TIN TỨC

Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-05-21 22:55:34
mail facebook google pos stwis
15 lượt xem

ĐỖ NGUYÊN THƯƠNG

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn)  - Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.

 

Nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung

 

Nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung, nguyên Chủ tịch Hội văn học nghệ thuật tỉnh Vĩnh Phúc (cũ), hội viên hội nhà văn Việt Nam chuyên ngành thơ. Tôi có duyên cùng đoàn văn nghệ sĩ trong đó có nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung lên thăm Bắc Hà từ ngày 8 tháng 5 đến ngày 10 tháng 5 năm 2026. Ba ngày trải nghiệm đi thực tế là ba ngày mưa, những cơn mưa không ồn ào nhưng ít nhiều cũng ảnh hưởng đến việc tham quan du lịch, trải nghiệm để có kiến thức thực tế bổ sung cho các bài viết của mình. Một trong những dự kiến không được hiện thực hóa là xem đua ngựa và chiêm ngưỡng vẻ đẹp của vườn hoa cẩm tú cầu. Tuy nhiên, có một số trải nghiệm để lại ấn tượng đẹp trong lòng bạn đọc đó là việc đi thăm chợ Cán Cấu và chợ Bắc Hà, đó là việc tìm hiểu thực tế ẩm thực Bắc Hà qua chợ phiên và qua homestay nơi chủ nhà mến khách đã dành những tình cảm ưu ái thể hiện qua các món ăn mang đậm nét bản sắc địa phương dành cho du khách… 

Tất cả những kiến thức thực tế ấy đi vào trang viết của các văn nghệ sĩ, có thể là những trang văn xuôi, có thể là những bài thơ, bài ký, tản văn v.v… dù dưới dạng thể loại nào thì mỗi bài viết của các văn nghệ sĩ đều đong đầy cảm xúc.

Trong dòng chảy cảm xúc ấy, “Bắc Hà ngày trở lại” có một nét dáng riêng. Bài thơ lấy chất liệu từ hiện thực Bắc Hà ba ngày mưa, sắc màu trong thơ cũng chân thật như sắc màu của cuộc sống; âm thanh trong thơ cũng chính là âm thanh của cuộc sống, nhà thơ chỉ là người chọn lọc chi tiết tiêu biểu để cảm xúc thăng hoa thành câu chữ

Ngày xưa

Mẹ địu con lên núi 

Địu cái chữ lên bản

Đồng bào Giáy, Dao Đỏ, H’Mông, …

Đón mẹ trong vòng tay thương mến.

 

Miền ngược miền xuôi

Đều con Lạc, cháu Hồng

Trồng lanh dệt vải, trồng sắn, trồng ngô

Cùng chia nhau hạt muối

Cùng uống rượu bát, rượu cần

Ăn mèn mén, thắng cố

Cùng học chữ

Cùng hát múa quanh ảnh Bác Hồ.

 

Bao mùa hoa đào nở? 

Bắc Hà đã đổi thay

Mẹ đã thành mây trắng 

Chợ vẫn chật tiếng cười

Nhà em giờ đã phố

Chẳng còn vách đất, nhà tranh

Điện thay trăng

Lớp học tươi ngói đỏ

Đường rộng mở bê tông

Rộn ràng ô tô, xe máy

Gương mặt Bắc Hà rạng rỡ mùa xuân.

 

Bắc Hà trong sương

Anh cùng em đi chợ tình

Núi Mẹ Con đứng bồng mây trắng

Thung lũng hoa, em cười như nắng

Cầu tre cong vành trăng

Ruộng bậc thang dâng mùa no ấm

Ngày hội thổ cẩm 

Tiếng khèn du dương

Hội đua ngựa

Em là quán quân 

Ta dắt nhau lên dinh thự cổ 

Chạm vân tay người năm cũ phương nào?

 

Bắc Hà xôn xao

Hoa đào ngậm sương bừng sắc thắm

Cô giáo H’Mông 

Chiều nay thêu hoa văn thổ cẩm

Có thêu tôi vào nỗi nhớ Bắc Hà?

Những vần thơ tự do, nhịp điệu được dẫn dắt bởi cảm xúc không cố định, không dồn nén, không rập khuôn trong các thể loại thơ truyền thống. Ở đây là thơ tự do tái hiện cả quá khứ và hiện tại, có cả hiện thực, có cả hình dung kết hợp trải nghiệm thực tế và trí tưởng tượng phong phú.

Khổ thơ đầu tiên xuất hiện hình tượng người mẹ năm xưa từ miền xuôi đem cái chữ lên miền ngược để dạy cho học trò đồng thời chính là đem niềm vui, đem ánh sáng lên cho những bản làng heo hút chính là Bắc Hà ngày xưa. Bắc Hà là vùng đất hội tụ nhiều dân tộc Giáy, Dao Đỏ, H’Mông, …, điểm chung đều là người Việt Nam giàu tình cảm, mến khách, đồng bào đã đón mẹ trong vòng tay yêu thương bởi dù miền núi hay miền xuôi thì đều là con Lạc, cháu Hồng. Chính vì nét đẹp truyền thống của người Việt Nam như vậy cho nên người mẹ đã nhanh chóng hòa nhập với cuộc sống của đồng bào miền núi, nhanh chóng làm quen với công việc quen thuộc của đồng bào trồng lanh, dệt vải.. nhanh chóng làm quen với ẩm thực Bắc Hà, với mèn mén, với rượu ngô với rượu cần uống bằng bát…, Để rồi mẹ cùng với dân bản học cái chữ trong một không gian thật đẹp, thật đặc biệt, thật vui, thật ý nghĩa Cùng học chữ/ Cùng hát múa quanh ảnh Bác Hồ.

 

Đoàn Văn nghệ sỹ Phú Thọ đi thực tế Bắc Hà

 

Câu thơ của Nguyễn Ngọc Tung thật giàu sức gợi. Đó chính là một cách diễn tả chân thật mà sâu sắc về việc Bác Hồ luôn luôn là người dẫn đường chỉ lối, luôn luôn là trung tâm đoàn kết, luôn luôn tỏa ra một ánh sáng ấm áp, yêu thương, hội tụ cháu con ở khắp các vùng miền để cùng diệt giặc dốt, để cùng phát triển, để cùng tiến hóa đến xã hội văn minh. Nguyễn Ngọc Tung điểm lại hành trình của mẹ xưa kia bằng một nét phác thảo chấm phá rất nhanh, rất gọn để làm nền, làm đòn bẩy, làm cầu nối cho hiện tại và hiện tại mới chính là trọng tâm của cảm xúc, hiện tại mới chính là hiện thực ùa vào trang thơ của các văn nghệ sĩ. Hiện tại không còn rừng, bản nguyên sơ như ngày xưa nữa, hiện tại làng đã trở thành phố và con người cũng trở nên văn minh hơn, cuộc sống vật chất đầy đủ hơn, cuộc sống tinh thần phong phú hơn. Điều đó được thể hiện qua tiếng cười Chợ vẫn chật tiếng cười. Vâng, tiếng cười luôn là biểu tượng của hạnh phúc đủ đầy. Người mẹ - cô giáo của bản làng năm xưa không còn nữa Mẹ đã thành mây trắng/ Chợ vẫn chật tiếng cười.

Hiện tại dấu ấn của quá khứ vẫn còn đó, quá khứ bắc cầu cho hiện tại và chắc chắn sẽ là cầu nối đi đến tương lai, một tương lai tươi đẹp, sáng sủa hơn. Làng đã lên phố, điện đã thay trăng, thay đèn, những lớp học nhà tranh, vách đất ngày xưa đã thay bằng một hệ thống điện, đường, trường, trạm… với đầy đủ tiện nghi khiến cho bất cứ ai trải nghiệm Bắc Hà cũng cảm nhận được đầy đủ sự sung túc qua hình ảnh Rộn ràng xe máy ô tô… khiến cho gương mặt Bắc Hà bốn mùa đều là mùa xuân tươi tốt Gương mặt Bắc Hà rạng rỡ mùa xuân.

 

Một góc chợ phiên

 

Và trong khung cảnh hiện thực đẹp đẽ ấy tác giả đã dệt nên một hình tượng đẹp đẽ trong thấp thoáng sương sớm anh cùng em đi chợ tình…Chợ tình là một không gian văn hóa thể hiện một nét đẹp văn hóa rất riêng của Bắc Hà (toàn quốc cũng chỉ có một số địa phương có chợ tình). Đó là một không gian mang nét đẹp truyền thống không chỉ dành cho những đôi trai gái ở lứa tuổi đang yêu mà bất cứ ai có người yêu cũ ở lứa tuổi nào cũng có thể được gặp nhau ở chợ tình. Như vậy không gian ấy là không gian của hiện thực cũng là không gian của hoài niệm; của hiện tại cũng là của quá khứ; của những ánh mắt, nụ cười rạng rỡ hôm nay nhưng cũng sẽ ẩn chứa những nụ cười, những ánh mắt đằm thắm của những câu chuyện ngày xưa …

Nắm được nét đẹp đặc trưng văn hóa vùng miền, Nguyễn Ngọc Tung đã xây dựng nên một hình ảnh thật đẹp ở trong thơ, hình ảnh con đường dẫn anh và em đi đến chợ tình cũng đẹp tựa như mơ vậy, có núi mẹ bồng con, có lô nhô đỉnh núi thấp thoáng trong sương, trong mây, có thung lũng hoa rực rỡ sắc màu và đẹp nhất vẫn là có nụ cười em tỏa nắng….

Tôi đặc biệt yêu thích cách miêu tả về tiếng cười trong thơ của Nguyễn Ngọc tung; Tiếng cười nói chung chung thì rộn rã, tiếng cười người đang yêu là tiếng cười tỏa nắng…tiếng cười chính là biểu tượng của một không gian hạnh phúc ngập tràn. Không chỉ vậy, Bắc Hà còn có ruộng bậc thang, có làng dệt thổ cẩm, có ngày hội thổ cẩm, hội đua ngựa…

Khổ cuối của bài thơ nhắc đến hình tượng cô giáo trẻ Chiều nay thêu hoa văn thổ cẩm/ Có thêu tôi vào nỗi nhớ Bắc Hà?

Cái kết của bài thơ thật đẹp, thật ấn tượng, nhà thơ không nói Bắc Hà đằm sâu trong nỗi nhớ mà là một câu hỏi tu từ, hỏi xem Cô giáo H’Mông khi đan thổ cẩm Có thêu tôi vào nỗi nhớ Bắc Hà? Chính câu kết độc đáo ấy góp phần làm bừng sáng bài thơ, góp phần cho dư âm của bài thơ ngân dài, ngân dài như tiếng chuông, tiếng khèn… của Bắc Hà những ngày mưa mùa hạ vây.

Bắc Hà, tháng 5/2026

Đ.N.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm