TIN TỨC

Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-04-24 15:33:30
mail facebook google pos stwis
511 lượt xem

PGS.TS NGUYỄN THANH TÚ

Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.

 

Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, tác phẩm đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng...

 

(Đọc trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim (NXB Hội Nhà văn, 2026) của Châu La Việt)

Một nguyên tắc kiến tạo tượng đài, theo mỹ học tạo hình hiện đại, phải vừa là nơi gặp gỡ, tương tác giữa ánh hồi quang từ quá khứ và những ánh xạ của cuộc sống đương đại, để tạo nên dải quang phổ có độ tán sắc ánh sáng văn hóa. Không gian tượng đài, không chỉ để làm phông nền cho hình tượng, còn khơi gợi ra sự liên tưởng thẩm mỹ về tầm cao tôn kính, chiều sâu triết lý, bề xa nhận thức. Các tượng đài nhân vật anh hùng thường là những biểu tượng có hai lớp nghĩa: Một, là những hình tượng có trong huyền thoại hoặc lịch sử, theo thời gian được bồi đắp nhiều lớp phù sa văn hóa, có tính cộng đồng cao, trở thành một “căn cước dân tộc”. Hai, tập trung khái quát cao độ những ý nghĩa lịch sử - xã hội, nhìn vào đó sẽ thấy phần nào nội dung bản chất thời đại. Trong trường ca mới nhất của Châu La Việt có tên Mặt trời nồng ấm trong tim dựng lại chân dung một con người lịch sử: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Tô Quyền. Các phạm trù chiến công, nhân cách, tình người và ký ức cộng đồng thống nhất hòa làm một để tôn vinh một hình tượng bất tử. Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, tác phẩm đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.

Âm hưởng anh hùng ca vang vọng là giọng điệu chủ đạo, nhưng không phải kiến tạo bằng chất liệu của những trận đánh, những chiến dịch, mà chủ yếu từ tinh thần cống hiến, đạo đức cách mạng và tình người. Nhân vật chính (Tô Quyền) hiện lên như một con người biết khát, biết đói, rưng rưng trước hành động của người mẹ nhường bát cơm trắng cho con, còn má bóc củ khoai bùi; biết nhớ nhà, rất đau đớn trước sự hy sinh của đồng đội... Hình tượng nghệ thuật được đẩy về miền đời thường dân dã, tác giả như cái bản lề khép mở hai không gian: vùng chiến tranh khói lửa và những nét sinh hoạt dung dị đong đầy những khát khao rất con người. Nằm giữa vùng giao thoa hai con sóng sử thi và đời tư, hình tượng vừa cao hơn mặt sóng, vừa “dập dềnh” giữa hai không gian huyền thoại và cá nhân, sinh động, mời gọi.

Theo nguyên tắc “thiêng hóa”, không gian vật lý trải dài từ miền Bắc đến miền Đông Nam bộ, từ Trường Sơn đến Tây Ninh, được “mã hóa” thành không gian ký ức, hiện lên những thử thách cực kỳ ác liệt. Dải Trường Sơn như “chảo lửa”, nơi con người bị thử thách đến tận cùng, để luyện “vàng” ý chí. Đạn bom thử thách, còn có cả cái dữ dằn của tự nhiên thử thách: Nhưng đá có thể nung, còn lòng người không thể chảy/ Trong cái nắng bốn mươi độ, ông vẫn đi như một pho tượng đồng. Cũng miền đất Tây Ninh ấy lại là miền “đất thánh” của tình người, nơi lòng dân, thiên nhiên rừng núi hòa vào nhau thành một thành lũy thép tinh thần vững chắc. Những chương viết về các chiến dịch Junction City, Bàu Ròng, Gò Dầu... không theo lối kể lể, mà được “thơ hóa” bằng nhịp điệu, hình ảnh, ẩn dụ. Bom đạn không phá được rừng, ngược lại, rừng học cách che người bằng chính những vết thương của mình. Thiên nhiên cũng thành một chủ thể lịch sử, đồng hành cùng con người trong cuộc chiến đấu bảo vệ đất nước.

Ký hiệu học (Semeiology) đang là hướng nghiên cứu triển vọng của nhiều chuyên ngành có nhiệm vụ tìm hiểu, cắt nghĩa các biểu tượng (symbol), vì xét đến cùng văn hóa là thế giới của biểu tượng. Là sự kết tinh các giá trị mang bản sắc văn hóa nên biểu tượng mang tính thông điệp rất rõ. Trên thực tế, con người luôn sống và hoạt động trong thế giới biểu tượng. Cuộc sống luôn là sự giải mã để hiểu và tuân theo ý nghĩa biểu tượng. Là sản phẩm của thời đại, làm nên diễn ngôn thời đại, biểu tượng mang tính thời đại rất rõ. Trôi theo dòng lịch sử, con thuyền biểu tượng vừa tô điểm vừa cho thấy một hình dung về độ nông sâu ý nghĩa, giá trị, tầm vóc thời đại của các giai đoạn lịch sử. Trường ca này, ngay tên gọi cũng đã xác lập hướng triển khai vươn tới các biểu tượng. Không chỉ có một, mà có nhiều biểu tượng “mặt trời đỏ” đã trở thành trục liên kết nâng đỡ thi phẩm. “Mặt trời nồng ấm trong tim” giàu sức gợi, đa nghĩa, là lý tưởng cách mạng, là tình phụ tử, nghĩa đồng bào, tình đồng chí, cũng là nguồn năng lượng tinh thần giúp Tô Quyền vượt qua mọi thử thách. Người cha mang theo hình ảnh đứa con trai trong lồng ngực trên suốt mọi nẻo đường dặm dài kháng chiến. “Mặt trời” đứa con không chỉ chiếu sáng con đường chiến đấu, còn sưởi ấm nhân cách người cha. Còn thêm nét nghĩa trao truyền lý tưởng và trách nhiệm công dân trở thành dòng chảy liên tục ở mọi thế hệ. Không chỉ viết về một cá nhân, trường ca còn viết về sự kế tục, về mối liên hệ quá khứ - hiện tại - tương lai trong vận mệnh lịch sử. “Mặt trời” ở đây không chỉ là ánh sáng lý tưởng, còn là sự sống, nguồn năng lượng tinh thần, là dấu nối giữa riêng - chung, giữa cá nhân - dân tộc, giữa cha - con, thế hệ trước và thế hệ sau...

Trường ca xử lý tinh tế mâu thuẫn nghệ thuật: Kiến tạo không gian tâm lý đi liền với sự phá bỏ khoảng cách không gian vật lý. Xây dựng hình tượng người mẹ miền Nam - người “Má Tây Ninh”, đã tạo nên một điểm tựa cảm xúc để tránh cho tác phẩm sa vào nguy cơ khô cứng, một chiều. Cũng đúng với quy luật của chiến tranh cách mạng: Người lính sống trong lòng dân, chiến đấu vì dân. Khi Tô Quyền nghẹn ngào: Má ơi, cho con gọi má là Mẹ.../ Để con gửi vào lòng nỗi nhớ mẹ nơi xa, thì không gian địa lý Bắc - Nam bị xóa nhòa, và mở ra không gian tâm lý nồng nàn ấm áp tình quân dân. Có tình nghĩa nào thiêng liêng hơn tình nghĩa mẹ con đâu? Trường ca đã chạm tới cốt lõi tư tưởng của Bác Hồ: Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân!

 

"Mặt trời nồng ấm trong tim" làm bừng sáng bức chân dung người Mẹ Tây Ninh, cũng là người Mẹ Việt Nam bao bọc cách mạng như bao bọc những đứa con ruột thịt

 

Với thứ ngôn ngữ “tạo ánh sáng” của niềm kính trọng, yêu thương, trường ca “điêu khắc” tượng đài tinh thần người chiến sĩ Tô Quyền ở hai tư cách: người cha (với con); người con (với nhân dân) sinh động và cảm động. Qua đó làm nổi lên một “phông nền” văn hóa Đảng anh hùng - Nhân dân vĩ đại. Tượng đài Tô Quyền còn ánh xạ để toát lên vẻ đẹp chân dung các chiến sĩ đồng đội cao cả, sáng ngời phẩm chất hy sinh vì dân, vì nước. Dù là người chỉ huy mưu lược, là “tấm lá thép của Đảng”, nhưng không có đồng chí đồng đội, ông cũng không thể làm nên chiến công. Dù là người cha được hình tượng con trong lồng ngực tiếp thêm sức mạnh, nhưng không có những người “Mẹ” Tây Ninh, ông cũng không thể hoàn thành nhiệm vụ. Tô Quyền tự nguyện, và đã tự nhiên trở thành người con của đất đai xứ Tây Ninh yêu dấu, là người anh của bao người em đất miền Đông Nam bộ anh hùng. Chi tiết người anh ấy lặng lẽ gửi tiền lương ít ỏi cho Năm Tâm - một người em gái, một nữ đồng chí kiên trung, như là một điều rất đỗi tự nhiên, thường ngày mà cao cả, thiêng liêng vô cùng.

Cảm động hơn cả, là tái hiện, làm bừng sáng bức chân dung người Mẹ Tây Ninh, cũng là người Mẹ Việt Nam bao bọc cách mạng như bao bọc những đứa con ruột thịt. Hình tượng thân thiết ấy như một trục cảm xúc xuyên suốt trường ca. Tiếng gọi Mẹ của đứa con (Tiếng gọi Mẹ rung lên dưới hầm sâu Tây Ninh) không chỉ “rung lên” ở một nơi chốn cụ thể, mà “rung lên” khắp mọi không gian đất nước, “rung lên” trong mọi trái tim, cả trong tâm thức cộng đồng. Để khẳng định: tình mẫu tử vượt qua mọi địa lý, vượt qua mọi bom đạn. Đó cũng là tình với Nhân dân, với Đảng, với Cách mạng làm nên điểm tựa chiến thắng.

Qua vị mặn giọt nước có thể hình dung ra đại dương. Từ một ngôi sao Tô Quyền, có thể nhìn ra cả bầu trời khát vọng hòa bình, lồng lộng gió tự do, chan hòa ánh sáng văn minh của Đảng anh hùng, Nhân dân vĩ đại. “Lòng dân” là trung tâm, cái lõi hạt nhân tư tưởng của trường ca - là những bà má giấu cán bộ dưới hầm, nhường củ khoai, bát cơm; là những đứa trẻ bắt cá trở thành chiến sĩ an ninh... Vốn quý nhất là lòng dân không còn là lời nhân vật (Tô Quyền), đã thành lời chân lý vươn lên tầm phổ quát của một tư tưởng. Cụ thể trong trường ca này, thì với người anh hùng và mọi chiến sĩ (an ninh) phải lấy dân làm gốc, lấy mưu làm vũ khí, lấy sự tin yêu làm lá chắn. Đó cũng là đạo lý truyền thống, là nguyên lý thắng lợi, là chân lý lịch sử - thời đại.

Thế giới hình tượng trường ca đã chuyển hóa lịch sử thành hơi ấm, sức nóng của năng lượng tình yêu; đã miêu tả người anh hùng thành con người bình dị; đã biến ký ức thành ánh sáng dẫn đường, soi đường. Tác phẩm là một diễn ngôn tưởng nhớ - tri ân - giáo dục, nhắc nhở về một định lý sống: Những giá trị tinh thần văn hóa lớn lao hôm nay đang hưởng, chính là được kết nên từ vô vàn hy sinh thầm lặng, từ đạo đức, niềm tin, lẽ sống có từ hôm qua. Muốn “vươn mình” vào tương lai, phải luôn nhớ và luôn được những “mặt trời nồng ấm” hôm qua sưởi nắng đạo lý cách mạng.

Kết cấu đa giọng điệu, có giọng căng thẳng, hồi hộp (truy tìm kẻ phản bội ở ngay trong cơ quan đầu não); có giọng rắn rỏi, quyết tâm (khi giáp mặt kẻ thù); có giọng trữ tình sâu lắng (đêm Trường Sơn, ký ức về làng Xuân Cầu, mẹ già, người vợ tảo tần...) tạo cho trường ca thấm đẫm cảm xúc của đời sống thực tế thời chiến. Bố cục 12 chương, mỗi chương tương ứng một lời đối thoại: với mình; với người vợ, với con; với thiên nhiên, đất nước; với quá khứ lịch sử; với cuộc sống đời thường; với miền Bắc; với mẹ... nhìn tổng thể, trường ca có dáng dấp một bản tổng phổ âm nhạc có âm chủ hùng ca trang trọng, náu trong đó có cả tình ca, tụng ca, tráng ca, hoan ca, có những đoạn chùng xuống lắng đọng chất bi ca. Vượt khỏi mọi đường biên, không còn là đối thoại cụ thể, trường ca đối thoại với lịch sử, với thời đại, để ký gửi một quan niệm: Sức mạnh cách mạng hôm qua và hôm nay trước hết là sức mạnh của tình yêu, của đạo đức, của bổn phận và trách nhiệm, trên hết là tình người.

Nguồn: Báo Văn Nghệ

Bài viết liên quan

Xem thêm
Trần Hạ Vi và hành trình nỗi nhớ
Phiến hạ là tập thơ thứ 3 của Trần Hạ Vi. Là người quan tâm đến đời sống văn học, tác giả và tác phẩm, nên trong những người Việt sống và viết ở hải ngoại, tôi khá quan tâm đến các tác giả như Trương Anh Tú (Đức), Võ Thị Như Mai (Úc) và Trần Hạ Vi (Canada). Vì thế, tôi tìm đọc Phiến hạ.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm