- Lý luận - Phê bình
- Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
NINH GIANG THU CÚC
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - “Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...

Nữ sĩ Tuệ Mai
Về phía trời xanh nhỏ nhắn về khuôn khổ nhưng hình thức thật trang trọng, cổ điển, tao nhã, không gian bàng bạc khói mây với đôi hoàng hạc đang xoải cánh bay về phía chân trời - nơi có bến mộng “Văn Chương” đang chờ người bút mực...
Phần gấp lại của bìa một - tác giả với ai đây mà đằm thắm thế? Lại có dòng chữ dưới tấm chân dung: Ru mình vào giấc xuân xanh, cho lòng thơ tắm suối lành mẫu thân. Mẫu thân nào mà chụp hình chân dung cùng Tuệ Mai để in lên tác phẩm trân trọng như thế, trong khi cụ bà sinh ra Tuệ Mai qua đời đã mấy mươi năm? Sự tò mò đã khiến người đọc đi tìm đáp số, thì đây:
Là em chung chí hướng anh
Là con yêu mẹ dòng xanh nhiệm mầu
(Ví mà mang nặng đẻ đau
Mẹ thương mẹ xót, thì câu: đã đành...)
Ru mình vào giấc xuân xanh
Cho lòng thơ tắm suối lành mẫu thân
Suối ơi, suối mát vô ngần
Tình ơi, hoa suối Quế Lâm ngọt ngào
Thì ra thế này trời ạ! “Mẫu thân” mà Tuệ Mai âu yếm nép mình vào trong tấm chân dung in ở bìa một tập “Về phía trời xanh” là cụ bà Quế Lâm - bậc sinh thành ra nhà thơ tài hoa Phạm Thiên Thư và cũng là vị tu sĩ bất đắc dĩ đã từng tự giễu mình:
“Vạc rằng thưa bác Thiên Thư
Mặc chi cái áo thiền sư ỡm ờ...”
Vị “Thiền sư” sẽ được bàn đến trong bài cảm nhận này:
Tuệ Mai sau 2 cuộc tình nửa thực nửa hư - một với người yêu đầu đời đã gãy gánh vì tử biệt và một cuộc hôn nhân nặng nghĩa bạn bầu cùng cư sĩ Nguyễn Văn Nh. Rồi vị cư sĩ chồng hờ độ lượng này cũng phất tay rũ áo tìm về cõi Phật, Tuệ Mai sống âm thầm bầu bạn với trời đất trăng sao cỏ cây hoa lá, dấn thân cho sự nghiệp và dõi mắt tìm chưa thấy khách tương tri...
Nhưng rồi giờ G đã điểm... Nửa linh hồn của Tuệ Mai bấy lâu thất lạc đã tìm về gõ cửa sau tháng năm phiêu bạt phong trần trong ngục tù sáu nẻo nhân gian:
Bằng nhân duyên tự kiếp nào man mác
Bằng tâm hồn chờ đợi suốt mùa thơ
Bằng tin yêu vô hạn - thực không ngờ
Mình tái ngộ trong cảnh tình rất lạ
(Sợi gió xanh - TM)
Đó là sự gặp gỡ định mệnh giữa hai tâm hồn đồng điệu, nhưng khổ thay: Rất không thuận của mắt nhìn thiên hạ. Mặc kệ thiên hạ họ cứ:
Nhưng mùa xanh vẫn nở dưới trời hồng
Nhưng trăm hoa vẫn nở đẹp đôi lòng
Là suối biếc sông lam tình quyến luyến
Trong im lặng nghe muôn vàn trìu mến
Thân xa thân mà tim thực gần tim
Là mảnh đời nhau - là khát khao tìm
Là gặp lại chính mình hai của một
(Sợi gió xanh - TM)
Sự khẳng định của Tuệ Mai chắc như đinh đóng cột cho dù cả hai đều biết: Rất không thuận của mắt nhìn thiên hạ. Nhưng khi yêu rồi, khi tình yêu đến rồi, thì không có trở ngại nào làm họ chùn bước, huống chi họ đã cùng suy nghĩ:
“Duyên trời gặp một giai nhân
Cũng dòng thanh khí là Trần Nguyện Mai”
(Đoạn trường vô thanh - PTT)
Mắt nàng như chiếc nôi êm
Ru hồn tôi ngủ ngàn đêm tuyệt vời
Em là hoa hiện dáng người
Tôi là cánh bướm cung trời về say...
