- Lý luận - Phê bình
- Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Trong hành trình đi tìm "vân tay" trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.

Ảnh minh họa. Nguồn internet
1. Sự tỉnh thức của trực giác sáng tạo sau ba thập kỷ
Trong hành trình đi tìm "vân tay" trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Đây không phải là sự bám víu xơ cứng vào thi pháp cổ điển, mà là nỗ lực khai thác tận cùng bản chất nhạc tính của tiếng Việt - một ngôn ngữ đơn âm, đa thanh vốn dĩ đã là một bản hòa tấu tự thân.
2. Nội hàm thủ pháp: Sự tịnh tiến của âm thanh và ý niệm
"Tiếp vần - Nâng vần" không đơn thuần là kỹ thuật gieo vần lưng hay vần bụng. Nó là một cấu trúc động học được thiết lập dựa trên sự giao thoa giữa Hình thức âm thanh và Biên độ ý niệm.
Tiếp vần (Sự cộng hưởng nội tại): Là việc chủ động thiết lập các chuỗi âm tiết đồng khuôn vần đứng sát cạnh nhau hoặc cách quãng ngắn. Sự tiếp nối này tạo ra một "áp suất" ngữ âm dồn dập, khiến câu thơ không trôi tuột một cách lười biếng mà nảy lên; người đọc phải dừng lại - đọc chậm, thúc giục họ phải nhập cuộc bằng mọi giác quan.
Nâng vần (Sự tịnh tiến giá trị biểu đạt): Đây chính là linh hồn của thủ pháp. Chữ sau kế thừa âm hưởng chữ trước, nhưng mang nhiệm vụ "nâng" ý thơ lên một tầm mức mới. Chữ sau phải mang sắc thái biểu đạt mạnh hơn, sâu hơn, hoặc cụ thể hóa một trạng thái tâm lý/vật lý mà chữ trước mới chỉ kịp khơi gợi. Nếu "Tiếp" là phương thức vận hành, thì "Nâng" chính là cứu cánh nghệ thuật.
3. Đối thoại với truyền thống: Những mạch ngầm thi sĩ
Nhìn lại lịch sử thi ca, tôi chợt nhận ra thủ pháp này, dù chưa được định danh rõ ràng, đã hiện diện như những cú "điểm nhãn" xuất thần trong tác phẩm của các bậc đại thụ tiền bối.
Tôi vẫn còn nguyên cái cảm giác bị ám ảnh bởi độ ngân vang, rung động trong câu thơ của Tố Hữu thuở còn ngồi trên ghế nhà trường phổ thông: “Sếu giang mang lạnh đang bay ngang trời”. Bốn chữ vần "ang" liên tiếp (giang - mang - đang - ngang) không hề tạo ra cảm giác trùng lặp, nhàm chán. Ngược lại, chúng tạo ra một độ rung không gian diệu kỳ. Chữ "mang" tiếp nối chữ "giang" để cụ thể hóa cái lạnh, rồi chữ "ngang" nâng tầm sải cánh sếu lên mức cao rộng của bầu trời. Đó chính là sự tiếp nối âm hưởng để nâng tầm không gian.
Hay như ký ức với một lần thi sĩ Xuân Diệu về quê tôi bình thơ. Giọng đọc trầm ấm, ngân rung của ông khi trình bày bài Biển như đóng đinh vào hồn tôi cho đến tận bây giờ: “Bờ đẹp đẽ cát vàng/ thoai thoải hàng thông đứng/ như lặng lẽ mơ màng/ suốt ngàn năm bên sóng…”. Các cặp vần "đẽ - lẽ", "vàng - hàng", “màng - ngàn” (với âm hưởng vang) đã làm nhiệm vụ tiếp nối nhịp điệu của cảnh vật để rồi cuối cùng nâng toàn bộ xúc giác lên thành trạng thái mộng tưởng qua chữ "mơ màng".
Việc tôi nhận diện và hấp thụ những mạch ngầm này cho thấy "Tiếp vần - Nâng vần" không phải là một sự sáng tạo tách rời gốc rễ, mà là sự chưng cất tinh hoa tiếng Việt để đối thoại với tâm thức hiện đại.
4. Thực chứng sáng tác: Từ ám ảnh đến an nhiên
Nhìn lại những bản thảo từ năm 1996, tôi nhận ra thủ pháp này đã hiện diện như một bản năng sinh tồn ngôn ngữ. Trong đoạn lục bát viết cách đây gần 30 năm:
“Má hồng bạt nhạt phấn son/ Cớ sao con mắt bắt mòn mỏi tôi?.../ Bóng em rèm mắt buồn hoe/ Thoắt đăm đắm tắt hắt nhòe nhoẹt mi…”
Ở đây, cụm “bạt nhạt”, "mắt bắt" và "tắt hắt" là những cặp tiếp - nâng có chủ đích. Chữ "bắt" nâng chữ "mắt" từ vị thế quan sát sang vị thế chiếm hữu. Chữ "hắt" nâng chữ "tắt" từ sự phản chiếu sang sự đứt gãy đớn đau. Đặc biệt, thanh nặng (.) trong chữ "nhoẹt" đã nhấn chìm sự "nhòe" vào một thực tại bết bát, bi kịch.
Đến những sáng tác gần đây, khi tâm thế đã bình an, thủ pháp chuyển mạch mượt thoáng hơn. Trong bài Mưa Xuân lành:
“Đào bung tung nụ tụ trời hường/ Phả lựng lưng chiều dìu dịu hương”
Cặp "bung - tung" và "nụ - tụ" là một chỉ dấu cho sự vận động sinh học. Nụ là hình hài, Tụ là nội lực dồn nén; Bung là khởi phát, Tung là lan tỏa không gian. Chữ sau tiếp bước chữ trước để đẩy sức sống mùa xuân lên cao trào. Chữ "lựng" tiếp nối "lưng" đã nâng mùi hương từ một trạng thái khứu giác thành một khối không gian hữu hình, ướp nồng cả buổi chiều xuân.
Tiếp nối mạch nguồn ấy, trong bản thảo tập thơ “Bờ không em” chuẩn bị cho lần xuất bản sắp tới, tôi có ý truyền tải đầy đặn hơn về thủ pháp này, như một sự xác tín cho hành trình trải nghiệm bút pháp thi ca!
5. Kỷ luật ngôn từ giữa dòng chảy đương đại
Giữa thời đại mà thi ca đôi khi bị đẩy vào sự "phá cách cực đoan" hoặc sự lỏng lẻo của câu chữ, thủ pháp "Tiếp vần - Nâng vần" đặt ra một yêu cầu khắt khe về kỷ luật ngôn từ. Nhiều người coi vần điệu là xiềng xích, nhưng họ quên rằng tiếng Việt sinh ra để ngân nga.
Tôi chọn lối viết này phải chăng là “lập dị”? Không! Đây là một phụng sự tự nguyện để giảm thiểu cái tối kỵ: sự nhạt nhẽo của ngôn ngữ. Thủ pháp này buộc người cầm bút phải "luyện chữ như luyện kim". Mỗi cặp vần phải là một sự lựa chọn tinh ròng để chữ này làm bệ đỡ cho chữ kia thăng hoa. Đó là cách tôi tôn trọng tiếng Việt và tôn trọng độc giả của mình.
6. Lời kết: Ý niệm sống qua mạch nguồn ngôn ngữ
Thi ca không chỉ là sự sắp đặt chữ nghĩa. Với một người đã đi qua thăng trầm, thậm chí là những cơn bạo bệnh để giữ mạch nguồn cảm xúc, mỗi câu thơ viết ra theo thủ pháp này là một lần tôi xác lập lại sự tồn tại của mình.
Việc "tiếp" nối những gì đã qua và "nâng" mình đứng dậy sau nỗi đau không chỉ là một thủ pháp thi ca, mà còn là một bản năng sống. Tôi mong rằng những ai đã và đang tin vào sức mạnh của âm thanh và cảm giác sẽ tìm thấy trong sự "tiếp vần - nâng vần" này một sự đồng điệu. Bởi suy cho cùng, mục đích cao nhất của nghệ thuật vẫn là dùng cái đẹp của âm vang ngôn từ để nâng tâm hồn con người vượt lên trên những bề bộn, gai góc đời thường.
(Bài luận có tham khảo AI - công cụ hỗ trợ ngôn ngữ)
***
Thơ Trương Vu Giang
XIÊU BƯỚC
Từ khi em hết có chồng
Lòng tôi,
dôi chút đèo bòng con con.
Má hồng bạt, nhạt phấn son
Cớ sao con mắt
bắt mòn mỏi tôi?
Từ nay, vay chút lẻ loi
Về thương,
nương bước lỷ lơi đi - về.
Bóng em,
rèm mắt buồn hoe
Thoắt, đăm đắm tắt
Hắt, nhòe nhoẹt mi.
Miền côi sôi chín xuân thì,
Nẻo yêu xiêu bước…
Em đi lấy chồng.
7.96
THÊU TRANH
Ai đem yêu thương nương gieo thông xanh,
Hay mang sương lam buông neo Xuân Hương?
Gương soi long lanh tinh khôi hơi xuân
Thì ra, em thêu khung tranh ban mai!
Chít đất vào trời, khít nắng vào gió, thít lá với hoa…
Em se mắt gã lãng du vào đôi tay ngà;
Lặng im con tim phối màu, ngón thon quyện nét
Em đơm mặt trời khung lụa hừng đông
Phố núi tinh mơ huyễn huyền như có như không.
7.25
MƯA XUÂN LÀNH
Mây thắm ngắm trời hơi hới xanh
Nắng phơi tơi mịn hạt mưa lành
Gieo chuỗi cam lồ hồ quang ánh
Phổ ấm trần gian đang độ xuân.
Dốc nhỏ cỏ ngời tươi mướt sương
Đào bung tung nụ tụ trời hường
Ngọn dù đỏ em vừa qua ngõ
Phả lựng lưng chiều dìu dịu hương.
Mồng 10 Xuân Bính Ngọ
Trương Vu Giang