TIN TỨC

Bi kịch của nhân vật Hoạn Thư trong ‘Truyện Kiều’

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-06-05 02:16:39
mail facebook google pos stwis
24650 lượt xem

“Truyện Kiều” là tác phẩm lớn, là sản phẩm sáng tạo tuyệt vời của Đại Thi hào Nguyễn Du. Không chỉ nội dung ý nghĩa của tác phẩm không ngừng thay đổi theo thời gian mà nhiều nhân vật trong tác phẩm cũng được nhìn nhận, đánh giá theo những quan điểm khác nhau.

Nhân vật Hoạn Thư là một trong những nhân vật bị lên án nhiều nhất. Không ít người xếp chị vào thế giới nhân vật phản diện… Cái ghen của Hoạn Thư đã trở thành điển hình cho sự cay nghiệt của đàn bà khi ghen tuông. Nhưng gần đây quan điểm trên ít được sự đồng thuận, không ít bài viết bênh vực cho Hoạn Thư, thậm chí họ cho Hoạn Thư là “nhân vật bản lĩnh nhất trong Truyện Kiều” [6] và gọi cái ghen của chị là “cái ghen nhân từ” [5].

Theo chúng tôi, hai quan niệm trên đều có phần cực đoan. Hoạn Thư là nhân vật không thể phân định một cách rạch ròi thuộc loại chính diện hay phản diện mà đó là nhân vật bi kịch.


Theo các nhà nghiên cứu, Hoạn Thư chính là một nhân vật đa diện, đời thường nhất bởi chứa đựng các tính cách của một con người.

Trong bài viết nhỏ này, chúng tôi trình bày ba bi kịch chính trong cuộc đời Hoạn Thư.

1. Bi kịch về hôn nhân không môn đăng hộ đối

Hoạn Thư là tiểu thư khuê các, xuất thân trong một gia đình đại quý tộc, cha cô làm đến chức Thư thương Lại bộ:

Vốn dòng họ Hoạn danh gia,
Con quan Lại bộ tên là Hoạn Thư.

Nguyễn Du giới thiệu rất trân trọng bằng những từ ngữ Hán Việt: “danh gia”, “quan Lại bộ”, “tiểu thư”,… Mặc dù quan Lại bộ Thượng thư không xuất hiện (có thể đã mất), chỉ có quan bà và quan cô lộ diện mà quyền lực vẫn nghiêng một góc trời. Không kể cái cơ ngơi tòa rộng dãy dài, lộng lẫy, nguy nga, bà quan thì ngồi trên giường thất bảo, ban ngày vẫn thắp sáp sáng trưng:

Ngước trông tòa rộng dãy dài,
Thiên quan trủng tể có bài treo trên.
Ban ngày sáp thắp hai bên,
Giữa giường thất bảo ngồi trên một bà.

Đối với gia đình Hoạn Thư, chính quyền không được động đến, nhà chùa cũng phải sợ, nhà buôn cũng phải nể. Họ có thể làm bất cứ điều gì họ muốn, kể cả đốt nhà, bắt người về hành hạ mà không sợ gì pháp luật. Nhưng Hoạn Thư phải kết duyên với Thúc Sinh, một thư sinh xuất thân trong một gia đình thương gia:

Vốn người huyện Tích, châu Thương,
Theo nghiêm đường mở ngôi hàng Lâm Tri.

Tác giả không giới thiệu tường tận về gia thế nhà họ Thúc nhưng qua cách tiêu tiền như nước của chàng, người đọc có thể đoán định được việc kinh doanh, buôn bán của cha con

Thúc Sinh rất phát đạt:

Thúc Sinh quen thói bốc rời,
Trăm nghìn đổ một trận cười như không.

Không chỉ thế, Thúc Sinh còn bỏ ra rất nhiều vàng bạc (phải nhiều hơn số tiền “vàng ngoài bốn trăm” mà Tú Bà – Mã Giám Sinh đã bỏ ra mua Kiều) để chuộc Kiều khỏi lầu xanh:

Mượn điều trúc viện thừa lương,
Rước về hãy tạm giấu nàng một nơi.
Chiến hòa sắp sẵn hai bài,
Cậy tay thầy thợ mượn người dò la.
Bắn tin đến mặt Tú Bà,
Thua cơ mụ cũng cầu hòa dám sao.
Rõ ràng của dẫn tay trao,
Hoàn lương một thiếp, thân vào cửa công.

Dù gia đình Thúc Sinh rất giàu có nhưng xã hội phong kiến coi trọng “danh gia vọng tộc” hơn “đại gia”. Trong xã hội phong kiến Việt Nam tầng lớp thương gia không được coi trọng. Về địa vị xã hội, họ bị xếp ở thang bậc cuối cùng: “Sỹ-nông-công-thương”. Nhiều câu châm ngôn dân gian đã lên án lái buôn: “Mồm cá chép, mép lái buôn”; “Thật thà cũng thể lái trâu” hoặc “Lái buôn nói ngay, bằng thợ cày nói dối”…

Từ thế kỷ XVI, Nguyễn Dữ trong Truyền kỳ mạn lục đã lên án bọn thương gia giàu có dùng tiền bạc, mánh khóe xảo quyệt phá hoại hạnh phúc những gia đình lương thiện. Điển hình là thương gia Đỗ Tam (Truyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu) đã dùng mưu gian, kế hiểm bắt Trọng Quỳ phải gán vợ trên chiếu bạc.

Ngay trong Truyện Kiều, Mã Giám Sinh đã phải mạo danh là sinh viên Quốc tử giám khi đi mua Kiều: “Hỏi tên, rằng: Mã Giám Sinh”. Dù hắn rất kiệm lời và ăn mặc, trang điểm rất kỹ: “Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao” nhưng hành động vô học, không biết lễ nghĩa: “Ghế trên ngồi tót sỗ sàng” và bộ mặt con buôn bị lật tẩy:

Đắn đo cân sắc cân tài,
Ép cung cầm nguyệt, thử bài quạt thơ.

Cò kè bớt một thêm hai
Giờ lâu ngã giá vàng ngoài bốn trăm.

Bản chất con buôn của hắn tiếp tục bị tác giả vạch mặt khi hắn tính toán chi li trước nàng Kiều thanh tân, xinh đẹp (vừa muốn được thỏa mãn, vừa sợ Tú Bà trừng trị) và cuối cùng chấp nhận “mất một buổi quỳ” để “nước trước bẻ hoa”.

Mặt khác, sau vài ngày tiếp xúc, khi lờ mờ nhận ra bản chất con buôn của Mã Giám Sinh, Kiều vừa căm tức vừa sợ hãi. Nàng đau đớn thổ lộ với cha mẹ:

Xem gương trong bấy nhiêu ngày,
Thân con chẳng kẻo mắc tay bợm già.
Khi về bỏ vắng trong nhà,
Khi vào dúng dắng, khi ra vội vàng.
Khi ăn khi nói lỡ làng,
Khi thầy khi tớ xem thường xem khinh.
Khác màu kẻ quí người thanh,
Ngẫm ra cho kỹ như hình con buôn.

Như vậy, trong xã hội phong kiến tầng lớp thương gia không phải là tầng lớp có địa vị xã hội cao sang và không được trọng vọng như tầng lớp quý tộc, quan lại. Cuộc hôn nhân không “môn đăng hộ đối” này chính là bi kịch đầu tiên và là nguyên nhân sâu xa gây ra những bi kịch tiếp theo trong cuộc đời Hoạn Thư.

2. Bi kịch về hạnh phúc gia đình

Hoạn Thư đã phải hạ mình kết hôn cùng Thúc Sinh. Hôn nhân của họ có hôn ước theo đúng lễ giáo phong kiến. Nhưng quan hệ vợ chồng Thúc Sinh – Hoạn Thư không hề bình thường bởi nó bị mối quan hệ mang tính đẳng cấp chi phối. Thúc Sinh chưa bao giờ là một người chồng theo đúng nghĩa. Người vợ quá thông minh, xuất thân trong gia đình danh gia vọng tộc khiến Thúc Sinh trở thành một anh chàng lép vế. Đây cũng là nguyên nhân quan trọng làm cho Hoạn Thư không chiếm giữ được trái tim chồng. Đương nhiên còn một sự đối lập nữa đó là tính cách của cặp đôi này, nếu Thúc “tự do lãng tử”, thì Hoạn Thư lại “ở ăn thì nết cùng hay”, nếu Thúc “bay bổng phóng đãng” thì Hoạn Thư lại là người “lý trí khuôn phép”. Sự đối lập tương phản về tính cách giữa vợ chồng Thúc – Hoạn là nguyên nhân dẫn đến bi kịch cay đắng của Hoạn Thư, đó là nỗi đau của người đàn bà danh giá chẳng những không được chồng yêu mà còn bị phụ bạc.

Cái đau nhất của Hoạn Thư là một tiểu thư con quan Lại bộ đầy quyền thế đã phải hạ mình lấy chàng thư sinh con nhà thương nhân không môn đăng hộ đối mà còn bị chồng phản bội bí mật lấy vợ bé, lại được bố chồng đồng thuận, sống với nhau cả năm trời mà không nói với chị một lời. Chẳng những thế, bên tai chị luôn nghe rì rầm nhỏ to tiếng ong, tiếng ve rằng chồng chị mê vợ bé khiến chị càng thêm căm uất, hờn giận:

Từ nghe vườn mới thêm hoa,
Miệng người đã lắm tin nhà thì không.
Lửa tâm càng dập càng nồng,
Giận người đen bạc ra lòng trăng hoa.

Chị càng đau đớn hơn khi biết chồng phản bội mà vẫn phải âm thầm chịu đựng. Dù “lửa tâm càng dập càng nồng” song Hoạn Thư vẫn âm thầm nuốt nỗi đau đớn xót xa, nỗi uất hận vào lòng để suy tính thật cặn kẽ, chu đáo nhằm bảo vệ uy tín cho gia đình mình, cho chồng và nhà chồng. Chị nghĩ: “Dại chi chẳng giữ lấy nền/ Tốt chi mà rước tiếng ghen vào mình” và thầm trách Thúc Sinh: “Ví bằng thú thật cùng ta/ Cũng dong kẻ dưới mới là người trên”.

Một mặt, chị bỏ ngoài tai những dư luận về sự phản bội của chồng:

Nỗi lòng kín chẳng ai hay,
Ngoài tai để mặc gió bay mái ngoài.

Buồng đào khuya sớm thảnh thơi,
Ra vào một mực nói cười như không.
Mặt khác, chị trừng trị những kẻ mách lẻo tâng công:
Tuần sau bỗng thấy hai người,
Mách tin ý cũng liệu bài tâng công.
Tiểu thư nổi trận đùng đùng,
Gớm tay thêu dệt, ra lòng trêu ngươi.
Chồng tao nào phải như ai,
Điều này hẳn miệng những người thị phi.
Vội vàng xuống lệnh ra uy,
Đứa thì vả miệng, đứa thì bẻ răng.

Bề ngoài, Hoạn Thư vẫn “Ra vào một mực nói cười như không” và phủ nhận những tin đồn: “Chồng tao nào phải như ai/ Điều này hẳn miệng những người thị phi” nhưng trong lòng chị đau như cắt: “Đêm ngày lòng những giận lòng”. Chị đã bộc bạch tất cả nỗi đau bấy lâu phải chịu đựng cho mẹ mình:

Thưa nhà huyên hết mọi tình,
Nỗi chàng ở bạc, nỗi mình chịu đen.
Nghĩ rằng ngứa ghẻ hờn ghen,
Xấu chàng mà có ai khen cho mình.
Vậy nên ngoảnh mặt làm thinh,
Mưu cao vốn đã rắp ranh những ngày.

Sinh ra trong gia đình quyền quý, danh gia, được giáo dục lễ nghĩa phong kiến từ nhỏ, Hoạn Thư hiểu rất rõ các mối quan hệ và các chuẩn mực của lễ giáo phong kiến như: “Tam cương ngũ thường, Tam tòng tứ đức”. Những phẩm chất hàng đầu của người quân tử là “nhân, nghĩa, lễ, trí, tín”, của người phụ nữ phong kiến là “công, dung, ngôn, hạnh” và của người vợ là “xuất giá tòng phu”. Ngay khi biết chồng phản bội, Hoạn Thư dù rất căm giận: “Lửa tâm càng dập càng nồng/ Giận người đen bạc ra lòng trăng hoa” nhưng chị vẫn không muốn làm to chuyện mà chấp nhận cho chồng “đèo bồng”:

Ví bằng thú thật cùng ta,
Cũng dong kẻ dưới mới là lượng trên.
Dại chi chẳng giữ lấy nền,
Tốt chi mà rước tiếng ghen vào mình.
Nhưng Thúc Sinh là kẻ nhát gan, sợ vợ, lại nghĩ:
Nghĩ đà bưng kín miệng bình,
Nào ai có khảo mà mình lại xưng?
Những là e ấp dùng dằng,
Rút dây sợ nữa động rừng lại thôi.

Thậm chí kể cả khi Hoạn Thư gợi ý, nói gần nói xa, Thúc Sinh vẫn cố tình lảng tránh, không thú thật với chị:

Rằng trong ngọc đá vàng thau,
Mười phần ta đã tin nhau cả mười.
Khen cho những miệng dông dài,
Bướm ong lại đặt những lời nọ kia.
Thiếp dù bụng chẳng hay suy,
Đã dơ bụng nghĩ, lại bia miệng cười.

Vì thế, Hoạn Thư buộc phải dùng thủ đoạn đê tiện, bỉ ổi là bắt cóc Kiều, đày đọa Kiều nhằm trả thù Thúc Sinh. Chị đã “lao tâm khổ tứ” hoạch định mưu lược trả thù:

Làm cho nhìn chẳng được nhau,
Làm cho đày đọa cất đầu chẳng lên.
Làm cho trông thấy nhãn tiền,
Cho người thăm ván bán thuyền biết tay.

Tiếp đó, chị nhờ mẹ sai bọn Khuyển, Ưng sang Lâm Tri đốt nhà, bắt Kiều đưa về nhà Hoạn bà. Kiều bị đánh đập, bị ép làm con hầu, đổi tên thành“Hoa nô”, ghép vào hàng tôi tớ trong nhà.

Sau đó, Hoạn Thư bắt Kiều phải hầu rượu, hầu đàn, tạo nên cảnh đối lập giữa vợ chồng Hoạn Thư (chủ nhà) và Thúy Kiều (đứa ở):

Vợ chồng chén tạc chén thù,
Bắt nàng đứng trực trì hồ hai nơi.
Bắt khoan bắt nhặt đến lời,
Bắt quỳ tận mặt, bắt mời tận tay.

Đòn ghen của Hoạn Thư không ồn ào mà hiệu quả, không đánh vào thể xác mà đánh sâu vào tâm hồn làm cho Kiều vô cùng nhục nhã, đau đớn ê chề. Sau màn hạ nhục đó, cả đêm trường Kiều thổn thức: “Một mình âm ỷ đêm chầy/ Đĩa dầu vơi, nước mắt đầy, năm canh”, để mặc cảm về địa vị. Hoạn thư khéo léo phá vỡ dây tơ giữa Thúy Kiều với Thúc sinh, buộc Kiều tự nguyện ra đi:

Xót vì cầm đã bén dây,
Chẳng trăm năm cũng một ngày, duyên ta.
Liệu bài mở cửa cho ra,
Ấy là tình nặng, ấy là ân sâu!

Thúc Sinh cũng “tự nguyện” cắt đứt tình cảm, rũ sạch trách nhiệm làm chồng với Kiều:

Sinh rằng riêng tưởng bấy lâu,
Lòng người nham hiểm biết đâu mà lường?
Nữa khi giông tố phũ phàng,
Thiệt riêng đấy, cũng lại càng cực đây.
Liệu mà cao chạy xa bay,
Ái ân ta có ngần này mà thôi!

Cách trả thù này này rất ghê gớm, rất hiệu quả nhưng đó không phải là chủ tâm từ đầu của Hoạn Thư. Chị bất đắc dĩ phải làm điều mình không muốn và không tương xứng với phẩm hạnh, danh giá của tiểu thư khuê các, thuộc dòng họ Hoạn danh gia.

3. Bi kịch về sự sỉ nhục khi cúi đầu xin tha mạng

Từ một tiểu thư khuê các, con quan Lại bộ Thương thư quyền hành nghiêng một góc trời, phút chốc Hoạn Thư trở thành tội phạm, bị quân Từ Hải bắt về hỏi tra. Hơn thế, người ngồi trên ghế quan tòa để luận tội Hoạn thư lúc này lại chính là người cách đây không lâu đã bị chị sai Khuyển, Ưng bắt về làm nô tì (Hoa nô) và bị đày đọa đủ điều.

Hoạn Thư không những bị xếp vào “các tích phạm đồ” để tra hỏi, trừng trị (cùng hạng với Tú Bà, Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Bạc Hạnh, Bạc bà, Khuyển, Ưng) mà còn bị coi là “chính danh thủ phạm”, tra hỏi đầu tiên:

Dưới cờ gươm tuốt nắp ra,
Chính danh thủ phạm tên là Hoạn Thư.

Thoạt đầu, Kiều thực hiện chiến thuật “mèo vờn chuột” để thị uy, khủng bố tinh thần làm cho Hoạn thư “hồn lạc phách xiêu”:

Thoắt trông nàng đã chào thưa,
Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây?

Tiếp đó, Kiều đã đanh thép luận tội Hoạn Thư tàn nhẫn, độc ác, cay nghiệt có một không hai, gây nên biết bao nỗi oan trái, tủi nhục cho nàng:

Đàn bà dễ có mấy tay?
Đời xưa mấy mặt đời này mấy gan?
Dễ dàng là thói hồng nhan,
Càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều!

Để cứu mạng sống, Hoạn Thư buộc phải “khấu đầu dưới trướng” nhận lỗi lầm “gây việc chông gai” và xin kẻ đã từng bị mình “Bắt khoan bắt nhặt đến lời/ Bắt quỳ tận mặt, bắt mời tận tay” khoan dung tha mạng:

Hoạn Thư hồn lạc phách xiêu,
Khấu đầu dưới trướng liệu điều kêu ca.
Rằng tôi chút phận đàn bà,
Ghen tuông thì cũng người ta thường tình.
Nghĩ cho khi gác viết kinh,
Với khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo.
Lòng riêng, riêng những kính yêu,
Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai.
Trót đà gây việc chông gai,
Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng.

Dù được Thúy Kiều tha bổng: Truyền quân lệnh, xuống trướng tiền tha ngay nhưng sự tổn thương về tinh thần, về tâm hồn và lòng tự trọng luôn âm ỉ, nhức nhối, quặn đau trong lòng Hoạn Thư. Ký ức về nỗi sỉ nhục phải cúi đầu, tâng bốc kẻ bị mình coi là nô tỳ, mở rộng lượng hải hà thương xót luôn ùa về, gặm nhấm, dày vò, ám ảnh tâm hồn chị.

Thế giới nhân vật trong Truyện Kiều luôn có nhiều cách đánh giá khác nhau. Thúy Kiều, Thúy Vân, Thúc Sinh, Từ Hải, Hoạn Thư… luôn nhận được những sự đánh giá trái chiều. Nhân vật Hoạn Thư là một trong những nhân vật rất phức tạp, không thể phân định một cách rạch ròi thuộc loại chính diện hay phản diện và cũng là nhân vật thể hiện thái độ phân vân của thi nhân khi miêu tả, đánh giá. Từ trong thai nghén, khi chưa “chào đời” đến nay nhân vật này luôn nhận được những đánh giá trái chiều, có khi rất gay gắt, cực đoan.

Theo chúng tôi, Hoạn Thư của Nguyễn Du trong Truyện Kiều là nhân vật có những mặt cần phê phán, có những mặt cần được thông cảm. Chị là người chịu nhiều đau khổ về mặt tinh thần. Ba bi kịch đau đớn, tủi nhục, xót xa trong cuộc đời chị là: bi kịch về hôn nhân không môn đăng hộ đối, bi kịch về hạnh phúc gia đình khi bị chồng phản bội và bi kịch về sự sỉ nhục phải “cúi đầu dưới trướng” xin kẻ từng bị mình coi là nô tì tha mạng. Mặc dù, trong hoàn cảnh nào chị cũng chiến thắng (dành lại được chồng trong tay Kiều, chối tội thành công để được tha bổng) nhưng Hoạn thư luôn bị tổn thất về tinh thần.

Từ một con người đạo lí, một nhân vật hành động trong tiểu thuyết Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm tài nhân, Nguyễn Du đã lột xác Hoạn Thư thành một nhân vật tâm trạng với đời sống nội tâm phong phú, đa dạng, luôn dằn vặt, ám ảnh với nỗi đau tinh thần.

Nguyễn Công Thanh – Nguyễn Thị Huyền Linh

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Lê Như Bình (2012), “Vẻ đẹp của nhân vật Hoạn Thư”, Kỷ yếu Hội thảo về Nguyễn Du và Truyện Kiều, Đại học Hồng Đức, Thanh Hóa.
[2] Nguyễn Du (1978), Truyện Kiều, Nxb Văn học, Hà Nội.
[3] Lê Bá Hán – Trần Đình Sử – Nguyễn Khắc Phi (2004), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
[4] Đinh Gia Khánh (Chủ biên)-Bùi Duy Tân-Mai Cao Chương (2001), Văn học Việt Nam (Thế kỷ X-nửa đầu thế kỷ XVIII), Nxb Giáo dục, Hà Nội.
[5] Tạ Quang Khôi (2001), “Cái ghen nhân từ của Hoạn thư”,http://www.asia-religion.com.
[6] Đường Mạnh Hùng (2011), “Hoạn thư là nhân vật bản lĩnh nhất trong Truyện Kiều”, http://www.blogtiengviet.hungmanhduong.com.
[7] Nguyễn Đăng Na (Chủ biên)-Đinh Thị Khang-Trần Quang Minh-Nguyễn Phong Nam-Lã Nhâm Thìn (2005), Văn học trung đại Việt Nam, Tập 2, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội.
[8] Trần Đình Sử (2004), Thi pháp Truyện Kiều, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
[9] Phạm Tuấn Vũ (2014), “Nghĩ về nhân vật Hoạn thư”, Tạp chí Đất Quảng số 3.

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm