TIN TỨC

Bi kịch của nhân vật Hoạn Thư trong ‘Truyện Kiều’

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-06-05 02:16:39
mail facebook google pos stwis
27589 lượt xem

“Truyện Kiều” là tác phẩm lớn, là sản phẩm sáng tạo tuyệt vời của Đại Thi hào Nguyễn Du. Không chỉ nội dung ý nghĩa của tác phẩm không ngừng thay đổi theo thời gian mà nhiều nhân vật trong tác phẩm cũng được nhìn nhận, đánh giá theo những quan điểm khác nhau.

Nhân vật Hoạn Thư là một trong những nhân vật bị lên án nhiều nhất. Không ít người xếp chị vào thế giới nhân vật phản diện… Cái ghen của Hoạn Thư đã trở thành điển hình cho sự cay nghiệt của đàn bà khi ghen tuông. Nhưng gần đây quan điểm trên ít được sự đồng thuận, không ít bài viết bênh vực cho Hoạn Thư, thậm chí họ cho Hoạn Thư là “nhân vật bản lĩnh nhất trong Truyện Kiều” [6] và gọi cái ghen của chị là “cái ghen nhân từ” [5].

Theo chúng tôi, hai quan niệm trên đều có phần cực đoan. Hoạn Thư là nhân vật không thể phân định một cách rạch ròi thuộc loại chính diện hay phản diện mà đó là nhân vật bi kịch.


Theo các nhà nghiên cứu, Hoạn Thư chính là một nhân vật đa diện, đời thường nhất bởi chứa đựng các tính cách của một con người.

Trong bài viết nhỏ này, chúng tôi trình bày ba bi kịch chính trong cuộc đời Hoạn Thư.

1. Bi kịch về hôn nhân không môn đăng hộ đối

Hoạn Thư là tiểu thư khuê các, xuất thân trong một gia đình đại quý tộc, cha cô làm đến chức Thư thương Lại bộ:

Vốn dòng họ Hoạn danh gia,
Con quan Lại bộ tên là Hoạn Thư.

Nguyễn Du giới thiệu rất trân trọng bằng những từ ngữ Hán Việt: “danh gia”, “quan Lại bộ”, “tiểu thư”,… Mặc dù quan Lại bộ Thượng thư không xuất hiện (có thể đã mất), chỉ có quan bà và quan cô lộ diện mà quyền lực vẫn nghiêng một góc trời. Không kể cái cơ ngơi tòa rộng dãy dài, lộng lẫy, nguy nga, bà quan thì ngồi trên giường thất bảo, ban ngày vẫn thắp sáp sáng trưng:

Ngước trông tòa rộng dãy dài,
Thiên quan trủng tể có bài treo trên.
Ban ngày sáp thắp hai bên,
Giữa giường thất bảo ngồi trên một bà.

Đối với gia đình Hoạn Thư, chính quyền không được động đến, nhà chùa cũng phải sợ, nhà buôn cũng phải nể. Họ có thể làm bất cứ điều gì họ muốn, kể cả đốt nhà, bắt người về hành hạ mà không sợ gì pháp luật. Nhưng Hoạn Thư phải kết duyên với Thúc Sinh, một thư sinh xuất thân trong một gia đình thương gia:

Vốn người huyện Tích, châu Thương,
Theo nghiêm đường mở ngôi hàng Lâm Tri.

Tác giả không giới thiệu tường tận về gia thế nhà họ Thúc nhưng qua cách tiêu tiền như nước của chàng, người đọc có thể đoán định được việc kinh doanh, buôn bán của cha con

Thúc Sinh rất phát đạt:

Thúc Sinh quen thói bốc rời,
Trăm nghìn đổ một trận cười như không.

Không chỉ thế, Thúc Sinh còn bỏ ra rất nhiều vàng bạc (phải nhiều hơn số tiền “vàng ngoài bốn trăm” mà Tú Bà – Mã Giám Sinh đã bỏ ra mua Kiều) để chuộc Kiều khỏi lầu xanh:

Mượn điều trúc viện thừa lương,
Rước về hãy tạm giấu nàng một nơi.
Chiến hòa sắp sẵn hai bài,
Cậy tay thầy thợ mượn người dò la.
Bắn tin đến mặt Tú Bà,
Thua cơ mụ cũng cầu hòa dám sao.
Rõ ràng của dẫn tay trao,
Hoàn lương một thiếp, thân vào cửa công.

Dù gia đình Thúc Sinh rất giàu có nhưng xã hội phong kiến coi trọng “danh gia vọng tộc” hơn “đại gia”. Trong xã hội phong kiến Việt Nam tầng lớp thương gia không được coi trọng. Về địa vị xã hội, họ bị xếp ở thang bậc cuối cùng: “Sỹ-nông-công-thương”. Nhiều câu châm ngôn dân gian đã lên án lái buôn: “Mồm cá chép, mép lái buôn”; “Thật thà cũng thể lái trâu” hoặc “Lái buôn nói ngay, bằng thợ cày nói dối”…

Từ thế kỷ XVI, Nguyễn Dữ trong Truyền kỳ mạn lục đã lên án bọn thương gia giàu có dùng tiền bạc, mánh khóe xảo quyệt phá hoại hạnh phúc những gia đình lương thiện. Điển hình là thương gia Đỗ Tam (Truyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu) đã dùng mưu gian, kế hiểm bắt Trọng Quỳ phải gán vợ trên chiếu bạc.

Ngay trong Truyện Kiều, Mã Giám Sinh đã phải mạo danh là sinh viên Quốc tử giám khi đi mua Kiều: “Hỏi tên, rằng: Mã Giám Sinh”. Dù hắn rất kiệm lời và ăn mặc, trang điểm rất kỹ: “Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao” nhưng hành động vô học, không biết lễ nghĩa: “Ghế trên ngồi tót sỗ sàng” và bộ mặt con buôn bị lật tẩy:

Đắn đo cân sắc cân tài,
Ép cung cầm nguyệt, thử bài quạt thơ.

Cò kè bớt một thêm hai
Giờ lâu ngã giá vàng ngoài bốn trăm.

Bản chất con buôn của hắn tiếp tục bị tác giả vạch mặt khi hắn tính toán chi li trước nàng Kiều thanh tân, xinh đẹp (vừa muốn được thỏa mãn, vừa sợ Tú Bà trừng trị) và cuối cùng chấp nhận “mất một buổi quỳ” để “nước trước bẻ hoa”.

Mặt khác, sau vài ngày tiếp xúc, khi lờ mờ nhận ra bản chất con buôn của Mã Giám Sinh, Kiều vừa căm tức vừa sợ hãi. Nàng đau đớn thổ lộ với cha mẹ:

Xem gương trong bấy nhiêu ngày,
Thân con chẳng kẻo mắc tay bợm già.
Khi về bỏ vắng trong nhà,
Khi vào dúng dắng, khi ra vội vàng.
Khi ăn khi nói lỡ làng,
Khi thầy khi tớ xem thường xem khinh.
Khác màu kẻ quí người thanh,
Ngẫm ra cho kỹ như hình con buôn.

Như vậy, trong xã hội phong kiến tầng lớp thương gia không phải là tầng lớp có địa vị xã hội cao sang và không được trọng vọng như tầng lớp quý tộc, quan lại. Cuộc hôn nhân không “môn đăng hộ đối” này chính là bi kịch đầu tiên và là nguyên nhân sâu xa gây ra những bi kịch tiếp theo trong cuộc đời Hoạn Thư.

2. Bi kịch về hạnh phúc gia đình

Hoạn Thư đã phải hạ mình kết hôn cùng Thúc Sinh. Hôn nhân của họ có hôn ước theo đúng lễ giáo phong kiến. Nhưng quan hệ vợ chồng Thúc Sinh – Hoạn Thư không hề bình thường bởi nó bị mối quan hệ mang tính đẳng cấp chi phối. Thúc Sinh chưa bao giờ là một người chồng theo đúng nghĩa. Người vợ quá thông minh, xuất thân trong gia đình danh gia vọng tộc khiến Thúc Sinh trở thành một anh chàng lép vế. Đây cũng là nguyên nhân quan trọng làm cho Hoạn Thư không chiếm giữ được trái tim chồng. Đương nhiên còn một sự đối lập nữa đó là tính cách của cặp đôi này, nếu Thúc “tự do lãng tử”, thì Hoạn Thư lại “ở ăn thì nết cùng hay”, nếu Thúc “bay bổng phóng đãng” thì Hoạn Thư lại là người “lý trí khuôn phép”. Sự đối lập tương phản về tính cách giữa vợ chồng Thúc – Hoạn là nguyên nhân dẫn đến bi kịch cay đắng của Hoạn Thư, đó là nỗi đau của người đàn bà danh giá chẳng những không được chồng yêu mà còn bị phụ bạc.

Cái đau nhất của Hoạn Thư là một tiểu thư con quan Lại bộ đầy quyền thế đã phải hạ mình lấy chàng thư sinh con nhà thương nhân không môn đăng hộ đối mà còn bị chồng phản bội bí mật lấy vợ bé, lại được bố chồng đồng thuận, sống với nhau cả năm trời mà không nói với chị một lời. Chẳng những thế, bên tai chị luôn nghe rì rầm nhỏ to tiếng ong, tiếng ve rằng chồng chị mê vợ bé khiến chị càng thêm căm uất, hờn giận:

Từ nghe vườn mới thêm hoa,
Miệng người đã lắm tin nhà thì không.
Lửa tâm càng dập càng nồng,
Giận người đen bạc ra lòng trăng hoa.

Chị càng đau đớn hơn khi biết chồng phản bội mà vẫn phải âm thầm chịu đựng. Dù “lửa tâm càng dập càng nồng” song Hoạn Thư vẫn âm thầm nuốt nỗi đau đớn xót xa, nỗi uất hận vào lòng để suy tính thật cặn kẽ, chu đáo nhằm bảo vệ uy tín cho gia đình mình, cho chồng và nhà chồng. Chị nghĩ: “Dại chi chẳng giữ lấy nền/ Tốt chi mà rước tiếng ghen vào mình” và thầm trách Thúc Sinh: “Ví bằng thú thật cùng ta/ Cũng dong kẻ dưới mới là người trên”.

Một mặt, chị bỏ ngoài tai những dư luận về sự phản bội của chồng:

Nỗi lòng kín chẳng ai hay,
Ngoài tai để mặc gió bay mái ngoài.

Buồng đào khuya sớm thảnh thơi,
Ra vào một mực nói cười như không.
Mặt khác, chị trừng trị những kẻ mách lẻo tâng công:
Tuần sau bỗng thấy hai người,
Mách tin ý cũng liệu bài tâng công.
Tiểu thư nổi trận đùng đùng,
Gớm tay thêu dệt, ra lòng trêu ngươi.
Chồng tao nào phải như ai,
Điều này hẳn miệng những người thị phi.
Vội vàng xuống lệnh ra uy,
Đứa thì vả miệng, đứa thì bẻ răng.

Bề ngoài, Hoạn Thư vẫn “Ra vào một mực nói cười như không” và phủ nhận những tin đồn: “Chồng tao nào phải như ai/ Điều này hẳn miệng những người thị phi” nhưng trong lòng chị đau như cắt: “Đêm ngày lòng những giận lòng”. Chị đã bộc bạch tất cả nỗi đau bấy lâu phải chịu đựng cho mẹ mình:

Thưa nhà huyên hết mọi tình,
Nỗi chàng ở bạc, nỗi mình chịu đen.
Nghĩ rằng ngứa ghẻ hờn ghen,
Xấu chàng mà có ai khen cho mình.
Vậy nên ngoảnh mặt làm thinh,
Mưu cao vốn đã rắp ranh những ngày.

Sinh ra trong gia đình quyền quý, danh gia, được giáo dục lễ nghĩa phong kiến từ nhỏ, Hoạn Thư hiểu rất rõ các mối quan hệ và các chuẩn mực của lễ giáo phong kiến như: “Tam cương ngũ thường, Tam tòng tứ đức”. Những phẩm chất hàng đầu của người quân tử là “nhân, nghĩa, lễ, trí, tín”, của người phụ nữ phong kiến là “công, dung, ngôn, hạnh” và của người vợ là “xuất giá tòng phu”. Ngay khi biết chồng phản bội, Hoạn Thư dù rất căm giận: “Lửa tâm càng dập càng nồng/ Giận người đen bạc ra lòng trăng hoa” nhưng chị vẫn không muốn làm to chuyện mà chấp nhận cho chồng “đèo bồng”:

Ví bằng thú thật cùng ta,
Cũng dong kẻ dưới mới là lượng trên.
Dại chi chẳng giữ lấy nền,
Tốt chi mà rước tiếng ghen vào mình.
Nhưng Thúc Sinh là kẻ nhát gan, sợ vợ, lại nghĩ:
Nghĩ đà bưng kín miệng bình,
Nào ai có khảo mà mình lại xưng?
Những là e ấp dùng dằng,
Rút dây sợ nữa động rừng lại thôi.

Thậm chí kể cả khi Hoạn Thư gợi ý, nói gần nói xa, Thúc Sinh vẫn cố tình lảng tránh, không thú thật với chị:

Rằng trong ngọc đá vàng thau,
Mười phần ta đã tin nhau cả mười.
Khen cho những miệng dông dài,
Bướm ong lại đặt những lời nọ kia.
Thiếp dù bụng chẳng hay suy,
Đã dơ bụng nghĩ, lại bia miệng cười.

Vì thế, Hoạn Thư buộc phải dùng thủ đoạn đê tiện, bỉ ổi là bắt cóc Kiều, đày đọa Kiều nhằm trả thù Thúc Sinh. Chị đã “lao tâm khổ tứ” hoạch định mưu lược trả thù:

Làm cho nhìn chẳng được nhau,
Làm cho đày đọa cất đầu chẳng lên.
Làm cho trông thấy nhãn tiền,
Cho người thăm ván bán thuyền biết tay.

Tiếp đó, chị nhờ mẹ sai bọn Khuyển, Ưng sang Lâm Tri đốt nhà, bắt Kiều đưa về nhà Hoạn bà. Kiều bị đánh đập, bị ép làm con hầu, đổi tên thành“Hoa nô”, ghép vào hàng tôi tớ trong nhà.

Sau đó, Hoạn Thư bắt Kiều phải hầu rượu, hầu đàn, tạo nên cảnh đối lập giữa vợ chồng Hoạn Thư (chủ nhà) và Thúy Kiều (đứa ở):

Vợ chồng chén tạc chén thù,
Bắt nàng đứng trực trì hồ hai nơi.
Bắt khoan bắt nhặt đến lời,
Bắt quỳ tận mặt, bắt mời tận tay.

Đòn ghen của Hoạn Thư không ồn ào mà hiệu quả, không đánh vào thể xác mà đánh sâu vào tâm hồn làm cho Kiều vô cùng nhục nhã, đau đớn ê chề. Sau màn hạ nhục đó, cả đêm trường Kiều thổn thức: “Một mình âm ỷ đêm chầy/ Đĩa dầu vơi, nước mắt đầy, năm canh”, để mặc cảm về địa vị. Hoạn thư khéo léo phá vỡ dây tơ giữa Thúy Kiều với Thúc sinh, buộc Kiều tự nguyện ra đi:

Xót vì cầm đã bén dây,
Chẳng trăm năm cũng một ngày, duyên ta.
Liệu bài mở cửa cho ra,
Ấy là tình nặng, ấy là ân sâu!

Thúc Sinh cũng “tự nguyện” cắt đứt tình cảm, rũ sạch trách nhiệm làm chồng với Kiều:

Sinh rằng riêng tưởng bấy lâu,
Lòng người nham hiểm biết đâu mà lường?
Nữa khi giông tố phũ phàng,
Thiệt riêng đấy, cũng lại càng cực đây.
Liệu mà cao chạy xa bay,
Ái ân ta có ngần này mà thôi!

Cách trả thù này này rất ghê gớm, rất hiệu quả nhưng đó không phải là chủ tâm từ đầu của Hoạn Thư. Chị bất đắc dĩ phải làm điều mình không muốn và không tương xứng với phẩm hạnh, danh giá của tiểu thư khuê các, thuộc dòng họ Hoạn danh gia.

3. Bi kịch về sự sỉ nhục khi cúi đầu xin tha mạng

Từ một tiểu thư khuê các, con quan Lại bộ Thương thư quyền hành nghiêng một góc trời, phút chốc Hoạn Thư trở thành tội phạm, bị quân Từ Hải bắt về hỏi tra. Hơn thế, người ngồi trên ghế quan tòa để luận tội Hoạn thư lúc này lại chính là người cách đây không lâu đã bị chị sai Khuyển, Ưng bắt về làm nô tì (Hoa nô) và bị đày đọa đủ điều.

Hoạn Thư không những bị xếp vào “các tích phạm đồ” để tra hỏi, trừng trị (cùng hạng với Tú Bà, Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Bạc Hạnh, Bạc bà, Khuyển, Ưng) mà còn bị coi là “chính danh thủ phạm”, tra hỏi đầu tiên:

Dưới cờ gươm tuốt nắp ra,
Chính danh thủ phạm tên là Hoạn Thư.

Thoạt đầu, Kiều thực hiện chiến thuật “mèo vờn chuột” để thị uy, khủng bố tinh thần làm cho Hoạn thư “hồn lạc phách xiêu”:

Thoắt trông nàng đã chào thưa,
Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây?

Tiếp đó, Kiều đã đanh thép luận tội Hoạn Thư tàn nhẫn, độc ác, cay nghiệt có một không hai, gây nên biết bao nỗi oan trái, tủi nhục cho nàng:

Đàn bà dễ có mấy tay?
Đời xưa mấy mặt đời này mấy gan?
Dễ dàng là thói hồng nhan,
Càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều!

Để cứu mạng sống, Hoạn Thư buộc phải “khấu đầu dưới trướng” nhận lỗi lầm “gây việc chông gai” và xin kẻ đã từng bị mình “Bắt khoan bắt nhặt đến lời/ Bắt quỳ tận mặt, bắt mời tận tay” khoan dung tha mạng:

Hoạn Thư hồn lạc phách xiêu,
Khấu đầu dưới trướng liệu điều kêu ca.
Rằng tôi chút phận đàn bà,
Ghen tuông thì cũng người ta thường tình.
Nghĩ cho khi gác viết kinh,
Với khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo.
Lòng riêng, riêng những kính yêu,
Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai.
Trót đà gây việc chông gai,
Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng.

Dù được Thúy Kiều tha bổng: Truyền quân lệnh, xuống trướng tiền tha ngay nhưng sự tổn thương về tinh thần, về tâm hồn và lòng tự trọng luôn âm ỉ, nhức nhối, quặn đau trong lòng Hoạn Thư. Ký ức về nỗi sỉ nhục phải cúi đầu, tâng bốc kẻ bị mình coi là nô tỳ, mở rộng lượng hải hà thương xót luôn ùa về, gặm nhấm, dày vò, ám ảnh tâm hồn chị.

Thế giới nhân vật trong Truyện Kiều luôn có nhiều cách đánh giá khác nhau. Thúy Kiều, Thúy Vân, Thúc Sinh, Từ Hải, Hoạn Thư… luôn nhận được những sự đánh giá trái chiều. Nhân vật Hoạn Thư là một trong những nhân vật rất phức tạp, không thể phân định một cách rạch ròi thuộc loại chính diện hay phản diện và cũng là nhân vật thể hiện thái độ phân vân của thi nhân khi miêu tả, đánh giá. Từ trong thai nghén, khi chưa “chào đời” đến nay nhân vật này luôn nhận được những đánh giá trái chiều, có khi rất gay gắt, cực đoan.

Theo chúng tôi, Hoạn Thư của Nguyễn Du trong Truyện Kiều là nhân vật có những mặt cần phê phán, có những mặt cần được thông cảm. Chị là người chịu nhiều đau khổ về mặt tinh thần. Ba bi kịch đau đớn, tủi nhục, xót xa trong cuộc đời chị là: bi kịch về hôn nhân không môn đăng hộ đối, bi kịch về hạnh phúc gia đình khi bị chồng phản bội và bi kịch về sự sỉ nhục phải “cúi đầu dưới trướng” xin kẻ từng bị mình coi là nô tì tha mạng. Mặc dù, trong hoàn cảnh nào chị cũng chiến thắng (dành lại được chồng trong tay Kiều, chối tội thành công để được tha bổng) nhưng Hoạn thư luôn bị tổn thất về tinh thần.

Từ một con người đạo lí, một nhân vật hành động trong tiểu thuyết Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm tài nhân, Nguyễn Du đã lột xác Hoạn Thư thành một nhân vật tâm trạng với đời sống nội tâm phong phú, đa dạng, luôn dằn vặt, ám ảnh với nỗi đau tinh thần.

Nguyễn Công Thanh – Nguyễn Thị Huyền Linh

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Lê Như Bình (2012), “Vẻ đẹp của nhân vật Hoạn Thư”, Kỷ yếu Hội thảo về Nguyễn Du và Truyện Kiều, Đại học Hồng Đức, Thanh Hóa.
[2] Nguyễn Du (1978), Truyện Kiều, Nxb Văn học, Hà Nội.
[3] Lê Bá Hán – Trần Đình Sử – Nguyễn Khắc Phi (2004), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
[4] Đinh Gia Khánh (Chủ biên)-Bùi Duy Tân-Mai Cao Chương (2001), Văn học Việt Nam (Thế kỷ X-nửa đầu thế kỷ XVIII), Nxb Giáo dục, Hà Nội.
[5] Tạ Quang Khôi (2001), “Cái ghen nhân từ của Hoạn thư”,http://www.asia-religion.com.
[6] Đường Mạnh Hùng (2011), “Hoạn thư là nhân vật bản lĩnh nhất trong Truyện Kiều”, http://www.blogtiengviet.hungmanhduong.com.
[7] Nguyễn Đăng Na (Chủ biên)-Đinh Thị Khang-Trần Quang Minh-Nguyễn Phong Nam-Lã Nhâm Thìn (2005), Văn học trung đại Việt Nam, Tập 2, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội.
[8] Trần Đình Sử (2004), Thi pháp Truyện Kiều, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
[9] Phạm Tuấn Vũ (2014), “Nghĩ về nhân vật Hoạn thư”, Tạp chí Đất Quảng số 3.

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Trần Hạ Vi và hành trình nỗi nhớ
Phiến hạ là tập thơ thứ 3 của Trần Hạ Vi. Là người quan tâm đến đời sống văn học, tác giả và tác phẩm, nên trong những người Việt sống và viết ở hải ngoại, tôi khá quan tâm đến các tác giả như Trương Anh Tú (Đức), Võ Thị Như Mai (Úc) và Trần Hạ Vi (Canada). Vì thế, tôi tìm đọc Phiến hạ.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm