TIN TỨC

Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-04-24 15:33:30
mail facebook google pos stwis
12 lượt xem

PGS.TS NGUYỄN THANH TÚ

Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.

 

Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, tác phẩm đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng...

 

(Đọc trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim (NXB Hội Nhà văn, 2026) của Châu La Việt)

Một nguyên tắc kiến tạo tượng đài, theo mỹ học tạo hình hiện đại, phải vừa là nơi gặp gỡ, tương tác giữa ánh hồi quang từ quá khứ và những ánh xạ của cuộc sống đương đại, để tạo nên dải quang phổ có độ tán sắc ánh sáng văn hóa. Không gian tượng đài, không chỉ để làm phông nền cho hình tượng, còn khơi gợi ra sự liên tưởng thẩm mỹ về tầm cao tôn kính, chiều sâu triết lý, bề xa nhận thức. Các tượng đài nhân vật anh hùng thường là những biểu tượng có hai lớp nghĩa: Một, là những hình tượng có trong huyền thoại hoặc lịch sử, theo thời gian được bồi đắp nhiều lớp phù sa văn hóa, có tính cộng đồng cao, trở thành một “căn cước dân tộc”. Hai, tập trung khái quát cao độ những ý nghĩa lịch sử - xã hội, nhìn vào đó sẽ thấy phần nào nội dung bản chất thời đại. Trong trường ca mới nhất của Châu La Việt có tên Mặt trời nồng ấm trong tim dựng lại chân dung một con người lịch sử: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Tô Quyền. Các phạm trù chiến công, nhân cách, tình người và ký ức cộng đồng thống nhất hòa làm một để tôn vinh một hình tượng bất tử. Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, tác phẩm đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.

Âm hưởng anh hùng ca vang vọng là giọng điệu chủ đạo, nhưng không phải kiến tạo bằng chất liệu của những trận đánh, những chiến dịch, mà chủ yếu từ tinh thần cống hiến, đạo đức cách mạng và tình người. Nhân vật chính (Tô Quyền) hiện lên như một con người biết khát, biết đói, rưng rưng trước hành động của người mẹ nhường bát cơm trắng cho con, còn má bóc củ khoai bùi; biết nhớ nhà, rất đau đớn trước sự hy sinh của đồng đội... Hình tượng nghệ thuật được đẩy về miền đời thường dân dã, tác giả như cái bản lề khép mở hai không gian: vùng chiến tranh khói lửa và những nét sinh hoạt dung dị đong đầy những khát khao rất con người. Nằm giữa vùng giao thoa hai con sóng sử thi và đời tư, hình tượng vừa cao hơn mặt sóng, vừa “dập dềnh” giữa hai không gian huyền thoại và cá nhân, sinh động, mời gọi.

Theo nguyên tắc “thiêng hóa”, không gian vật lý trải dài từ miền Bắc đến miền Đông Nam bộ, từ Trường Sơn đến Tây Ninh, được “mã hóa” thành không gian ký ức, hiện lên những thử thách cực kỳ ác liệt. Dải Trường Sơn như “chảo lửa”, nơi con người bị thử thách đến tận cùng, để luyện “vàng” ý chí. Đạn bom thử thách, còn có cả cái dữ dằn của tự nhiên thử thách: Nhưng đá có thể nung, còn lòng người không thể chảy/ Trong cái nắng bốn mươi độ, ông vẫn đi như một pho tượng đồng. Cũng miền đất Tây Ninh ấy lại là miền “đất thánh” của tình người, nơi lòng dân, thiên nhiên rừng núi hòa vào nhau thành một thành lũy thép tinh thần vững chắc. Những chương viết về các chiến dịch Junction City, Bàu Ròng, Gò Dầu... không theo lối kể lể, mà được “thơ hóa” bằng nhịp điệu, hình ảnh, ẩn dụ. Bom đạn không phá được rừng, ngược lại, rừng học cách che người bằng chính những vết thương của mình. Thiên nhiên cũng thành một chủ thể lịch sử, đồng hành cùng con người trong cuộc chiến đấu bảo vệ đất nước.

Ký hiệu học (Semeiology) đang là hướng nghiên cứu triển vọng của nhiều chuyên ngành có nhiệm vụ tìm hiểu, cắt nghĩa các biểu tượng (symbol), vì xét đến cùng văn hóa là thế giới của biểu tượng. Là sự kết tinh các giá trị mang bản sắc văn hóa nên biểu tượng mang tính thông điệp rất rõ. Trên thực tế, con người luôn sống và hoạt động trong thế giới biểu tượng. Cuộc sống luôn là sự giải mã để hiểu và tuân theo ý nghĩa biểu tượng. Là sản phẩm của thời đại, làm nên diễn ngôn thời đại, biểu tượng mang tính thời đại rất rõ. Trôi theo dòng lịch sử, con thuyền biểu tượng vừa tô điểm vừa cho thấy một hình dung về độ nông sâu ý nghĩa, giá trị, tầm vóc thời đại của các giai đoạn lịch sử. Trường ca này, ngay tên gọi cũng đã xác lập hướng triển khai vươn tới các biểu tượng. Không chỉ có một, mà có nhiều biểu tượng “mặt trời đỏ” đã trở thành trục liên kết nâng đỡ thi phẩm. “Mặt trời nồng ấm trong tim” giàu sức gợi, đa nghĩa, là lý tưởng cách mạng, là tình phụ tử, nghĩa đồng bào, tình đồng chí, cũng là nguồn năng lượng tinh thần giúp Tô Quyền vượt qua mọi thử thách. Người cha mang theo hình ảnh đứa con trai trong lồng ngực trên suốt mọi nẻo đường dặm dài kháng chiến. “Mặt trời” đứa con không chỉ chiếu sáng con đường chiến đấu, còn sưởi ấm nhân cách người cha. Còn thêm nét nghĩa trao truyền lý tưởng và trách nhiệm công dân trở thành dòng chảy liên tục ở mọi thế hệ. Không chỉ viết về một cá nhân, trường ca còn viết về sự kế tục, về mối liên hệ quá khứ - hiện tại - tương lai trong vận mệnh lịch sử. “Mặt trời” ở đây không chỉ là ánh sáng lý tưởng, còn là sự sống, nguồn năng lượng tinh thần, là dấu nối giữa riêng - chung, giữa cá nhân - dân tộc, giữa cha - con, thế hệ trước và thế hệ sau...

Trường ca xử lý tinh tế mâu thuẫn nghệ thuật: Kiến tạo không gian tâm lý đi liền với sự phá bỏ khoảng cách không gian vật lý. Xây dựng hình tượng người mẹ miền Nam - người “Má Tây Ninh”, đã tạo nên một điểm tựa cảm xúc để tránh cho tác phẩm sa vào nguy cơ khô cứng, một chiều. Cũng đúng với quy luật của chiến tranh cách mạng: Người lính sống trong lòng dân, chiến đấu vì dân. Khi Tô Quyền nghẹn ngào: Má ơi, cho con gọi má là Mẹ.../ Để con gửi vào lòng nỗi nhớ mẹ nơi xa, thì không gian địa lý Bắc - Nam bị xóa nhòa, và mở ra không gian tâm lý nồng nàn ấm áp tình quân dân. Có tình nghĩa nào thiêng liêng hơn tình nghĩa mẹ con đâu? Trường ca đã chạm tới cốt lõi tư tưởng của Bác Hồ: Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân!

 

"Mặt trời nồng ấm trong tim" làm bừng sáng bức chân dung người Mẹ Tây Ninh, cũng là người Mẹ Việt Nam bao bọc cách mạng như bao bọc những đứa con ruột thịt

 

Với thứ ngôn ngữ “tạo ánh sáng” của niềm kính trọng, yêu thương, trường ca “điêu khắc” tượng đài tinh thần người chiến sĩ Tô Quyền ở hai tư cách: người cha (với con); người con (với nhân dân) sinh động và cảm động. Qua đó làm nổi lên một “phông nền” văn hóa Đảng anh hùng - Nhân dân vĩ đại. Tượng đài Tô Quyền còn ánh xạ để toát lên vẻ đẹp chân dung các chiến sĩ đồng đội cao cả, sáng ngời phẩm chất hy sinh vì dân, vì nước. Dù là người chỉ huy mưu lược, là “tấm lá thép của Đảng”, nhưng không có đồng chí đồng đội, ông cũng không thể làm nên chiến công. Dù là người cha được hình tượng con trong lồng ngực tiếp thêm sức mạnh, nhưng không có những người “Mẹ” Tây Ninh, ông cũng không thể hoàn thành nhiệm vụ. Tô Quyền tự nguyện, và đã tự nhiên trở thành người con của đất đai xứ Tây Ninh yêu dấu, là người anh của bao người em đất miền Đông Nam bộ anh hùng. Chi tiết người anh ấy lặng lẽ gửi tiền lương ít ỏi cho Năm Tâm - một người em gái, một nữ đồng chí kiên trung, như là một điều rất đỗi tự nhiên, thường ngày mà cao cả, thiêng liêng vô cùng.

Cảm động hơn cả, là tái hiện, làm bừng sáng bức chân dung người Mẹ Tây Ninh, cũng là người Mẹ Việt Nam bao bọc cách mạng như bao bọc những đứa con ruột thịt. Hình tượng thân thiết ấy như một trục cảm xúc xuyên suốt trường ca. Tiếng gọi Mẹ của đứa con (Tiếng gọi Mẹ rung lên dưới hầm sâu Tây Ninh) không chỉ “rung lên” ở một nơi chốn cụ thể, mà “rung lên” khắp mọi không gian đất nước, “rung lên” trong mọi trái tim, cả trong tâm thức cộng đồng. Để khẳng định: tình mẫu tử vượt qua mọi địa lý, vượt qua mọi bom đạn. Đó cũng là tình với Nhân dân, với Đảng, với Cách mạng làm nên điểm tựa chiến thắng.

Qua vị mặn giọt nước có thể hình dung ra đại dương. Từ một ngôi sao Tô Quyền, có thể nhìn ra cả bầu trời khát vọng hòa bình, lồng lộng gió tự do, chan hòa ánh sáng văn minh của Đảng anh hùng, Nhân dân vĩ đại. “Lòng dân” là trung tâm, cái lõi hạt nhân tư tưởng của trường ca - là những bà má giấu cán bộ dưới hầm, nhường củ khoai, bát cơm; là những đứa trẻ bắt cá trở thành chiến sĩ an ninh... Vốn quý nhất là lòng dân không còn là lời nhân vật (Tô Quyền), đã thành lời chân lý vươn lên tầm phổ quát của một tư tưởng. Cụ thể trong trường ca này, thì với người anh hùng và mọi chiến sĩ (an ninh) phải lấy dân làm gốc, lấy mưu làm vũ khí, lấy sự tin yêu làm lá chắn. Đó cũng là đạo lý truyền thống, là nguyên lý thắng lợi, là chân lý lịch sử - thời đại.

Thế giới hình tượng trường ca đã chuyển hóa lịch sử thành hơi ấm, sức nóng của năng lượng tình yêu; đã miêu tả người anh hùng thành con người bình dị; đã biến ký ức thành ánh sáng dẫn đường, soi đường. Tác phẩm là một diễn ngôn tưởng nhớ - tri ân - giáo dục, nhắc nhở về một định lý sống: Những giá trị tinh thần văn hóa lớn lao hôm nay đang hưởng, chính là được kết nên từ vô vàn hy sinh thầm lặng, từ đạo đức, niềm tin, lẽ sống có từ hôm qua. Muốn “vươn mình” vào tương lai, phải luôn nhớ và luôn được những “mặt trời nồng ấm” hôm qua sưởi nắng đạo lý cách mạng.

Kết cấu đa giọng điệu, có giọng căng thẳng, hồi hộp (truy tìm kẻ phản bội ở ngay trong cơ quan đầu não); có giọng rắn rỏi, quyết tâm (khi giáp mặt kẻ thù); có giọng trữ tình sâu lắng (đêm Trường Sơn, ký ức về làng Xuân Cầu, mẹ già, người vợ tảo tần...) tạo cho trường ca thấm đẫm cảm xúc của đời sống thực tế thời chiến. Bố cục 12 chương, mỗi chương tương ứng một lời đối thoại: với mình; với người vợ, với con; với thiên nhiên, đất nước; với quá khứ lịch sử; với cuộc sống đời thường; với miền Bắc; với mẹ... nhìn tổng thể, trường ca có dáng dấp một bản tổng phổ âm nhạc có âm chủ hùng ca trang trọng, náu trong đó có cả tình ca, tụng ca, tráng ca, hoan ca, có những đoạn chùng xuống lắng đọng chất bi ca. Vượt khỏi mọi đường biên, không còn là đối thoại cụ thể, trường ca đối thoại với lịch sử, với thời đại, để ký gửi một quan niệm: Sức mạnh cách mạng hôm qua và hôm nay trước hết là sức mạnh của tình yêu, của đạo đức, của bổn phận và trách nhiệm, trên hết là tình người.

Nguồn: Báo Văn Nghệ

Bài viết liên quan

Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm