TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc

Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-05-19 16:49:01
mail facebook google pos stwis
181 lượt xem

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Trong hành trình đi tìm "vân tay" trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.

 

Ảnh minh họa. Nguồn internet

 

1. Sự tỉnh thức của trực giác sáng tạo sau ba thập kỷ

Trong hành trình đi tìm "vân tay" trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.

Đây không phải là sự bám víu xơ cứng vào thi pháp cổ điển, mà là nỗ lực khai thác tận cùng bản chất nhạc tính của tiếng Việt - một ngôn ngữ đơn âm, đa thanh vốn dĩ đã là một bản hòa tấu tự thân.

2. Nội hàm thủ pháp: Sự tịnh tiến của âm thanh và ý niệm

"Tiếp vần - Nâng vần" không đơn thuần là kỹ thuật gieo vần lưng hay vần bụng. Nó là một cấu trúc động học được thiết lập dựa trên sự giao thoa giữa Hình thức âm thanh và Biên độ ý niệm.

Tiếp vần (Sự cộng hưởng nội tại): Là việc chủ động thiết lập các chuỗi âm tiết đồng khuôn vần đứng sát cạnh nhau hoặc cách quãng ngắn. Sự tiếp nối này tạo ra một "áp suất" ngữ âm dồn dập, khiến câu thơ không trôi tuột một cách lười biếng mà nảy lên; người đọc phải dừng lại - đọc chậm, thúc giục họ phải nhập cuộc bằng mọi giác quan.

Nâng vần (Sự tịnh tiến giá trị biểu đạt): Đây chính là linh hồn của thủ pháp. Chữ sau kế thừa âm hưởng chữ trước, nhưng mang nhiệm vụ "nâng" ý thơ lên một tầm mức mới. Chữ sau phải mang sắc thái biểu đạt mạnh hơn, sâu hơn, hoặc cụ thể hóa một trạng thái tâm lý/vật lý mà chữ trước mới chỉ kịp khơi gợi. Nếu "Tiếp" là phương thức vận hành, thì "Nâng" chính là cứu cánh nghệ thuật.

3. Đối thoại với truyền thống: Những mạch ngầm thi sĩ

Nhìn lại lịch sử thi ca, tôi chợt nhận ra thủ pháp này, dù chưa được định danh rõ ràng, đã hiện diện như những cú "điểm nhãn" xuất thần trong tác phẩm của các bậc đại thụ tiền bối.

Tôi vẫn còn nguyên cái cảm giác bị ám ảnh bởi độ ngân vang, rung động trong câu thơ của Tố Hữu thuở còn ngồi trên ghế nhà trường phổ thông: “Sếu giang mang lạnh đang bay ngang trời”. Bốn chữ vần "ang" liên tiếp (giang - mang - đang - ngang) không hề tạo ra cảm giác trùng lặp, nhàm chán. Ngược lại, chúng tạo ra một độ rung không gian diệu kỳ. Chữ "mang" tiếp nối chữ "giang" để cụ thể hóa cái lạnh, rồi chữ "ngang" nâng tầm sải cánh sếu lên mức cao rộng của bầu trời. Đó chính là sự tiếp nối âm hưởng để nâng tầm không gian.

Hay như ký ức với một lần thi sĩ Xuân Diệu về quê tôi bình thơ. Giọng đọc trầm ấm, ngân rung của ông khi trình bày bài Biển như đóng đinh vào hồn tôi cho đến tận bây giờ: “Bờ đẹp đẽ cát vàng/ thoai thoải hàng thông đứng/ như lặng lẽ mơ màng/ suốt ngàn năm bên sóng…”. Các cặp vần "đẽ - lẽ", "vàng - hàng", “màng - ngàn” (với âm hưởng vang) đã làm nhiệm vụ tiếp nối nhịp điệu của cảnh vật để rồi cuối cùng nâng toàn bộ xúc giác lên thành trạng thái mộng tưởng qua chữ "mơ màng".

Việc tôi nhận diện và hấp thụ những mạch ngầm này cho thấy "Tiếp vần - Nâng vần" không phải là một sự sáng tạo tách rời gốc rễ, mà là sự chưng cất tinh hoa tiếng Việt để đối thoại với tâm thức hiện đại.

4. Thực chứng sáng tác: Từ ám ảnh đến an nhiên

Nhìn lại những bản thảo từ năm 1996, tôi nhận ra thủ pháp này đã hiện diện như một bản năng sinh tồn ngôn ngữ. Trong đoạn lục bát viết cách đây gần 30 năm:

“Má hồng bạt nhạt phấn son/ Cớ sao con mắt bắt mòn mỏi tôi?.../ Bóng em rèm mắt buồn hoe/ Thoắt đăm đắm tắt hắt nhòe nhoẹt mi…”

Ở đây, cụm “bạt nhạt”, "mắt bắt""tắt hắt" là những cặp tiếp - nâng có chủ đích. Chữ "bắt" nâng chữ "mắt" từ vị thế quan sát sang vị thế chiếm hữu. Chữ "hắt" nâng chữ "tắt" từ sự phản chiếu sang sự đứt gãy đớn đau. Đặc biệt, thanh nặng (.) trong chữ "nhoẹt" đã nhấn chìm sự "nhòe" vào một thực tại bết bát, bi kịch.

Đến những sáng tác gần đây, khi tâm thế đã bình an, thủ pháp chuyển mạch mượt thoáng hơn. Trong bài Mưa Xuân lành:

“Đào bung tung nụ tụ trời hường/ Phả lựng lưng chiều dìu dịu hương”

Cặp "bung - tung""nụ - tụ" là một chỉ dấu cho sự vận động sinh học. Nụ là hình hài, Tụ là nội lực dồn nén; Bung là khởi phát, Tung là lan tỏa không gian. Chữ sau tiếp bước chữ trước để đẩy sức sống mùa xuân lên cao trào. Chữ "lựng" tiếp nối "lưng" đã nâng mùi hương từ một trạng thái khứu giác thành một khối không gian hữu hình, ướp nồng cả buổi chiều xuân.

Tiếp nối mạch nguồn ấy, trong bản thảo tập thơ “Bờ không em” chuẩn bị cho lần xuất bản sắp tới, tôi có ý truyền tải đầy đặn hơn về thủ pháp này, như một sự xác tín cho hành trình trải nghiệm bút pháp thi ca!

5. Kỷ luật ngôn từ giữa dòng chảy đương đại

Giữa thời đại mà thi ca đôi khi bị đẩy vào sự "phá cách cực đoan" hoặc sự lỏng lẻo của câu chữ, thủ pháp "Tiếp vần - Nâng vần" đặt ra một yêu cầu khắt khe về kỷ luật ngôn từ. Nhiều người coi vần điệu là xiềng xích, nhưng họ quên rằng tiếng Việt sinh ra để ngân nga.

Tôi chọn lối viết này phải chăng là “lập dị”?  Không! Đây là một phụng sự tự nguyện để giảm thiểu cái tối kỵ: sự nhạt nhẽo của ngôn ngữ. Thủ pháp này buộc người cầm bút phải "luyện chữ như luyện kim". Mỗi cặp vần phải là một sự lựa chọn tinh ròng để chữ này làm bệ đỡ cho chữ kia thăng hoa. Đó là cách tôi tôn trọng tiếng Việt và tôn trọng độc giả của mình.

6. Lời kết: Ý niệm sống qua mạch nguồn ngôn ngữ

Thi ca không chỉ là sự sắp đặt chữ nghĩa. Với một người đã đi qua thăng trầm, thậm chí là những cơn bạo bệnh để giữ mạch nguồn cảm xúc, mỗi câu thơ viết ra theo thủ pháp này là một lần tôi xác lập lại sự tồn tại của mình.

Việc "tiếp" nối những gì đã qua và "nâng" mình đứng dậy sau nỗi đau không chỉ là một thủ pháp thi ca, mà còn là một bản năng sống. Tôi mong rằng những ai đã và đang tin vào sức mạnh của âm thanh và cảm giác sẽ tìm thấy trong sự "tiếp vần - nâng vần" này một sự đồng điệu. Bởi suy cho cùng, mục đích cao nhất của nghệ thuật vẫn là dùng cái đẹp của âm vang ngôn từ để nâng tâm hồn con người vượt lên trên những bề bộn, gai góc đời thường.

(Bài luận có tham khảo AI - công cụ hỗ trợ ngôn ngữ)

 

***

 

Thơ Trương Vu Giang

 

XIÊU BƯỚC

 

Từ khi em hết có chồng

Lòng tôi,

               dôi chút đèo bòng con con.

Má hồng bạt, nhạt phấn son

Cớ sao con mắt

                          bắt mòn mỏi tôi?

Từ nay, vay chút lẻ loi

Về thương,

                   nương bước lỷ lơi đi - về.

Bóng em,

                rèm mắt buồn hoe

Thoắt, đăm đắm tắt

Hắt, nhòe nhoẹt mi.

Miền côi sôi chín xuân thì,

Nẻo yêu xiêu bước…

                                  Em đi lấy chồng.

7.96

 

THÊU TRANH

 

Ai đem yêu thương nương gieo thông xanh,

Hay mang sương lam buông neo Xuân Hương?

Gương soi long lanh tinh khôi hơi xuân

Thì ra, em thêu khung tranh ban mai!

 

Chít đất vào trời, khít nắng vào gió, thít lá với hoa…

Em se mắt gã lãng du vào đôi tay ngà;

Lặng im con tim phối màu, ngón thon quyện nét

Em đơm mặt trời khung lụa hừng đông

Phố núi tinh mơ huyễn huyền như có như không.

7.25

 

MƯA XUÂN LÀNH

 

Mây thắm ngắm trời hơi hới xanh

Nắng phơi tơi mịn hạt mưa lành

Gieo chuỗi cam lồ hồ quang ánh

Phổ ấm trần gian đang độ xuân.

 

Dốc nhỏ cỏ ngời tươi mướt sương

Đào bung tung nụ tụ trời hường

Ngọn dù đỏ em vừa qua ngõ

Phả lựng lưng chiều dìu dịu hương.

Mồng 10 Xuân Bính Ngọ

Trương Vu Giang

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm