- Lý luận - Phê bình
- Hoa nở giữa miền hư ảo
Hoa nở giữa miền hư ảo
Trong hành trình thơ của Vũ Thanh Hoa, nếu “Vũ” còn đầy giông gió và “Thanh” là khoảng lắng sau những đổ vỡ, thì “Hoa” có thể xem như một mùa nở muộn của cảm xúc và nhận thức. Không còn quá chao chát trước những mất mát riêng tư, thơ chị trong tập này dường như đã điềm tĩnh hơn, nữ tính hơn và cũng bao dung hơn với đời sống.
NGUYÊN HÙNG
(Đọc tập thơ HOA của Vũ Thanh Hoa)
Sau khoảng lặng mười năm không in sách, Vũ Thanh Hoa bất ngờ trở lại cùng lúc ba tập thơ mang chính tên mình: Vũ – Thanh – Hoa. Chỉ riêng cách đặt tên ấy cũng đã gợi một cảm giác đặc biệt: không phải ba cuốn sách rời, mà như ba lát cắt của cùng một hành trình tâm trạng, ba nhịp chuyển của một người đàn bà đi qua cô đơn, yêu thương, mất mát và tự biết cách lấy lại sự thăng bằng cho mình. Tập Hoa – phần cuối của bộ ba – có lẽ cũng là phần mềm mại nhất, nhiều nữ tính nhất, nhưng đồng thời lại cho thấy rõ nhất một thi pháp thơ đang định hình khá riêng của Vũ Thanh Hoa, một cây bút viết khá đều tay ở cả hai mảng thơ và văn xuôi.

Nhà thơ Vũ Thanh Hoa và tập thơ Hoa trong bộ ba Vũ - Thanh - Hoa (Nxb Hội Nhà văn, 2025)
Đọc Hoa, dễ nhận ra đây không phải là kiểu thơ thiên về kể chuyện hay giãi bày trực tiếp thường thấy của người làm thơ ở thuở ban đầu. Vũ Thanh Hoa chọn cách đi vào cảm xúc bằng những mảnh hình ảnh rời, những liên tưởng phi logic bề ngoài nhưng lại liên kết với nhau bằng mạch tâm trạng bên trong. Thơ chị ít “kể”, nhiều “gợi”; ít cố tạo tứ lớn, mà thiên về tạo không khí bằng ngôn từ, thi ảnh. Có những bài gần như chỉ là một trường cảm giác mong manh, chập chờn giữa thực và mộng:
“ánh trăng lạc đường
chùm bong bóng nương theo mây trắng
chân trời trải những vàng tơ...”
(Mùa ngủ quên – trang 7)
Trong thế giới thơ ấy, mây trắng, cúc vàng, cửa sổ, mưa, sương, khẩu trang, tin nhắn, bàn phím, thang máy, phố đông, đèn message… cùng tồn tại trong một không gian nửa thực nửa ảo của đời sống đô thị hôm nay. Điều đáng nói là Vũ Thanh Hoa không cố “làm mới” bằng những lập ngôn lớn tiếng. Chị để thơ mình trôi tự nhiên như dòng độc thoại nội tâm của một người đàn bà hiện đại, nhạy cảm và bằng lòng với sự cô độc của mình giữa đám đông.
Một trong những đặc điểm đáng chú ý của Hoa là cảm thức đô thị rất rõ. Đây không phải thứ đô thị ồn ào của những đại lộ ánh sáng, mà là đô thị của nội tâm: chung cư, cửa kính, tin nhắn, khẩu trang, kẹt xe, đèn giao thông… Những hình ảnh rất đời thường ấy đi vào thơ mà không bị thô ráp bởi chúng đã được phủ lên một lớp sương cảm xúc, rất thơ:
“mây trắng rơi chìm đáy cốc
mây trắng trầm cảm bàn phím
mây trắng tự kỉ tin nhắn
mây trắng trốn tìm dưới lớp khẩu trang”
(Mây trắng – trang 16)
Hay:
“Sài Gòn trôi trong đoạn phim ngắn
dưới chiếc dù hoa sũng nước
qua cặp kính đen trốn nắng
đoá hồng môi ẩn nấp khẩu trang”
(Sài Gòn phố – trang 42)
Có thể thấy Vũ Thanh Hoa rất nhạy với nhịp sống đương đại. Chị đưa vào thơ cả những ám ảnh của thời Covid, của mạng xã hội, của những kết nối vừa gần vừa xa. Nhưng điều đáng quý là chị không sa vào kiểu “ghi chép hiện thực”. Tất cả đều được làm mềm bằng cảm giác cô đơn và khát vọng yêu thương.
Tình yêu trong thơ Vũ Thanh Hoa cũng không còn là tình yêu lãng mạn theo nghĩa thông thường. Đó thường là một tình yêu thiếu hụt, dang dở, luôn ở trạng thái chênh vênh giữa có và không. Người đàn bà trong thơ chị yêu nhiều bằng ký ức, bằng tưởng tượng, bằng những điều “chưa nói ra”, cách mà không phải bất kỳ người đàn bà làm thơ nào cũng sẵn sàng chia sẻ:
“em ngày xưa em bây giờ vẫn vậy
cả tin điều anh chưa nói ra”
(Hư ảo – trang 20)
Hoặc:
“ngôn từ nào diễn tả sự lặng im
chính xác hơn vòng ôm siết chặt”
(Mong manh – trang 9)
Có cảm giác người viết luôn đứng ở ranh giới giữa khao khát được yêu và nỗi sợ bị tổn thương. Vì thế thơ chị khá nhiều những chữ “mong manh”, “ngơ ngác”, “lạc”, “hư ảo”, “goá bụa”, “mắc cạn”… Những từ khóa ấy lặp đi lặp lại một cách có dụng ý như những ám ảnh tinh thần.
Thi pháp của Vũ Thanh Hoa khá tự do. Chị không quá câu nệ vần luật hay cấu trúc. Nhiều bài gần với thơ văn xuôi, nhiều đoạn được ngắt nhịp theo cảm xúc hơn là theo cú pháp. Điều này giúp thơ chị giữ được độ tự nhiên, mềm mại, nữ tính. Tuy vậy, cũng có lúc sự buông lơi ấy khiến vài bài hơi dài dòng, cảm xúc chưa được nén chặt. Nhưng ngay cả trong những chỗ “dư chữ”, người đọc vẫn nhận ra một giọng điệu riêng: dịu dàng mà không yếu đuối, buồn nhưng không bi lụy.
Một nét đáng chú ý khác là khả năng tạo hình ảnh của Vũ Thanh Hoa. Chị có nhiều câu thơ đẹp theo kiểu trực giác, không cần giải thích:
“tiếng dương cầm đơn độc thu”
(Mùa ngủ quên – trang 7)
“mảnh tim rơi trong những cánh hoa”
(Hư ảo – trang 20)
“vớt chùm sao đuối nước dưới hồ”
(Chuyện của tượng – trang 36)
Cũng trong tập Hoa này, tác giả có những liên tưởng khá lạ, đôi khi gần với mỹ cảm siêu thực. Nhưng phía sau những hình ảnh ấy vẫn là một người đàn bà đang đi tìm sự hồi sinh của tâm hồn giữa thế giới nhiều đổ vỡ:
“đứng dậy
đi và đi
kẻo đôi chân phế thải
kẻo mắt mù tai điếc
người không nhận ra khuôn mặt chính mình.”
(Đứng dậy – trang 24)
Có thể nói, Hoa là tập thơ của một người phụ nữ từng trải, từng đi qua tuổi mộng mơ vô tư để bước vào vùng chiêm nghiệm. Chị hiểu sự hữu hạn của tuổi trẻ, hiểu những mong manh của lòng người, nhưng vẫn không từ bỏ niềm tin vào yêu thương. Ngay cả trong những bài buồn nhất, thơ Vũ Thanh Hoa vẫn cho thấy một ánh sáng mềm:
“thế nào ngày mai cũng sáng”
(Giả chết – trang 14)
Hay:
“nhóm một tia nắng
hồi sức những vì sao.”
(Sài Gòn phố – trang 42)
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ. Chị lặng lẽ “cất tiếng hát cho chính số phận mình”, như lời tự bạch trong phần Lời ngỏ. Và có lẽ chính sự chân thành ấy là điều ở lại rõ nhất sau khi gấp tập thơ Hoa: một tiếng nói nữ giàu cảm xúc, biết lắng nghe những rung động nhỏ bé của đời sống, và vẫn tin – sau tất cả – vào khả năng cứu rỗi của thơ ca và tình yêu.
TP. Hồ Chí Minh, 12/5/2026
N.H.