(Động hoa vàng - PTT)
Họ đến với nhau do “đồng khí tương cầu” cho nên mọi trở ngại về hình tướng của nhà sư kiêm nhà thơ đều vô nghĩa, Tuệ Mai bơi lội trong bầu trời xanh của hai bờ mộng thực:
Như hoa mãi nở theo người
Dẫu xa thân xác liền đôi tấm lòng
Người về gieo hạt nắng trong
Cho tôi chắp cánh mở vòng chiêm bao
Cho tôi dòng biếc trăng sao
Tin yêu đã tự kiếp nào, thưa anh
(Thưa anh - TTTM)
Vâng! Tin yêu đã cho Tuệ Mai thấy không gian toàn màu hy vọng - một màu xanh - về phía trời xanh - vào giấc xuân xanh:
Trưa hồng rực rỡ nắng bay
Hiên văn mái lá bóng cây xanh đùa
Thả mình trên võng vàng tơ
Nghe tôi đang sống phút giờ bình yên
Trong thôn xóm những thời hiền
Tiếng chim gáy rụng bên thềm gợn rêu
(Vào giấc xuân xanh - TM)
Thì ra cảm giác tìm kiếm đã đến với Tuệ Mai từ lâu lắm, từ khi “Bay nghiêng vòng đời” mà ta thấy cái nao nức chưa định vị một phía trời xanh để nhìn phương hướng cho mấy kiếp bay tìm:
Hoa sớm đẹp như thơ
Thơ buông từ cánh gió
Gió hiền thương tình ta
Một thuở nào dang dở
Một thuở nào mây xanh
Ngậm ngùi xa núi biếc
Một thuở nào chim xanh
Phải lìa đôi tạm biệt
Bây giờ đôi cánh chim
Giữa vòm cao gặp lại
Sau mấy kiếp bay tìm
Nhìn nhau như buổi mới
Anh bước cao biển động
Em gót dài sông mưa
Dâng hoa vào cuộc sống
Tha thiết mấy cho vừa
(Mấy kiếp bay tìm - TM)
Họ đã tìm và đã gặp. Mừng thay!
Người về sao nở trên tay
Với hài đẫm nguyệt thêm dài gót mơ.
(Động hoa vàng - PTT)
Hát ru dân tộc ta có câu Thương nhau tam tứ núi cũng trèo / Ngũ lục sông cũng lội thất bát đèo cũng qua thì trong cuộc tình của Tuệ Mai, người trong cuộc cũng đã từng thi vị hóa:
Cho dù thất suối tam đèo
Chút hương hoa cũ ướp theo bấy ngày
Mới về em vội qua đây
Ẩn lan gởi lượng trầm này kính dâng...
(Đoạn trường vô thanh - PTT)
Một mối tình đẹp như cổ tích, mộng mị như liêu trai, nhẹ nhàng thanh thoát như tiên đồng ngọc nữ:
Sáng nay vẫn cảnh “Văn Chương”
Lưng non đôi mái khói hương phụng thờ...
(Đoạn trường vô thanh - PTT)
... Núi vuông Thiên ấn ngọc lam
Sông nghiêng lụa đậm dấu chàm thiên thư
Rừng tùng thoảng mõ trầm tư
Nổi trôi chuỗi hạt thái hư bềnh bồng
Thảo đường lập phái thi Tông
Trường sơn vẽ một nét cong vách ngời
Mênh mang mây trải gấm phơi
Hoa lay tưởng ngọn bút trời phê văn
(Đoạn trường vô thanh - PTT)
Tuệ Mai trải lòng, trái tim để dâng tặng và đón nhận tấm tình của người mình yêu như mưa đông đón chờ nắng hạ:
Phòng nhỏ trầm thơm, phòng nhỏ hoa
Bâng khuâng trong đó dáng ai chờ
Bút nghiêng giấy mỏng dòng thơ biếc
Thơ biếc xanh hàng mực biếc pha
Rất nhẹ... mình trôi theo nắng mai
Qua khuôn cửa mảnh tới bên người
Thướt tha tia sớm vờn trang sách
Dòng chữ tươi trong hạt nắng tươi
Gác bút, nhìn thơ, anh mỉm cười
Này em, áo lụa bạch reo vui
Có nghe cánh hạc đương băng gió
Cùng ánh xuân về núi đón mai
(Hạt nắng tươi - TM)
Với Tuệ Mai anh là nắng tươi sưởi ấm, là gió mát trưa hè, là nhật nguyệt sáng soi trong màn đêm u tối:
Ô! Mặt trời có thật
Mầm cây vươn lên rồi
Tôi mỉm cười hôn đất
Chào bóng tối đang lui
(Hôn đất - TM)
Sáng, chiều, trưa, sớm Tuệ Mai luôn mang tâm trạng:
Ngóng anh, phiền cả dòng mưa
Chim không gọi nắng, mắt chờ lạnh tê
Cổng xanh lá ngả thầm thì
Than mây tiếp nối giọt chia ngăn người
Nghiêng cành lãng đãng ngâu rơi
Mưa buông rèm nước gác mai nhạt nhòa
Tưởng rằng hương thoáng trầm xa
Bút anh mực thắm, ý hoa dâng tràn
Hạt lành chữ nở từng trang
Giữ thơm dân tộc muôn ngàn cánh tơ
Lậu Mai cửa khép, xin chờ
Đón anh, anh với suối tơ mây hồng
(Chim không gọi nắng - TM)
Với nữ sĩ Tuệ Mai từ tuổi dậy thì đến giờ, đây là mối tình đẹp nhất, thơ nhất, lý tưởng nhất chăng? Đúng thế! Bằng trực giác, Ninh Giang Thu Cúc - trả lời thay cho người thơ khuất núi với tất cả sự thương quý... Thuở sinh thời những tháng ngày đẹp nhất của Tuệ Mai nếu không quá chủ quan, thì Ninh Giang Thu Cúc nghĩ rằng đó là những tháng ngày Tuệ Mai và Phạm Thiên Thư yêu nhau. Bởi vì đây là giai đoạn mà Tuệ Mai sáng tác sung sức nhất và ý thơ tươi mát nhất. Cứ đọc kỹ 23 bài thơ trong “Về phía trời xanh” sẽ thấy bài nào ngôn ngữ cũng như reo cười và tựa đề của bài nào cũng trẻ trung đầy sức sống, mối tình lớn này là lực đẩy, là chất xúc tác cho cường độ làm việc của Tuệ Mai, hình như hai mươi bốn giờ trong ngày Tuệ Mai đều dành cho Phạm Thiên Thư, nhìn đâu Tuệ Mai cũng thấy đẹp, tình yêu ngự trị mọi nơi chốn, mọi thời khắc.
Hạnh phúc mịn màng như cát nằm lòng suối
Hạnh phúc long lanh như sỏi mới ngâm mình
Vào tình yêu của anh
Em như con chim nhỏ
Bay trong lòng trời xanh
Tung tăng theo nhịp gió
Em như làn gió xanh
Trong vườn hương ngây ngất
Em như dòng nước xanh
Tới biển hồng bát ngát
Em bắt đầu những đêm
Mơ về phương trìu mến
Em bắt đầu những đêm
Vào chiêm bao âu yếm
Em xin làm mưa mau
Buông sợi mềm óng ả
Trong những giờ đợi nhau
Trong những ngày mong nhớ
Em xin làm dây hoa
Nương mình bên đại thụ
(Ôi! Tình yêu tình yêu
từ đây tôi bé nhỏ)
(Chiêm bao âu yếm - TM)
“Trai tham sắc, gái tham tài” - Câu nói dân gian mộc mạc thế mà không sai một tí ti nào... Tình yêu của người phụ nữ bao giờ cũng bắt đầu bằng sự kính phục và ngưỡng mộ bởi thế khi đã gặp được mẫu người như ước vọng, người phụ nữ sẵn lòng hóa thân thành kẻ nô lệ tôi đòi để phục vụ người họ yêu trong sự tự nguyện, trong hạnh phúc được chinh phục bởi tài năng, trí tuệ, đức độ... Ngoại hình của đàn ông chỉ là thứ yếu, họ chỉ cần cao hơn phụ nữ một cái đầu là đủ lắm rồi (?!) lúc ấy họ sẽ biến thành cây tùng cây bách để:
Em xin làm dây hoa
Nương mình bên đại thụ
(Chiêm bao âu yếm - TM)
Em xin làm dây hoa nhỏ bé yếu ớt bên cây đại thụ vững vàng, em xin làm học trò ngoan bên ông thầy thông minh uyên bác, em xin làm đêm tối để anh là mặt trời soi sáng cõi dân gian, và Phạm Thiên Thư là Mặt Trời của Tuệ Mai: Hoàng hôn đưa Mặt Trời về nhà, Mặt Trời về nhà có tình yêu đợi đón. Tình yêu của Mặt Trời chưa bao giờ phiền muộn. Tình yêu của Mặt Trời trong như ánh mắt trẻ thơ.
Mướt say như làn da thiếu nữ nương tơ xanh áo đợi chờ.
Mặt Trời mang quà về cho Tình yêu đó,
Quà sớm nay rừng xanh góp tiếng chim ca.
Trưa xóm thôn trao tặng những lời ru
Và chiều lên gởi bao lời tình tự.
Tình yêu Mặt Trời đeo chuỗi âm thanh chim hót
Ngủ ngoan lành trong tiếng hát ru em
Còn cất dành những tình tự chiều êm
Để ấm áp ngày mai khi Mặt Trời đi vắng
(Tình yêu Mặt Trời - TM)
Người ta bảo, khi yêu người già hóa trẻ, người trẻ hóa thành bé con. Khi Tuệ Mai gặp lại một nửa của mình thì người phụ nữ làm thơ này đã ở vào giai đoạn thật viên mãn về nhan sắc, trí tuệ, tuổi tác, vậy mà sao lúc nào ta cũng thấy bà nao nức tươi roi rói:
Nắng lên rồi nắng lên rồi
Trái tim hồng hào máu mới
Bằng mắt nắng tươi
Tôi nhìn rõ người
Người nhận rõ tôi
Tôi đang yêu người
Người đang yêu tôi
Tôi thực yêu người
Người thực yêu tôi
Hồng hào nắng mới...
(Hồng hào nắng mới - TM)
Tình yêu sao mà dễ thương đến lạ, quyền năng đến lạ, phép mầu đến lạ như phù thủy vung chiếc đũa thần kỳ diệu biến đá thành hoa:
Nghĩ suốt đời là trẻ tập đi
Chân bước hẫng tay quờ không trúng đích
Nghĩ suốt đời nào có tươi chi
Múi thân thể vắt cho thật bã
Nhưng nay - người đến - bỗng dưng
Vừng dương chào mở nụ hồng
Cánh tôi lướt vào xuân chính
Yêu đời vô thủy vô chung
(Hồng hào nắng mới - TM)
Và đêm bỗng thành mặt nước,
Mặt nước mênh mang của dòng sông ngọt mát.
Nàng khoan khoái ngâm mình,
Những sợi tơ rũ xuống
Thành khuôn mặt anh,
Thành thân thể anh
Và anh thành sóng.
Sóng cuồn cuộn ôm nàng
Nàng thành hơi thở
Sóng thành sợi tơ
(Xuân đêm hò hẹn - TM)
Mãnh liệt và kỳ diệu, tín ngưỡng và mê hoặc, ai tín đồ và ai giáo chủ trong buổi đăng quang này:
Đêm hẹn hò ngây ngất trầm hương
Rất trạng nghiêm đêm mở thánh đường
Rồi ánh nến, rồi lời kinh, rồi bàn tay phép lạ
Phù trợ nàng nhập với lá hoa đêm
(Xuân đêm hò hẹn - TM)
Một tình yêu quá đẹp dù có muộn màng cho Tuệ Mai nhưng quan trọng chi chuyện sớm muộn, bởi:
Một ngày tựa mạn thuyền rồng
Còn hơn chín kiếp nằm trong thuyền chài
Dẫn cặp ca dao trên kẻ viết bài này chỉ muốn ví von duy nhất chuyện hòa hợp, đồng cảm trong tình yêu của nam nữ. Ngoài ra, không dùng phương pháp so sánh ấy cho các trường hợp khác...
Dạo ấy, khoảng thập niên 70 (thế kỷ XX) dân văn nghệ và bằng hữu của Tuệ Mai tại Sài Gòn ai cũng biết chuyện yêu đương của Tuệ Mai, rất nhiều người không đồng ý vì cho đó là chuyện trái khoáy.
Một: Tuệ Mai lớn tuổi hơn Phạm Thiên Thư.
Hai: Phạm Thiên Thư là người xuất gia, là tu sĩ Phật giáo.
Nhưng cũng có người thông cảm cho Tuệ Mai bởi biết bà rất thiếu thốn một thứ tình yêu đích thực của hai tâm hồn đồng cảm trong nhiều lãnh vực thuộc phạm trù văn học... mà Phạm Thiên Thư là đối tượng có đủ điều kiện đáp ứng nhu cầu trí tuệ của nữ thi nhân này. Lại nữa, sự đi tu của Phạm Thiên Thư chỉ là biện pháp tình thế (trốn lính).
Phía gia đình của Phạm Thiên Thư, bà cụ Quế Lâm và hai người chị của nhà thơ cũng khuyến khích cuộc hôn nhân ấy vì cụ Quế Lâm rất thương Tuệ Mai và cụ chỉ có một con trai duy nhất là Phạm Kim Long tức nhà thơ tài hoa Phạm Thiên Thư đi tu với pháp hiệu Tuệ Không. Cụ bà biểu Phạm Thiên Thư hoàn tục để chính thức làm đám cưới với Tuệ Mai. Về phần Phạm Thiên Thư chẳng có chi trở ngại bởi ông đã từng viết:
Đố ai tát cạn mạch sầu
Thì ta để tóc lên cầu đón ai
(Động hoa vàng - PTT)
Đến lúc gặp “ai” rồi thì ông đã như một bậc đế vương ngày xưa chỉ mong nghe được tiếng em cười dù phải xé cả ngàn mét lụa:
Từ em hé nụ cười huyền
Mùa thu đi mất trên miền cỏ hoa
(Động hoa vàng - PTT)
Em cười là lá vàng, là gió heo may tan biến chỉ còn mùa xuân về ngự trên miền cỏ lạ hoa thơm. Một tình yêu có yếu tố thuận lợi để đi đến hôn nhân bởi tất cả hầu như đã được chuẩn bị. Có một chi tiết mà lúc khám phá ra Ninh Giang Thu Cúc thật sự ngậm ngùi và thương cảm 2 đương sự quá chừng, chuyện là thế này: Trong toàn bộ tư liệu của nữ sĩ Tuệ Mai gồm có tác phẩm và các bài báo thời ấy viết về bà, cũng như tất cả cái gì liên quan đến văn nghiệp của Tuệ Mai mà Ninh Giang Thu Cúc đang có để tham khảo, bà phát hiện ra 4 tờ giấy lịch loại Agenda năm 1971 (Tân Hợi) dán vào các trang đầu của tập “Về phía trời xanh”. Những dòng thủ bút rất bay bướm trang trọng nhưng đầy chất tài tử của Phạm Thiên Thư (hay của Tuệ Mai), nội dung thủ bút là viết tên họ của 2 người: Tờ số 1 viết - Phạm Trần Thư Mai, tờ lịch ghi ngày 7 viết Thiên Thư Tuệ Mai. Tờ ngày 3 viết Phạm Trần Thiên Khôi mở ngoặc tự chương; tờ mồng 6 viết Phạm Trần Thiên Phương. Thú thật là đọc xong, Ninh Giang Thu Cúc đã khóc vì xúc động với suy nghĩ - đó là bản phác thảo cho một tiểu gia đình lý tưởng của đôi vợ chồng và 2 đứa con ngoan Thiên Khôi và Thiên Chương (những tờ lịch thủ bút này Ninh Giang Thu Cúc đã chụp bản và đưa vào phần phụ lục Nữ sĩ Tuệ Mai)
Nhưng sao những hoàn cảnh thuận lợi, những ý tưởng tốt đẹp cho một tương lai giữa hai người yêu nhau thiết tha như thế lại không thành hiện thực???
Lại một lần nữa bất hạnh đổ xuống cuộc đời người phụ nữ tài hoa, mệnh bạc này... Khi Tuệ Mai gặp được một tình yêu quá đẹp Tuệ Mai quá sung sướng, quá hạnh phúc - cái hạnh phúc của tài tử văn nhân “khi chén rượu khi cuộc cờ khi xem hoa nở khi chờ trăng lên”. Yêu nhau vì nết vì tài tưởng như vậy là quá đủ, nhưng khi tình yêu thơ mộng cao khiết sắp chạm mặt với hôn nhân, để hóa thân người yêu thành người vợ, với thiên chức nặng nề cao quý đang chờ đợi, thì Tuệ Mai mới ngã đạn ra để thấy lại bản thân mình không có khả năng làm mẹ, không còn nét trẻ trung để sống cuộc đời chồng vợ - xứng lứa vừa đôi với người yêu theo định lý thuận của cuộc đời.
Tuệ Mai phản tỉnh quay ngoắt một trăm tám mươi độ, cho tâm trí rời khỏi động hoa vàng, rời khỏi vương cung tình ái... từ chối cuộc tình trong đoài đoạn xót xa bằng những bài thơ, bức thư trình bày cùng cụ bà thân mẫu nhà thơ Phạm Thiên Thư những lý do bất khả và giới thiệu một cô bạn gái trẻ hơn mình nhiều để cụ Quế Lâm cưới cho Phạm Thiên Thư hầu sinh con nối dõi cho nhà họ Phạm (cô bạn này đã từng yêu thơ Phạm Thiên Thư và có dự nhiều buổi nói chuyện và bình thơ của ông Thư).
Đối với cụ Quế Lâm thì đây là một trường hợp khá đau lòng và khó xử. Cụ rất thương Tuệ Mai về nết về tài và muốn Tuệ Mai cùng Thiên Thư nên chồng nên vợ. Nhưng còn quyền lợi của dòng tộc, của gia đình bà không thể để con trai của bà mang trọng tội với tổ tiên (bất hiếu hữu tam vô hậu vi đại). Phần Phạm Thiên Thư - ông không quan trọng lắm về chuyện con cái bởi ông từng là tu sĩ phật giáo, nghiên cứu về duy thức học, về thiền học, về triết lý nhà phật. Ông lại là nhà thơ với nhiều tác phẩm giá trị, là võ sư, là thầy thuốc vì thế ông sống rất thoáng. Ông thường an ủi Tuệ Mai: Sau này chúng ta không có con đẻ nhưng những tác phẩm văn học là những đứa con tinh thần vô giá. Dạo đó (1971), Phạm Thiên Thư mở cơ sở xuất bản “Văn Chương”, mở trường phái thiền học và võ thuật tên gọi Thi Tông và được mẫu thân là cụ Quế Lâm truyền nghề Đông Nam y dược.
“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Nhưng Tuệ Mai vì lòng tự trọng, không muốn làm cái đích cho sự đàm tiếu của mọi người bởi sự chênh lệch về tuổi tác cũng như về đường con cái nên đã kiên quyết chia tay... Hành động đẹp như nữ hiệp sĩ này đã làm các bạn hữu trong thi hội Quỳnh Dao cảm kích - nhà thơ Như Hiên Nguyễn Ngọc Hiền đã gửi cho Tuệ Mai bức tâm thơ ca ngợi việc làm của bà với tựa đề:
BÀI THƠ KẾT THÚC
(Thương yêu vô vàn trước nghĩa cử
của Tuệ Mai khi rời Động hoa vàng)
…Thuở đó, một dạo xôn xao...
Chuyện thơ phiêu lãng lối vào mù sương
Người thơ thả bước quên đường
Động hoa vàng ngát hương vương cánh vàng
Nhụy hoa quấn quýt mơ màng
Sắc màu mừng đón “Nữ hoàng thi ca”
Ngập ngừng ghé Động thăm hoa
Rụt rè cảm hứng, sa đà thơ duyên
“Về phía trời xanh” mơ tiên
Bút hoa nở thắm “Bay nghiêng vòng đời”
Góp chương nối khúc không lời
Đoạn trường thi tứ tuyệt vời trang thơ
Tình thơ cuộc kết nào ngờ
Động hoa vàng bỗng ngẩn ngơ lá sầu
Tạ tình một khối vì nhau
Cho Mai bóng mát nhiệm mầu bấy nay
Ân tình xếp cuộc chia tay
Dâng tràn tâm nguyện niềm tây Động vàng
Đóa mai khép cánh vô thường
Chiêm bao một giấc hoàng lương thơ đề
(Như Hiên Nguyễn Ngọc Hiền)
Ta có thể dễ dàng hình dung ra cuộc chia tay của hai kẻ thương yêu nhau vì cảnh ngộ éo le đành phải cắn răng nói lời từ tạ, nó vừa buồn như điệu kèn tử biệt, như hồi chuông giáo đường giục giã gọi hồn ai... lại vừa đẹp, vừa thơ, vừa hào hiệp nghĩa khí như tráng sĩ thời cổ sử quên mình cho bình yên, cho hạnh phúc của bao người...
Biết rằng chấm dứt cuộc tình này là làm một việc quá sức chịu đựng, là trở về với sự vây bủa của cô độc, cô đơn, nhưng bằng nghị lực và lòng quả cảm, Tuệ Mai đã chiến thắng được niềm đam mê, sự yếu đuối. Ai là người thân thiết của Tuệ Mai đều hiểu rằng cuộc đời bà rất thiếu thốn tình thương yêu. Lên chín tuổi đã bị tử thần cướp đi người mẹ, đến tuổi vừa chớm yêu với tình đầu vụng dại cũng bị luật vô thường tử sinh chia biệt, rồi bị lấy chồng theo những yêu cầu bức thiết của mọi người chung quanh. Vậy Tuệ Mai đã thật sự có tí ti nào hạnh phúc chưa? Xin thưa là chưa! Cho nên bà thèm khát một tình cảm đích thực. Vì thế khi gặp được Phạm Thiên Thư - một tâm hồn đồng thanh khí với “văn chương nết đất thông minh tính trời”, với “đề huề lưng túi gió trăng" trong phong vận nhẹ nhàng, hài rơm lần bước ôm pho kinh điển. Chênh vênh đầu trượng thiền sư. Cửa non khép ải sương mù bóng ai. Non xanh ướm hỏi trang đài. Trăm năm còn lại dấu hài động hoa.
Họ đến với nhau như có sự hẹn hò từ tiền kiếp. Họ kính yêu nhau như con chiên yêu chúa, như tín đồ yêu thần tượng, họ quên hết bao buộc ràng khuôn khổ, khe khắt của cõi nhân sinh. Tới nỗi này ta mới thấy Tuệ Mai là một phụ nữ có cá tính dứt khoát mạnh mẽ. Khi yêu, yêu mãnh liệt, yêu với tất cả sự rung động của trái tim băng giá giữa lòng hỏa tinh nhưng khi sự việc không mang tính hợp lý Tuệ Mai quay đầu ngay - đó là sự mạnh mẽ của lý trí - yêu mà không đắm chìm mê muội, trái tim không lầm chỗ để trên đầu, đó là điều rất đáng trân trọng tấm tình cao thượng của nữ sĩ Tuệ Mai.
Phạm Thiên Thư khoác áo cà sa vì nguyên nhân nào ta không dám lạm bàn, ta chỉ biết ông có một cái đầu thông tuệ uyên bác và một trái tim cực kỳ đa cảm, có thể nếu không gặp lại “chiếc xương sườn” của ông từ kiếp nảo kiếp nào thì ông đã được “hoa khai kiến phật”:
Khơi trầm thơm tụng kinh hiền
Máu xuân mạch lạnh trong miền xương da
Vườn chùa có nụ hàm ca
Sương khuya pháp bảo trăng tà: vô minh
Nhưng rồi tất cả mọi kiếp nhân sinh đều bị sự chi phối của nghiệp lực, nghiệp lực đã đưa đường dẫn lối cho Thiên Thư và Tuệ Mai gặp nhau trong hoàn cảnh: Rất không thuận trong mắt nhìn thiên hạ. Tuệ Mai có buồn đau nhưng rồi năm tháng sẽ phôi pha bởi tất cả sẽ đi vào kỷ niệm, phía trời xanh đã một lần vẫy gọi Nàng Thơ vào Động hoa vàng bằng dấu hài đẫm nguyệt và đã trả nàng về lại với lầu Mai sương khói thuở cô miên...
Rồi qua bao dâu bể trầm luân, tháng năm chất chồng hệ lụy, bệnh tật lao lung, tác giả “Về phía trời xanh” đã thật sự thõng tay buông bỏ sự đời làm cuộc hành hương về phía trời xanh vĩnh cửu, để lại niềm thương tiếc cho gia đình máu thịt, cho bằng hữu văn chương, cho bao trái tim ngưỡng mộ, và cho một người đã từng “trăm năm tính cuộc vuông tròn” phải ngậm ngùi:
Cuối xuân ta lại tìm em
Tiểu thơ chi mộ thềm hoa dại tàn
Sớm thu ta đánh đò sang
Bên đường cổ mộ lại vàng cúc hoa
(Động hoa vàng - PTT)
Nghe tiếng ca nàng run giữa khuya
Tưởng đâu tiền kiếp thoáng em về
Nắm xương tàn lụi nằm trong mộ
Cỏ lạnh trăng vàng rụng xuống bia
(Tiếng cũ - Đoạn trường chủ nhân - PTT)
Ninh Giang Thu Cúc mượn ba câu của cụ Nguyễn Du để đóng lại bài cảm nhận “Về phía trời xanh”:
Rằng hồng nhan tự thuở xưa
Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu
Nỗi niềm tưởng đến mà đau...
(Truyện Kiều - Nguyễn Du)
Cũng xin được trình bày cùng Á Nam Lưu Niệm Đường và ông bà Phạm Thiên Thư ít dòng tâm sự: Khi cảm nhận tập “Về phía trời xanh” người đọc - Ninh Giang Thu Cúc tất nhiên phải đề cập đến chuyện tình yêu bởi đấy là tập thơ tình yêu - mà tại sao lại không ca ngợi một tình yêu đẹp và bi tráng như thế? Tại sao không nói tác giả “Về phía trời xanh” là một nữ sĩ đẹp từ tâm hồn đến ngoại hình và nhân cách như thế? Lại nữa, Ninh Giang Thu Cúc tâm niệm nếu mai sau những người làm văn học sử Việt Nam có nhắc đến sự nghiệp của cô con gái cưng của Á Nam Trần Tuấn Khải thì những bài viết thô thiển này biết đâu sẽ được góp phần để họ làm tư liệu cho một giai thoại đẹp về văn học. Bằng ý niệm tôn trọng và vinh danh những nét đẹp trong tình yêu và sự hi sinh của người phụ nữ Việt Nam trong mọi cảnh ngộ, tác giả vô cùng mong ước sự đồng cảm của quý vị như sự đồng cảm của nhà thơ nữ lão làng Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội, trong lời đề bạt cho tập “Về phía trời xanh”.
“Chàng ung dung đến, bát ngát như những sợi tơ trăng - đến với nàng công chúa đương ngủ ngoan lành, bỏ quên tình ái.
Chàng đến không với bó hoa hồng, mà là với một nếp thiên thư bìa bướm giấy tằm, ấn điểm son tươi, chữ thơm mực xạ...”
(Trích lời bạt của Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội).
(Rút từ tập Nữ sĩ Tuệ Mai - Thân thế và sự nghiệp (NXB Trẻ , 2007)
(Thay lời ai điếu Phạm Thiên Thư.)
N.G.T.C