TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Tiểu thuyết “Hoa cho tình yêu” của nhà văn Hoàng Phương Nhâm là bản Thánh ca về nỗi đau đất nước thời hậu chiến

Tiểu thuyết “Hoa cho tình yêu” của nhà văn Hoàng Phương Nhâm là bản Thánh ca về nỗi đau đất nước thời hậu chiến

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-11-09 14:30:13
mail facebook google pos stwis
2046 lượt xem

LỜI TỰA

NHỊ NGUYÊN

Cuốn tiểu thuyết về tình yêu thời hiện tại với tất cả những éo le phức tạp, những hỉ nộ ái ố thường gặp nhưng nguồn gốc thành phần xuất thân của những nhân vật hiện hữu trong cuộc tình lại khiến người đọc quan tâm đến những điều ẩn sâu trong đó. Đó là những vấn đề của hậu chiến, là khát vọng của những linh hồn lính chiến của cả hai phía đã ngã xuống trong cuộc chiến tranh, là sự hòa hợp dân tộc. Những di chứng mà bất kì một cuộc chiến tranh nào cũng để lại sau khi nó kết thúc bằng những phân định thắng thua.

Hiếu Tuệ, cô sinh viên Y khoa trong một lần từ trường trở về nhà để kịp làm lễ sinh nhật mẹ- Bà Quyên Ái-  đã bất ngờ gặp một tai nạn. Cô thấy mình bị rơi xuống một vùng đất lạ: “Hiểu Tuệ ngơ ngác đứng giữa hoang hoải nắng. Cả vùng đất rộng hút tầm mắt chỉ một màu vàng cháy rụi của cây cỏ, mặt đất bị cày xới nham nhở, những hố lớn hố nhỏ đè lên nhau. Không gian khét lẹt mùi hóa chất, mùi thịt nướng quá lửa, mùi thối rữa như mùi động vật đang kỳ phân hủy. Hiểu Tuệ hoảng sợ, cô không hiểu làm sao lại đến nơi đây. Cô nhón chân hối hả mong chạy khỏi vùng đất khủng khiếp này để tìm đường về nhà. Những mảnh gang sắc nhọn ẩn khuất trên mặt đất cứa vào bàn chân trần của cô. Nơi cô chạy qua đều để lại một dấu chân đỏ máu. Gần như kiệt sức, Hiểu Tuệ hét gọi…” Cô không biết đây là vùng đất chết- Nhưng như một run rủi của số phận, chính trong lúc vô cùng hoảng sợ này cô bất ngờ được Nhậm Thành cứu giúp. “Đứng trước cô là một người trai trẻ chững chạc trong bộ quân phục rằn ri. Dáng người anh cao to nổi bật trong ráng chiều chạng vạng. Hiểu Tuệ thấy bộ quân phục anh mặc giống như trong bức hình của ông ngoại chụp khi ông là lính Việt Nam cộng hòa vừa ở mặt trận về trong bức ảnh cưới với bà ngoại. Mà thời đó đã lâu lắm rồi, sao giờ người này lại vẫn mặc bộ đồ y chang vậy?!” Hiểu Tuệ lại càng không biết Nhậm Thành vốn là một sỹ quan Cộng hoà, bạn thân của Vĩnh Lộc ông nội cô. Ông nội cô là con của một chủ trại ngựa đua. Cả hai đều đã tử trận trong cuộc chiến trước đây và Nhậm Thành đang trên đường đi tìm Vĩnh Lộc (Người đang cùng bị mắc kẹt trong một vách đá bên bờ vực ở vùng núi sâu hoang vắng cùng một người lính Bắc Việt: Giang Tử Quang). Nhậm Thành không để ý đến thái độ đó của Hiểu Tuệ. Anh nắm tay cô chạy nhanh ra khỏi vùng đất chết đó đưa cô đến một nơi có phong cảnh kì thú đẹp như cảnh nơi tiên giới: Vườn Đà La. Và từ đây Hiểu Tuệ tỉnh lại thấy mình trong bệnh viện có ánh mắt trìu mến của An Đông- người bác sỹ trẻ. Có thể đó cũng lại là một sắp đặt đầy thử thách của số phận. An Đông là cháu nội của ông Giang Tử Quang và bà Kim Thư- Hai cán bộ cách mạng, hai bác sỹ giỏi của ngành Y tế miền Bắc. Giang Tử Quang ra mặt trận và hy sinh. Bà Kim Thư sau khi thống nhất đất nước chuyển công tác vào Sài Gòn với ý đồ sẽ được gần nơi chồng hi sinh, có thể thuận lợi cho việc đi tìm kiếm hài cốt của chồng và em chồng. Bà có thời gian tham mưu cho lãnh đạo thành phố. Bà là một người tài giỏi, mẫn cán nhưng cũng không ngừng nuôi trong lòng mối hận thù với “Phía bên kia”, những người đã sát hại chồng bà. Bi kịch bắt đầu. Khi biết An Đông yêu Hiếu Tuệ- Một cô gái có nguồn gốc thuộc phe đối kháng trước, bà đã tìm mọi cách để ngăn cản… Cuộc tình của Hiểu Tuệ và An Đông bị đặt trước muôn vàn thử thách, những thử thách của đời thường, cạm bẫy cùng những quan niệm, những định kiến và của những quá khứ buồn trước đây. Nhưng cuối cùng, như một sự an bài cần thiết cho mọi cuộc tình, cho mọi đổ vỡ, bằng sự chân thành, bằng tình yêu đích thực… cuối cùng sau bao giông bão, thử thách, con thuyền tình yêu của Hiếu Tuệ và An Đông đã cập bến Hạnh Phúc. Một cái kết có hậu.

 Và để thực hiện cuốn sách cho phù hợp nội dung, nhà văn đã dùng nhiều thủ pháp, đa phong cách và đa thể loại. Từ hiện thực tới siêu thực, tới hiện thực huyền ảo. Từ cổ điển kết hợp liêu trai. Từ chi tiết đến ước lệ. Tất cả được sử dụng đan xuyên một cách khéo léo và tinh tế. Những nhân vật của đời thực như Bà Kim Thư, bà Quyên Ái. Âu Dương Văn: chủ tịch tập đoàn AUDUONG Đài Loan. Âu Dương Vệ Trân: Con gái Âu Dương Văn, Phương Minh: Bạn Hiểu Tuệ. -Khải Ninh: Chồng Phương Minh…. Đươc đặt cạnh những người đã mất như Giang Tử Quang, Nhậm Thành, Vĩnh Lộc, Uyển Vy… Khung cảnh đời thực như Thành phố, bệnh viện cho đến vườn tược, những khuôn viên rực rỡ sắc màu cùng dòng sông đêm huyền ảo mà ở đó những con người thật đang sống cuộc đời thật với yêu thương tràn đầy cùng bao toan tính đời thường được đặt bên ngôi làng Chó Lạc, ấp Giáng Hương, Làng Chiến Binh của người chết hay bãi đất trống hoang vu trong ánh chiều ma quái. Những ngôi làng của những linh hồn người lính của cả hai phía trước đây đối địch nhau thì bây giờ vì lí do nào đó di cốt của họ họ chưa được đưa về, vẫn gửi thân nơi rừng hoang núi lạnh. Và họ tụ lại với nhau thành làng, tự an ủi nhau, truyền cho nhau niềm vui. Ở đây thù hận không còn tồn tại. Cũng có lúc những linh hồn lính trẻ nhớ lại trận đánh mà họ đã “Nhắm vào nhau” bằng một chút ưu tư mẫn cảm nhưng rồi lại ôm vai nhau, kể cho nhau nghe về kỉ niệm tươi đẹp ngày chưa nhập ngũ, những yêu thương gửi lại quê nhà…Tất cả những điều đó đã tạo nên một không gian truyện đầy hấp dẫn với cái nhìn vừa thiết thực, vừa nhân bản. Hận thù, chia rẽ, những vết thương hay sự đổ vỡ của con người gây ra cho nhau cuối cùng rồi cũng phủ bụi thời gian chỉ TÌNH YÊU, TÌNH YÊU đích thực và chân thành cùng với lòng vị tha, thông cảm và chia sẻ còn tồn tại. Và đó sẽ là phương thuốc cứu cánh duy nhất có thể hàn gắn và đem lại cho con người sự an nhiên, sự tĩnh tâm để những điều tốt đẹp nảy sinh.

 Dù thời tiết thế nào, khung cảnh nào thì cái đẹp vĩnh cửu như HOA CHO TÌNH YÊU vẫn nở.

Hà Nội tháng 5 Năm 2024


Nhà văn Hoàng Phương Nhâm

 

Tiểu thuyết “Hoa cho tình yêu”  là bản Thánh ca về nỗi đau đất nước thời hậu chiến

VĂN CHINH

Cuộc tìm kiếm nào cũng đáng quý, bởi vì khi còn tìm là còn niềm tin và hy vọng - hai động lực làm nên sức hấp dẫn của kiếp nhân sinh. Mùa hè năm 2024 cư dân mạng xôn xao về sư Thích Minh Tuệ tu 13 hạnh đầu đà, là xôn xao về một cuộc tìm kiếm vĩ đại vậy. Cho nên tiểu thuyết xưa nay nhiều cuốn viết về những chuyến đi tìm. Gần gũi và ngắn hạn như An Đông tìm hoa hồng đẹp tặng người yêu Hiểu Tuệ, như Vĩnh Lộc tìm kiếm hoa đẹp tặng người chiến hữu tử sĩ Nhậm Thành- oái oăm thay, mẹ Hiểu Tuệ - bà Quyên Ái, lại là con gái bà chủ quán hoa Tư Hồng, những năm 1970 là vợ của Vĩnh Lộc. Vậy là trước hàng hoa ấy, đã có ba thế hệ yêu nhau, họ đều giống nhau ở chỗ nhờ chủ quán chọn giúp mình một bông hồng đẹp để tặng người yêu. Một minh triết hàm chứa ẩn dụ về sự NHƯ NHAU giữa các thế hệ người trước tình yêu và cái đẹp dù họ khác nhau niềm tin, vùng miền, chiến tuyến.

Nhưng tìm kiếm hài cốt, linh hồn của người thân và đồng đội chưa rõ danh tính mới thật đáng quý, nhất là ở những người từng đối diện nhau qua họng súng. “Đi tìm đồng đội” là một chuyên mục của đài phát thanh, truyền hình Việt Nam suốt mấy chục năm qua - đồng đội là danh từ chung, nhưng với số đông, nó có nghĩa là quân Giải phóng bao gồm bộ đội miền Bắc theo dọc Trường Sơn mà vào. Chỉ đến tiểu thuyết HOA CHO TÌNH YÊU này, qua nhân vật Nhậm Thành và Vĩnh Lộc, qua các “làng tử sĩ” - nơi quần cư của những linh hồn mà hình hài còn bị mắc kẹt đâu đó trên sa trường, nó có thêm hàm nghĩa mới. Những trang viết về cuộc gặp gỡ giữa hai động đội cũ Nhậm Thành và Vĩnh Lộc lại cũng là cuộc gặp mới giữa Nhậm Thành với Giang Tử Quang là bác sĩ bộ đội giải phóng  - vì Vĩnh Lộc và Giang Tử Quang bị mắc kẹt ở vách đá hoang vu sau nửa thế kỷ trong oải mục họ là hàng xóm của nhau, họ đã thành bạn bè. Đây là những trang văn xuôi mới mẻ, thấm thía tình người lại cũng đầy ẩn dụ.

Người H’Mông có câu, khi đã lấy chồng, sống là người nhà chồng, chết làm ma nhà chồng. Ở “HOA CHO TÌNH YÊU”, câu nói sắt son chung thủy này đã thành nghĩa: “là người Việt, sống trên đất Việt, chết làm ma đất Việt”. Thường nghe câu, trước cái chết, mọi người đều bình đẳng. Đi tiếp định đề ấy, ta nhận ra: Có lẽ, khi qua sông Nại Hà, con người rũ bỏ mọi thành kiến, tội nợ, oan nghiệt để nhập trại di cư trung chuyển trước khi đầu thai đến kiếp khác, ở một không gian khác. Con người theo thời gian nối gót nhau đi đến cuối cuộc đời, khi bị cái chết khựng lại thì theo lực quán tính, linh hồn bị văng về phía trước cùng căn nghiệp vẫn còn dang dở nên tiếp tục hóa giải chăng? 

Nhưng rũ bỏ là một quá trình. Không kỳ hạn, như sông Nại Hà dài rộng ra sao không ai đo được. Như với bà Kim Thư, khi đã già, đã sống rất lâu trong phú quý giàu sang nhưng vẫn không thể quên mối thù những kẻ đã bắn chết chồng bà. Chúng cắt ngang tuổi thanh xuân chất chứa khao khát tình yêu thương, ân ái, để chỉ còn đời mẹ góa con côi dài thăm thẳm. Càng thương nhớ chồng, càng sống lâu trong niềm sắt son chung thủy thì mối hận thù càng như nêm khắc trong lòng của bà. Bà không thể chấp nhận cháu nội bà, bác sĩ An Đông yêu cháu nội kẻ thù, bác sĩ Hiểu Tuệ. Bà không biết có một cõi khác, nơi linh hồn của những cựu thù Vĩnh Lộc, bác sĩ Giang Tử Quang - chồng bà đã dần trở nên thân thiện sau khi cùng tắm nước Nại Hà, lại sống bên nhau suốt nửa thế kỷ ở cõi tuyệt không tiếng súng. 

Tuy hận thù oan trái nhưng cũng kỳ diệu thay, cuộc đời! Trong khuôn viên biệt thự của bà Kim Thư là hoa viên gồm nhiều cây ăn trái cùng kỳ hoa dị thảo. Hoa trong tiểu thuyết này chẳng những làm dịu lại lòng thù hận đối với người sống, hoa còn làm lồng ấp nuôi thần thái Hiểu Tuệ trong thời gian cô bị ngất. Đó là những trang văn đẹp: “Cô thấy mình bị bất ngờ rơi xuống một vùng đất lạ- Hiểu Tuệ ngơ ngác đứng giữa hoang hoải nắng. Cả vùng đất rộng hút tầm mắt chỉ một màu vàng cháy rụi của cây cỏ, mặt đất bị cày xới nham nhở, những hố lớn hố nhỏ đè lên nhau. Không gian khét lẹt mùi hóa chất, mùi thịt nướng quá lửa, mùi thối rữa như mùi động vật đang kỳ phân hủy. Hiểu Tuệ hoảng sợ, cô không hiểu làm sao [... ] khi thấy Nhậm Thành, một người lính Việt Nam cộng hòa như vừa ở mặt trận về. [... ] Anh nắm tay cô chạy nhanh ra khỏi vùng đất chết đó đưa cô đến  một nơi có phong cảnh kì thú đẹp như cảnh nơi tiên giới: Vườn Đà La.” Nhậm Thành bằng tuổi ông nội cô, nhưng ông chết khi còn được gọi là “anh” - nhà thơ Thổ Nhĩ Kỳ Nazim Hikmet, viết về “Em bé Hirosima:” “Bây giờ em vẫn bẩy tuổi thơ/ Những em chết không còn lớn nữa.”  Vâng, hoa trong khuôn viên biệt thự Hoa Tường Vi làm dịu hận thù của bà Kim Thư, hoa ở Vườn Đà La nơi tiếp dẫn những linh hồn trước khi siêu thoát đã thức tỉnh thần thái coi như từ cõi chết của Hiểu Tuệ. Ở đây, hoa vừa là thực thể đời sống, vừa là ngôn ngữ nghệ thuật khiến cả người sống lẫn linh hồn người chết đều nghe hiểu mà không cần phiên dịch. Cái đẹp là ngôn ngữ chung của nhiều loại chúng sinh, nhiều cảnh giới.

Hoa ở hoa viên trong biệt thự Hoa Tường Vi cùng với các cảnh giới Nhậm Thành tìm ra Vĩnh Lộc và Giang Tử Quang, “cuộc sống” đầy phúc âm tại các “làng tử sĩ” rồi ra đã hóa giải hận thù ở bà Kim Thư, sẽ gắn bó hạnh phúc giữa hai cháu nội cựu thù như một tất yếu đời sống. Và đầy sức thuyết phục.

Tôi vừa nói đến phúc âm. Nó là kết tinh giữa ký ức tôi hòa phối với âm hưởng tiểu thuyết này. Có ký ức ấy là vì tôi từng đọc “Người hát thánh ca” - một trong những truyện ngắn khoảng những năm 1980 đã làm nên tên tuổi Hoàng Phương Nhâm. Khi đặt tên truyện, bà chừng như muốn nhận mình chỉ là người hát đồng ca trong nhà thờ và chỉ tụng ca thánh Chúa. Thế rồi, quả nhiên, chúng ta có nhà văn Hoàng Phương Nhâm khiêm nhường. Vậy mà không ngờ, đến tuổi bẩy mươi ngoài, nữ sĩ bỗng vút lên lĩnh xướng bằng giọng đơn ca độc đáo về hậu chiến và hòa hợp dân tộc. Và, khi đã có tư tưởng nghệ thuật hay, văn chương cũng trở nên khoáng hoạt về thi pháp, có hiện thực phối trộn tự nhiên với hiện thực tâm linh đồng hiện, có chương như là thơ văn xuôi không vần, lại có chỗ như bi kịch cổ điển. Đa thanh sắc nhưng nhuần nhuyễn, ấy là thế năng của bút lực dồi dào vào độ chín.  Tiểu thuyết HOA CHO TÌNH YÊU đặt ra những vấn đề lớn lao, nóng bỏng mà êm ái như nghe hát thánh ca mặc dù vẫn có khúc căm hận, có khúc xót xa, có khúc đau đớn muốn gào thét, có khúc lại bùi ngùi do nỗi đau âm u kìm nén quá lâu trong tâm hồn chuyển hóa mà thành. Tiểu thuyết như là bản thánh ca về nỗi đau đất nước, được hát lên trong quá trình hóa giải, như một phương thuốc chữa lành, nó tích cực hơn thời gian. 

Nó xứng đáng để tôi trân trọng đề tựa.

Hà Nội ngày rằm quý Hạ Giáp Thìn

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Trần Hạ Vi và hành trình nỗi nhớ
Phiến hạ là tập thơ thứ 3 của Trần Hạ Vi. Là người quan tâm đến đời sống văn học, tác giả và tác phẩm, nên trong những người Việt sống và viết ở hải ngoại, tôi khá quan tâm đến các tác giả như Trương Anh Tú (Đức), Võ Thị Như Mai (Úc) và Trần Hạ Vi (Canada). Vì thế, tôi tìm đọc Phiến hạ.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm