và phát triển; ai chậm trễ và trì trệ sẽ nhận thất bại.

Nhưng Cá Chép Hồng, bản thân nó không vượt thoát được tấm xiêm áo dù đẹp nhưng bó hẹp tầm nhìn nếu không có chuyến vượt vũ môn, hóa rồng, cùng với Chép Đực như là song kiếm hợp bích, hơn thế một cặp đôi hoàn hảo. Trong tình huống của truyện đồng thoại này, với nhân vật Cá Chép Hồng là “giấc mơ vượt đê” (từ chương 37). Vì theo bậc “tiền bối’ là bác Cá Măng thì “Bác đã bơi sang đó nhiều lần rồi. Ở bên rừng nước mặn có rất nhiều điều lý thú đó, mang tiếng là rừng nước mặn nhưng nước bên đó lên xuống điều hòa vì vậy độ mặn của nước cũng chỉ bằng ở bên này thôi các cháu ạ. Nếu các cháu muốn chu du chinh phục rừng nước mặn thì bác sẽ mở lối đưa đường nhé. Các cháu cứ yên tâm đi với bác”. Kể từ đó, cá  Chép Hồng và đồng loại cùng chung cái tâm tưởng “hướng tới rừng nước mặn”, “chinh phục rừng nước mặn”, tìm ra “lợi ích của rừng ngập mặn”. Từ đây Cá Chép Hồng có thêm người bạn đường tin tưởng, cùng chí hướng là Chép Đực.

Cái kết của truyện đồng thoại Cuộc phiêu du của Chép Hồng tương thích với tư duy hình tượng của folklore: “Đúng lúc đó, vòng xoáy trôn ốc tích tụ đầy năng lượng thò sâu xuống mặt hồ, hút trọn nguồn năng lượng tuyệt đối của đôi chép hóa rồng. Một tiếng nổ “Bùng! Bùng!”, vang trời, tiếng thần sấm dội xuống, đưa Chép Hồng và Chép Đực bay vút lên thiên đình với nguồn năng lượng đỉnh cao, mang theo những tinh túy thuần khiết nhất của trời và đất, ghi dấu một ấn tượng tuyệt vời về câu chuyện Chép Hồng. Và từ đó, trong nhân gian vẫn lưu truyền câu chuyện cá chép hóa rồng đưa Táo Quân lên báo cáo Ngọc Hoàng”.

 

Một thông điệp về nhân sinh, hòa bình, hữu nghị

Cuộc phiêu du của Chép Hồng là hình ảnh tái tạo một thế giới khả nhiên, vừa tĩnh vừa động, một dòng chảy thao thiết bất tận phù hợp với quy luật thuận thiên (hợp lẽ trời, hợp tự nhiên), không có sự can thiệp của ý chí luận. Trong con mắt của các nhà hiện thực cổ điển thì cuộc sống đã đến mức “mốc lên, gỉ ra, mòn đi” (Sống mòn - Nam Cao). Nhưng trong con mắt của các nhà tân hiện thực, tân cổ điển thì thế giới mang tính “mở”. Vì thế, văn học thời đại cũng là văn học của thế kỷ mở. Với văn học đương đại Việt Nam, có thể nói, tính mở hằn sâu vào sự chuyển dịch góc nhìn, góc trần thuật tạo nên diễn ngôn mới. đa chiều, đa dạng, đa phong cách, đa  trào lưu và khuynh hướng sáng tác theo lối “trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng”.

 Tinh thần cộng sinh, nghiệm sinh, hiện sinh (cùng tồn tại và chung sống hòa bình) của các sự vật (thế giới động vật, thực vật) là cách thức tồn tại lấy đối thoại thay cho đối đầu, chung sống hòa bình thay cho chiến tranh hủy diệt chính là triết lý trường tồn mới. Thế giới mở đòi hỏi tương thích một thế hệ mới dám dấn thân, chấp nhận, xả thân qua những trải nghiệm đủ các cung bậc.

Với thế hệ này, ý thức về tự nhiên hài hòa với ý thức về xã hội, tránh cực đoan. Tinh thần thích nghi với hoàn cảnh là một chỉ dấu đánh giá năng lực thực tiễn của mỗi cá nhân. Một thế hệ có tư duy viễn kiến trong một thế giới tranh đấu giữa kỹ trị và tâm linh, giữa cái tôi và cộng đồng, giữa dân tộc và nhân loại. Cá chép vượt vũ môn, hóa rồng dù hiển thị trong tâm thức dân gian hay suy tư triết học hiện đại đều hướng tới xây dựng nhân vật lý tưởng - những “con người khổng lồ” kiểu thời đại Phục hưng theo quan điểm của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác.

Cuộc phiêu du của Chép Hồng là biểu tượng của một cuộc ra đi tìm kiếm sự sống và chân lý bằng cả lý trí anh minh và tình cảm sâu sắc để thực hiện thành công quá trình đổi mới, khi một thế hệ trẻ khỏe, thông minh và sáng tạo đã sẵn sàng lên đường chinh phục thế giới mới. Tác phẩm khoác bộ xiêm áo “đồng thoại” non tơ và cổ điển “viết cho thiếu nhi” nhưng độ bền, độ đẹp, độ hữu dụng mang tính đại chúng, đặng có thể dành cho mọi người, mọi lứa tuổi, mọi trình độ và khác nhau về sở thích đọc sách văn học. Riêng tôi, tràn đầy hy vọng về Cuộc phiêu du của Chép Hồng sẽ thuộc loại sách hay và đồng thời là “best-seller”.

B.V.T

Nguồn: Thời Báo Văn Học Nghệ Thuật

Bài viết liên quan

Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm