TIN TỨC

Hoa nở giữa miền hư ảo

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-05-20 03:43:36
mail facebook google pos stwis
73 lượt xem

Trong hành trình thơ của Vũ Thanh Hoa, nếu “Vũ” còn đầy giông gió và “Thanh” là khoảng lắng sau những đổ vỡ, thì “Hoa” có thể xem như một mùa nở muộn của cảm xúc và nhận thức. Không còn quá chao chát trước những mất mát riêng tư, thơ chị trong tập này dường như đã điềm tĩnh hơn, nữ tính hơn và cũng bao dung hơn với đời sống.

NGUYÊN HÙNG
(Đọc tập thơ HOA của Vũ Thanh Hoa)

Sau khoảng lặng mười năm không in sách, Vũ Thanh Hoa bất ngờ trở lại cùng lúc ba tập thơ mang chính tên mình: Vũ – Thanh – Hoa. Chỉ riêng cách đặt tên ấy cũng đã gợi một cảm giác đặc biệt: không phải ba cuốn sách rời, mà như ba lát cắt của cùng một hành trình tâm trạng, ba nhịp chuyển của một người đàn bà đi qua cô đơn, yêu thương, mất mát và tự biết cách lấy lại sự thăng bằng cho mình. Tập Hoa – phần cuối của bộ ba – có lẽ cũng là phần mềm mại nhất, nhiều nữ tính nhất, nhưng đồng thời lại cho thấy rõ nhất một thi pháp thơ đang định hình khá riêng của Vũ Thanh Hoa, một cây bút viết khá đều tay ở cả hai mảng thơ và văn xuôi.
 

Nhà thơ Vũ Thanh Hoa và tập thơ Hoa trong bộ ba Vũ - Thanh - Hoa (Nxb Hội Nhà văn, 2025)

Đọc Hoa, dễ nhận ra đây không phải là kiểu thơ thiên về kể chuyện hay giãi bày trực tiếp thường thấy của người làm thơ ở thuở ban đầu. Vũ Thanh Hoa chọn cách đi vào cảm xúc bằng những mảnh hình ảnh rời, những liên tưởng phi logic bề ngoài nhưng lại liên kết với nhau bằng mạch tâm trạng bên trong. Thơ chị ít “kể”, nhiều “gợi”; ít cố tạo tứ lớn, mà thiên về tạo không khí bằng ngôn từ, thi ảnh. Có những bài gần như chỉ là một trường cảm giác mong manh, chập chờn giữa thực và mộng:

“ánh trăng lạc đường
chùm bong bóng nương theo mây trắng
chân trời trải những vàng tơ...”
(Mùa ngủ quên – trang 7)

Trong thế giới thơ ấy, mây trắng, cúc vàng, cửa sổ, mưa, sương, khẩu trang, tin nhắn, bàn phím, thang máy, phố đông, đèn message… cùng tồn tại trong một không gian nửa thực nửa ảo của đời sống đô thị hôm nay. Điều đáng nói là Vũ Thanh Hoa không cố “làm mới” bằng những lập ngôn lớn tiếng. Chị để thơ mình trôi tự nhiên như dòng độc thoại nội tâm của một người đàn bà hiện đại, nhạy cảm và bằng lòng với sự cô độc của mình giữa đám đông.

Một trong những đặc điểm đáng chú ý của Hoa là cảm thức đô thị rất rõ. Đây không phải thứ đô thị ồn ào của những đại lộ ánh sáng, mà là đô thị của nội tâm: chung cư, cửa kính, tin nhắn, khẩu trang, kẹt xe, đèn giao thông… Những hình ảnh rất đời thường ấy đi vào thơ mà không bị thô ráp bởi chúng đã được phủ lên một lớp sương cảm xúc, rất thơ:

“mây trắng rơi chìm đáy cốc
mây trắng trầm cảm bàn phím
mây trắng tự kỉ tin nhắn
mây trắng trốn tìm dưới lớp khẩu trang”
(Mây trắng – trang 16)

Hay:

“Sài Gòn trôi trong đoạn phim ngắn
dưới chiếc dù hoa sũng nước
qua cặp kính đen trốn nắng
đoá hồng môi ẩn nấp khẩu trang”
(Sài Gòn phố – trang 42)

 

Có thể thấy Vũ Thanh Hoa rất nhạy với nhịp sống đương đại. Chị đưa vào thơ cả những ám ảnh của thời Covid, của mạng xã hội, của những kết nối vừa gần vừa xa. Nhưng điều đáng quý là chị không sa vào kiểu “ghi chép hiện thực”. Tất cả đều được làm mềm bằng cảm giác cô đơn và khát vọng yêu thương.

Tình yêu trong thơ Vũ Thanh Hoa cũng không còn là tình yêu lãng mạn theo nghĩa thông thường. Đó thường là một tình yêu thiếu hụt, dang dở, luôn ở trạng thái chênh vênh giữa có và không. Người đàn bà trong thơ chị yêu nhiều bằng ký ức, bằng tưởng tượng, bằng những điều “chưa nói ra”, cách mà không phải bất kỳ người đàn bà làm thơ nào cũng sẵn sàng chia sẻ:

“em ngày xưa em bây giờ vẫn vậy
cả tin điều anh chưa nói ra”
(Hư ảo – trang 20)

Hoặc:

“ngôn từ nào diễn tả sự lặng im
chính xác hơn vòng ôm siết chặt”
(Mong manh – trang 9)

Có cảm giác người viết luôn đứng ở ranh giới giữa khao khát được yêu và nỗi sợ bị tổn thương. Vì thế thơ chị khá nhiều những chữ “mong manh”, “ngơ ngác”, “lạc”, “hư ảo”, “goá bụa”, “mắc cạn”… Những từ khóa ấy lặp đi lặp lại một cách có dụng ý như những ám ảnh tinh thần.

Thi pháp của Vũ Thanh Hoa khá tự do. Chị không quá câu nệ vần luật hay cấu trúc. Nhiều bài gần với thơ văn xuôi, nhiều đoạn được ngắt nhịp theo cảm xúc hơn là theo cú pháp. Điều này giúp thơ chị giữ được độ tự nhiên, mềm mại, nữ tính. Tuy vậy, cũng có lúc sự buông lơi ấy khiến vài bài hơi dài dòng, cảm xúc chưa được nén chặt. Nhưng ngay cả trong những chỗ “dư chữ”, người đọc vẫn nhận ra một giọng điệu riêng: dịu dàng mà không yếu đuối, buồn nhưng không bi lụy.

Một nét đáng chú ý khác là khả năng tạo hình ảnh của Vũ Thanh Hoa. Chị có nhiều câu thơ đẹp theo kiểu trực giác, không cần giải thích:

“tiếng dương cầm đơn độc thu”
(Mùa ngủ quên – trang 7)

“mảnh tim rơi trong những cánh hoa”
(Hư ảo – trang 20)

“vớt chùm sao đuối nước dưới hồ”
(Chuyện của tượng – trang 36)

Cũng trong tập Hoa này, tác giả có những liên tưởng khá lạ, đôi khi gần với mỹ cảm siêu thực. Nhưng phía sau những hình ảnh ấy vẫn là một người đàn bà đang đi tìm sự hồi sinh của tâm hồn giữa thế giới nhiều đổ vỡ:

“đứng dậy
đi và đi
kẻo đôi chân phế thải
kẻo mắt mù tai điếc
người không nhận ra khuôn mặt chính mình.”
(Đứng dậy – trang 24)

Có thể nói, Hoa là tập thơ của một người phụ nữ từng trải, từng đi qua tuổi mộng mơ vô tư để bước vào vùng chiêm nghiệm. Chị hiểu sự hữu hạn của tuổi trẻ, hiểu những mong manh của lòng người, nhưng vẫn không từ bỏ niềm tin vào yêu thương. Ngay cả trong những bài buồn nhất, thơ Vũ Thanh Hoa vẫn cho thấy một ánh sáng mềm:

“thế nào ngày mai cũng sáng”
(Giả chết – trang 14)

Hay:

“nhóm một tia nắng
hồi sức những vì sao.”
(Sài Gòn phố – trang 42)

Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ. Chị lặng lẽ “cất tiếng hát cho chính số phận mình”, như lời tự bạch trong phần Lời ngỏ. Và có lẽ chính sự chân thành ấy là điều ở lại rõ nhất sau khi gấp tập thơ Hoa: một tiếng nói nữ giàu cảm xúc, biết lắng nghe những rung động nhỏ bé của đời sống, và vẫn tin – sau tất cả – vào khả năng cứu rỗi của thơ ca và tình yêu.

TP. Hồ Chí Minh, 12/5/2026
N.H.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm