TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc

Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-05-19 16:49:01
mail facebook google pos stwis
14 lượt xem

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Trong hành trình đi tìm "vân tay" trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.

 

Ảnh minh họa. Nguồn internet

 

1. Sự tỉnh thức của trực giác sáng tạo sau ba thập kỷ

Trong hành trình đi tìm "vân tay" trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.

Đây không phải là sự bám víu xơ cứng vào thi pháp cổ điển, mà là nỗ lực khai thác tận cùng bản chất nhạc tính của tiếng Việt - một ngôn ngữ đơn âm, đa thanh vốn dĩ đã là một bản hòa tấu tự thân.

2. Nội hàm thủ pháp: Sự tịnh tiến của âm thanh và ý niệm

"Tiếp vần - Nâng vần" không đơn thuần là kỹ thuật gieo vần lưng hay vần bụng. Nó là một cấu trúc động học được thiết lập dựa trên sự giao thoa giữa Hình thức âm thanh và Biên độ ý niệm.

Tiếp vần (Sự cộng hưởng nội tại): Là việc chủ động thiết lập các chuỗi âm tiết đồng khuôn vần đứng sát cạnh nhau hoặc cách quãng ngắn. Sự tiếp nối này tạo ra một "áp suất" ngữ âm dồn dập, khiến câu thơ không trôi tuột một cách lười biếng mà nảy lên; người đọc phải dừng lại - đọc chậm, thúc giục họ phải nhập cuộc bằng mọi giác quan.

Nâng vần (Sự tịnh tiến giá trị biểu đạt): Đây chính là linh hồn của thủ pháp. Chữ sau kế thừa âm hưởng chữ trước, nhưng mang nhiệm vụ "nâng" ý thơ lên một tầm mức mới. Chữ sau phải mang sắc thái biểu đạt mạnh hơn, sâu hơn, hoặc cụ thể hóa một trạng thái tâm lý/vật lý mà chữ trước mới chỉ kịp khơi gợi. Nếu "Tiếp" là phương thức vận hành, thì "Nâng" chính là cứu cánh nghệ thuật.

3. Đối thoại với truyền thống: Những mạch ngầm thi sĩ

Nhìn lại lịch sử thi ca, tôi chợt nhận ra thủ pháp này, dù chưa được định danh rõ ràng, đã hiện diện như những cú "điểm nhãn" xuất thần trong tác phẩm của các bậc đại thụ tiền bối.

Tôi vẫn còn nguyên cái cảm giác bị ám ảnh bởi độ ngân vang, rung động trong câu thơ của Tố Hữu thuở còn ngồi trên ghế nhà trường phổ thông: “Sếu giang mang lạnh đang bay ngang trời”. Bốn chữ vần "ang" liên tiếp (giang - mang - đang - ngang) không hề tạo ra cảm giác trùng lặp, nhàm chán. Ngược lại, chúng tạo ra một độ rung không gian diệu kỳ. Chữ "mang" tiếp nối chữ "giang" để cụ thể hóa cái lạnh, rồi chữ "ngang" nâng tầm sải cánh sếu lên mức cao rộng của bầu trời. Đó chính là sự tiếp nối âm hưởng để nâng tầm không gian.

Hay như ký ức với một lần thi sĩ Xuân Diệu về quê tôi bình thơ. Giọng đọc trầm ấm, ngân rung của ông khi trình bày bài Biển như đóng đinh vào hồn tôi cho đến tận bây giờ: “Bờ đẹp đẽ cát vàng/ thoai thoải hàng thông đứng/ như lặng lẽ mơ màng/ suốt ngàn năm bên sóng…”. Các cặp vần "đẽ - lẽ", "vàng - hàng", “màng - ngàn” (với âm hưởng vang) đã làm nhiệm vụ tiếp nối nhịp điệu của cảnh vật để rồi cuối cùng nâng toàn bộ xúc giác lên thành trạng thái mộng tưởng qua chữ "mơ màng".

Việc tôi nhận diện và hấp thụ những mạch ngầm này cho thấy "Tiếp vần - Nâng vần" không phải là một sự sáng tạo tách rời gốc rễ, mà là sự chưng cất tinh hoa tiếng Việt để đối thoại với tâm thức hiện đại.

4. Thực chứng sáng tác: Từ ám ảnh đến an nhiên

Nhìn lại những bản thảo từ năm 1996, tôi nhận ra thủ pháp này đã hiện diện như một bản năng sinh tồn ngôn ngữ. Trong đoạn lục bát viết cách đây gần 30 năm:

“Má hồng bạt nhạt phấn son/ Cớ sao con mắt bắt mòn mỏi tôi?.../ Bóng em rèm mắt buồn hoe/ Thoắt đăm đắm tắt hắt nhòe nhoẹt mi…”

Ở đây, cụm “bạt nhạt”, "mắt bắt""tắt hắt" là những cặp tiếp - nâng có chủ đích. Chữ "bắt" nâng chữ "mắt" từ vị thế quan sát sang vị thế chiếm hữu. Chữ "hắt" nâng chữ "tắt" từ sự phản chiếu sang sự đứt gãy đớn đau. Đặc biệt, thanh nặng (.) trong chữ "nhoẹt" đã nhấn chìm sự "nhòe" vào một thực tại bết bát, bi kịch.

Đến những sáng tác gần đây, khi tâm thế đã bình an, thủ pháp chuyển mạch mượt thoáng hơn. Trong bài Mưa Xuân lành:

“Đào bung tung nụ tụ trời hường/ Phả lựng lưng chiều dìu dịu hương”

Cặp "bung - tung""nụ - tụ" là một chỉ dấu cho sự vận động sinh học. Nụ là hình hài, Tụ là nội lực dồn nén; Bung là khởi phát, Tung là lan tỏa không gian. Chữ sau tiếp bước chữ trước để đẩy sức sống mùa xuân lên cao trào. Chữ "lựng" tiếp nối "lưng" đã nâng mùi hương từ một trạng thái khứu giác thành một khối không gian hữu hình, ướp nồng cả buổi chiều xuân.

Tiếp nối mạch nguồn ấy, trong bản thảo tập thơ “Bờ không em” chuẩn bị cho lần xuất bản sắp tới, tôi có ý truyền tải đầy đặn hơn về thủ pháp này, như một sự xác tín cho hành trình trải nghiệm bút pháp thi ca!

5. Kỷ luật ngôn từ giữa dòng chảy đương đại

Giữa thời đại mà thi ca đôi khi bị đẩy vào sự "phá cách cực đoan" hoặc sự lỏng lẻo của câu chữ, thủ pháp "Tiếp vần - Nâng vần" đặt ra một yêu cầu khắt khe về kỷ luật ngôn từ. Nhiều người coi vần điệu là xiềng xích, nhưng họ quên rằng tiếng Việt sinh ra để ngân nga.

Tôi chọn lối viết này phải chăng là “lập dị”?  Không! Đây là một phụng sự tự nguyện để giảm thiểu cái tối kỵ: sự nhạt nhẽo của ngôn ngữ. Thủ pháp này buộc người cầm bút phải "luyện chữ như luyện kim". Mỗi cặp vần phải là một sự lựa chọn tinh ròng để chữ này làm bệ đỡ cho chữ kia thăng hoa. Đó là cách tôi tôn trọng tiếng Việt và tôn trọng độc giả của mình.

6. Lời kết: Ý niệm sống qua mạch nguồn ngôn ngữ

Thi ca không chỉ là sự sắp đặt chữ nghĩa. Với một người đã đi qua thăng trầm, thậm chí là những cơn bạo bệnh để giữ mạch nguồn cảm xúc, mỗi câu thơ viết ra theo thủ pháp này là một lần tôi xác lập lại sự tồn tại của mình.

Việc "tiếp" nối những gì đã qua và "nâng" mình đứng dậy sau nỗi đau không chỉ là một thủ pháp thi ca, mà còn là một bản năng sống. Tôi mong rằng những ai đã và đang tin vào sức mạnh của âm thanh và cảm giác sẽ tìm thấy trong sự "tiếp vần - nâng vần" này một sự đồng điệu. Bởi suy cho cùng, mục đích cao nhất của nghệ thuật vẫn là dùng cái đẹp của âm vang ngôn từ để nâng tâm hồn con người vượt lên trên những bề bộn, gai góc đời thường.

(Bài luận có tham khảo AI - công cụ hỗ trợ ngôn ngữ)

 

***

 

Thơ Trương Vu Giang

 

XIÊU BƯỚC

 

Từ khi em hết có chồng

Lòng tôi,

               dôi chút đèo bòng con con.

Má hồng bạt, nhạt phấn son

Cớ sao con mắt

                          bắt mòn mỏi tôi?

Từ nay, vay chút lẻ loi

Về thương,

                   nương bước lỷ lơi đi - về.

Bóng em,

                rèm mắt buồn hoe

Thoắt, đăm đắm tắt

Hắt, nhòe nhoẹt mi.

Miền côi sôi chín xuân thì,

Nẻo yêu xiêu bước…

                                  Em đi lấy chồng.

7.96

 

THÊU TRANH

 

Ai đem yêu thương nương gieo thông xanh,

Hay mang sương lam buông neo Xuân Hương?

Gương soi long lanh tinh khôi hơi xuân

Thì ra, em thêu khung tranh ban mai!

 

Chít đất vào trời, khít nắng vào gió, thít lá với hoa…

Em se mắt gã lãng du vào đôi tay ngà;

Lặng im con tim phối màu, ngón thon quyện nét

Em đơm mặt trời khung lụa hừng đông

Phố núi tinh mơ huyễn huyền như có như không.

7.25

 

MƯA XUÂN LÀNH

 

Mây thắm ngắm trời hơi hới xanh

Nắng phơi tơi mịn hạt mưa lành

Gieo chuỗi cam lồ hồ quang ánh

Phổ ấm trần gian đang độ xuân.

 

Dốc nhỏ cỏ ngời tươi mướt sương

Đào bung tung nụ tụ trời hường

Ngọn dù đỏ em vừa qua ngõ

Phả lựng lưng chiều dìu dịu hương.

Mồng 10 Xuân Bính Ngọ

Trương Vu Giang

Bài viết liên quan

Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm