TIN TỨC

Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-04-24 15:33:30
mail facebook google pos stwis
252 lượt xem

PGS.TS NGUYỄN THANH TÚ

Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.

 

Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, tác phẩm đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng...

 

(Đọc trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim (NXB Hội Nhà văn, 2026) của Châu La Việt)

Một nguyên tắc kiến tạo tượng đài, theo mỹ học tạo hình hiện đại, phải vừa là nơi gặp gỡ, tương tác giữa ánh hồi quang từ quá khứ và những ánh xạ của cuộc sống đương đại, để tạo nên dải quang phổ có độ tán sắc ánh sáng văn hóa. Không gian tượng đài, không chỉ để làm phông nền cho hình tượng, còn khơi gợi ra sự liên tưởng thẩm mỹ về tầm cao tôn kính, chiều sâu triết lý, bề xa nhận thức. Các tượng đài nhân vật anh hùng thường là những biểu tượng có hai lớp nghĩa: Một, là những hình tượng có trong huyền thoại hoặc lịch sử, theo thời gian được bồi đắp nhiều lớp phù sa văn hóa, có tính cộng đồng cao, trở thành một “căn cước dân tộc”. Hai, tập trung khái quát cao độ những ý nghĩa lịch sử - xã hội, nhìn vào đó sẽ thấy phần nào nội dung bản chất thời đại. Trong trường ca mới nhất của Châu La Việt có tên Mặt trời nồng ấm trong tim dựng lại chân dung một con người lịch sử: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Tô Quyền. Các phạm trù chiến công, nhân cách, tình người và ký ức cộng đồng thống nhất hòa làm một để tôn vinh một hình tượng bất tử. Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, tác phẩm đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.

Âm hưởng anh hùng ca vang vọng là giọng điệu chủ đạo, nhưng không phải kiến tạo bằng chất liệu của những trận đánh, những chiến dịch, mà chủ yếu từ tinh thần cống hiến, đạo đức cách mạng và tình người. Nhân vật chính (Tô Quyền) hiện lên như một con người biết khát, biết đói, rưng rưng trước hành động của người mẹ nhường bát cơm trắng cho con, còn má bóc củ khoai bùi; biết nhớ nhà, rất đau đớn trước sự hy sinh của đồng đội... Hình tượng nghệ thuật được đẩy về miền đời thường dân dã, tác giả như cái bản lề khép mở hai không gian: vùng chiến tranh khói lửa và những nét sinh hoạt dung dị đong đầy những khát khao rất con người. Nằm giữa vùng giao thoa hai con sóng sử thi và đời tư, hình tượng vừa cao hơn mặt sóng, vừa “dập dềnh” giữa hai không gian huyền thoại và cá nhân, sinh động, mời gọi.

Theo nguyên tắc “thiêng hóa”, không gian vật lý trải dài từ miền Bắc đến miền Đông Nam bộ, từ Trường Sơn đến Tây Ninh, được “mã hóa” thành không gian ký ức, hiện lên những thử thách cực kỳ ác liệt. Dải Trường Sơn như “chảo lửa”, nơi con người bị thử thách đến tận cùng, để luyện “vàng” ý chí. Đạn bom thử thách, còn có cả cái dữ dằn của tự nhiên thử thách: Nhưng đá có thể nung, còn lòng người không thể chảy/ Trong cái nắng bốn mươi độ, ông vẫn đi như một pho tượng đồng. Cũng miền đất Tây Ninh ấy lại là miền “đất thánh” của tình người, nơi lòng dân, thiên nhiên rừng núi hòa vào nhau thành một thành lũy thép tinh thần vững chắc. Những chương viết về các chiến dịch Junction City, Bàu Ròng, Gò Dầu... không theo lối kể lể, mà được “thơ hóa” bằng nhịp điệu, hình ảnh, ẩn dụ. Bom đạn không phá được rừng, ngược lại, rừng học cách che người bằng chính những vết thương của mình. Thiên nhiên cũng thành một chủ thể lịch sử, đồng hành cùng con người trong cuộc chiến đấu bảo vệ đất nước.

Ký hiệu học (Semeiology) đang là hướng nghiên cứu triển vọng của nhiều chuyên ngành có nhiệm vụ tìm hiểu, cắt nghĩa các biểu tượng (symbol), vì xét đến cùng văn hóa là thế giới của biểu tượng. Là sự kết tinh các giá trị mang bản sắc văn hóa nên biểu tượng mang tính thông điệp rất rõ. Trên thực tế, con người luôn sống và hoạt động trong thế giới biểu tượng. Cuộc sống luôn là sự giải mã để hiểu và tuân theo ý nghĩa biểu tượng. Là sản phẩm của thời đại, làm nên diễn ngôn thời đại, biểu tượng mang tính thời đại rất rõ. Trôi theo dòng lịch sử, con thuyền biểu tượng vừa tô điểm vừa cho thấy một hình dung về độ nông sâu ý nghĩa, giá trị, tầm vóc thời đại của các giai đoạn lịch sử. Trường ca này, ngay tên gọi cũng đã xác lập hướng triển khai vươn tới các biểu tượng. Không chỉ có một, mà có nhiều biểu tượng “mặt trời đỏ” đã trở thành trục liên kết nâng đỡ thi phẩm. “Mặt trời nồng ấm trong tim” giàu sức gợi, đa nghĩa, là lý tưởng cách mạng, là tình phụ tử, nghĩa đồng bào, tình đồng chí, cũng là nguồn năng lượng tinh thần giúp Tô Quyền vượt qua mọi thử thách. Người cha mang theo hình ảnh đứa con trai trong lồng ngực trên suốt mọi nẻo đường dặm dài kháng chiến. “Mặt trời” đứa con không chỉ chiếu sáng con đường chiến đấu, còn sưởi ấm nhân cách người cha. Còn thêm nét nghĩa trao truyền lý tưởng và trách nhiệm công dân trở thành dòng chảy liên tục ở mọi thế hệ. Không chỉ viết về một cá nhân, trường ca còn viết về sự kế tục, về mối liên hệ quá khứ - hiện tại - tương lai trong vận mệnh lịch sử. “Mặt trời” ở đây không chỉ là ánh sáng lý tưởng, còn là sự sống, nguồn năng lượng tinh thần, là dấu nối giữa riêng - chung, giữa cá nhân - dân tộc, giữa cha - con, thế hệ trước và thế hệ sau...

Trường ca xử lý tinh tế mâu thuẫn nghệ thuật: Kiến tạo không gian tâm lý đi liền với sự phá bỏ khoảng cách không gian vật lý. Xây dựng hình tượng người mẹ miền Nam - người “Má Tây Ninh”, đã tạo nên một điểm tựa cảm xúc để tránh cho tác phẩm sa vào nguy cơ khô cứng, một chiều. Cũng đúng với quy luật của chiến tranh cách mạng: Người lính sống trong lòng dân, chiến đấu vì dân. Khi Tô Quyền nghẹn ngào: Má ơi, cho con gọi má là Mẹ.../ Để con gửi vào lòng nỗi nhớ mẹ nơi xa, thì không gian địa lý Bắc - Nam bị xóa nhòa, và mở ra không gian tâm lý nồng nàn ấm áp tình quân dân. Có tình nghĩa nào thiêng liêng hơn tình nghĩa mẹ con đâu? Trường ca đã chạm tới cốt lõi tư tưởng của Bác Hồ: Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân!

 

"Mặt trời nồng ấm trong tim" làm bừng sáng bức chân dung người Mẹ Tây Ninh, cũng là người Mẹ Việt Nam bao bọc cách mạng như bao bọc những đứa con ruột thịt

 

Với thứ ngôn ngữ “tạo ánh sáng” của niềm kính trọng, yêu thương, trường ca “điêu khắc” tượng đài tinh thần người chiến sĩ Tô Quyền ở hai tư cách: người cha (với con); người con (với nhân dân) sinh động và cảm động. Qua đó làm nổi lên một “phông nền” văn hóa Đảng anh hùng - Nhân dân vĩ đại. Tượng đài Tô Quyền còn ánh xạ để toát lên vẻ đẹp chân dung các chiến sĩ đồng đội cao cả, sáng ngời phẩm chất hy sinh vì dân, vì nước. Dù là người chỉ huy mưu lược, là “tấm lá thép của Đảng”, nhưng không có đồng chí đồng đội, ông cũng không thể làm nên chiến công. Dù là người cha được hình tượng con trong lồng ngực tiếp thêm sức mạnh, nhưng không có những người “Mẹ” Tây Ninh, ông cũng không thể hoàn thành nhiệm vụ. Tô Quyền tự nguyện, và đã tự nhiên trở thành người con của đất đai xứ Tây Ninh yêu dấu, là người anh của bao người em đất miền Đông Nam bộ anh hùng. Chi tiết người anh ấy lặng lẽ gửi tiền lương ít ỏi cho Năm Tâm - một người em gái, một nữ đồng chí kiên trung, như là một điều rất đỗi tự nhiên, thường ngày mà cao cả, thiêng liêng vô cùng.

Cảm động hơn cả, là tái hiện, làm bừng sáng bức chân dung người Mẹ Tây Ninh, cũng là người Mẹ Việt Nam bao bọc cách mạng như bao bọc những đứa con ruột thịt. Hình tượng thân thiết ấy như một trục cảm xúc xuyên suốt trường ca. Tiếng gọi Mẹ của đứa con (Tiếng gọi Mẹ rung lên dưới hầm sâu Tây Ninh) không chỉ “rung lên” ở một nơi chốn cụ thể, mà “rung lên” khắp mọi không gian đất nước, “rung lên” trong mọi trái tim, cả trong tâm thức cộng đồng. Để khẳng định: tình mẫu tử vượt qua mọi địa lý, vượt qua mọi bom đạn. Đó cũng là tình với Nhân dân, với Đảng, với Cách mạng làm nên điểm tựa chiến thắng.

Qua vị mặn giọt nước có thể hình dung ra đại dương. Từ một ngôi sao Tô Quyền, có thể nhìn ra cả bầu trời khát vọng hòa bình, lồng lộng gió tự do, chan hòa ánh sáng văn minh của Đảng anh hùng, Nhân dân vĩ đại. “Lòng dân” là trung tâm, cái lõi hạt nhân tư tưởng của trường ca - là những bà má giấu cán bộ dưới hầm, nhường củ khoai, bát cơm; là những đứa trẻ bắt cá trở thành chiến sĩ an ninh... Vốn quý nhất là lòng dân không còn là lời nhân vật (Tô Quyền), đã thành lời chân lý vươn lên tầm phổ quát của một tư tưởng. Cụ thể trong trường ca này, thì với người anh hùng và mọi chiến sĩ (an ninh) phải lấy dân làm gốc, lấy mưu làm vũ khí, lấy sự tin yêu làm lá chắn. Đó cũng là đạo lý truyền thống, là nguyên lý thắng lợi, là chân lý lịch sử - thời đại.

Thế giới hình tượng trường ca đã chuyển hóa lịch sử thành hơi ấm, sức nóng của năng lượng tình yêu; đã miêu tả người anh hùng thành con người bình dị; đã biến ký ức thành ánh sáng dẫn đường, soi đường. Tác phẩm là một diễn ngôn tưởng nhớ - tri ân - giáo dục, nhắc nhở về một định lý sống: Những giá trị tinh thần văn hóa lớn lao hôm nay đang hưởng, chính là được kết nên từ vô vàn hy sinh thầm lặng, từ đạo đức, niềm tin, lẽ sống có từ hôm qua. Muốn “vươn mình” vào tương lai, phải luôn nhớ và luôn được những “mặt trời nồng ấm” hôm qua sưởi nắng đạo lý cách mạng.

Kết cấu đa giọng điệu, có giọng căng thẳng, hồi hộp (truy tìm kẻ phản bội ở ngay trong cơ quan đầu não); có giọng rắn rỏi, quyết tâm (khi giáp mặt kẻ thù); có giọng trữ tình sâu lắng (đêm Trường Sơn, ký ức về làng Xuân Cầu, mẹ già, người vợ tảo tần...) tạo cho trường ca thấm đẫm cảm xúc của đời sống thực tế thời chiến. Bố cục 12 chương, mỗi chương tương ứng một lời đối thoại: với mình; với người vợ, với con; với thiên nhiên, đất nước; với quá khứ lịch sử; với cuộc sống đời thường; với miền Bắc; với mẹ... nhìn tổng thể, trường ca có dáng dấp một bản tổng phổ âm nhạc có âm chủ hùng ca trang trọng, náu trong đó có cả tình ca, tụng ca, tráng ca, hoan ca, có những đoạn chùng xuống lắng đọng chất bi ca. Vượt khỏi mọi đường biên, không còn là đối thoại cụ thể, trường ca đối thoại với lịch sử, với thời đại, để ký gửi một quan niệm: Sức mạnh cách mạng hôm qua và hôm nay trước hết là sức mạnh của tình yêu, của đạo đức, của bổn phận và trách nhiệm, trên hết là tình người.

Nguồn: Báo Văn Nghệ

Bài viết liên quan

Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm