TIN TỨC

Bùi Việt Mỹ - Nhà thơ của bức họa ngoại thành thủ đô

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-10-23 15:19:04
mail facebook google pos stwis
1665 lượt xem

Tôi nhớ đầu năm 1991, Bùi Việt Mỹ về làm Chánh văn phòng Hội Văn Nghệ Hà Nội. Lúc ấy nhà thơ Vũ Quần Phương làm Chủ tịch Hội. Sau đó, nhà thơ Vũ Quần Phương chuyển sang làm Tổng Biên tập báo Người Hà Nội, nhà văn Tô Hoài trở về làm Chủ tịch Hội, cho đến năm 1996, khi nhà thơ Bằng Việt đang công tác ở Ủy ban Thành phố được bầu làm Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hà Nội. Văn nghệ Hà Nội có 9 hội chuyên ngành tới hiện giờ.

Nhà thơ Bùi Việt Mỹ

Bùi Việt Mỹ giúp việc cho cả ba vị Chủ tịch đã nói ở trên cho đến năm 2001 mới sang báo Người Hà Nội. Mười năm ấy ông dựng văn phòng thành hình cơ quan trực thuộc Thành phố là cả một quá trình. Nhất là thuở các Hội chuyên ngành mới lập còn chưa đâu vào đâu. Bùi Việt Mỹ đã tham mưu cho lãnh đạo và trực tiếp xắn tay thực hiện làm cho mọi việc dần đi vào quỹ đạo.

 Thế là Bùi Việt Mỹ, được sự đồng ý của Ban Chấp hành, làm cuốn Kỷ yếu Nhà văn Hà Nội năm 1997, Kỷ yếu Nhà Điện ảnh Hà Nội năm 1998, ra sách chuyên đề Thăng Long Văn hiến từ năm 1998 mỗi quý một tập để hưởng ứng cuộc Vận động sáng tác văn học nghệ thuật hướng tới Đại Lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội. Đây là tập chuyên đề đầu tiên ra mắt vì việc này.

Còn nữa, trong khoảng tài chính tự lo, chúng tôi còn ra được tập Hà Nội Thơ tình tuyển chọn. Sau này khi xuống báo Người Hà Nội, Bùi Việt Mỹ còn chủ biên một tập thơ dày đến nghìn trang tuyển các bài thơ viết về Thăng Long – Hà Nội. Khi làm Tổng Biên tập báo Người Hà Nội, ông cũng cùng nhà thơ Nguyễn Quang Thiều ra phụ trương Nghệ Thuật Mới rất hay. Không kể ông cùng với đồng nghiệp ở báo dựng tờ Người Hà Nội Điện tử đáp ứng được nhu cầu báo mạng Internet.

Có thể nói, ba mươi năm công tác ở Hội Liên hiệp, Hội Nhà văn Hà Nội và báo Người Hà Nội, nhà thơ Bùi Việt Mỹ  vừa trung thành, vừa dựng giữ cho văn học nghệ thuật Thủ Đô. Ông kiên nhẫn và sáng tạo, nhưng trên cơ sở của hiểu biết và vận dụng. Công việc thì như thế, nhưng là nhà thơ, trên hết vẫn là thơ. Chúng ta cùng đọc thơ ông để thưởng thức và đánh giá “con mắt thi sĩ” của ông khi nhà thơ Bằng Việt nhận xét về thơ Bùi Việt Mỹ.

Thơ Bùi Việt Mỹ, Đầu những năm 1990, là tức cảnh sinh tình. Lúc này, ông mới tiếp cận sự thay đổi. Ta hãy đọc hai bài thơ bộc lộ tài năng thi họa “trong thơ có ảnh” của ông. (Cũng nên chú ý đến hình tượng gió bắt đầu từ đây trong thơ ông).

Vườn nắng

Mưa,

để lại những mặt trời nằm im trên lá

mỗi bận mưa về, đi êm ả,

Nay, mưa vừa đi qua

để lại em và vệt sáng nghiêng ánh mắt

vườn thêm mỡ màng.

Đàn chim nào đã bay ngang

hẹn mùa hoa trái

Cánh gió nào đã dẫn mưa đi, đón mặt trời trở lại

luyện lên mùa màng.

 

Anh ngắm nhìn em lòng xốn xang

một vườn mưa đầy nắng.

1992.

 

Ngày về

Kìa gió láng Đồng già (*)

Ta nhớ lắm

Gió đã nhuộm cuộc chia xa

Vùng nước lợ

Con đê

Một bên lúa

Một bên cửa biển

Nhìn mây trời trong vắt

Gió mang màu nắng xanh.

 

Ta đã mang màu xanh ấy ra đi

Nguỵ trang suốt chiều dài chiến dịch

Giống như trong cổ tích

Gió là thần ta

Tạt khuất lửa thù.

 

Lại đây gió

Để cho lá chim chung chiêng

Thuyền xa bờ

Bồng bềnh

 

Bồng bềnh câu hát

Quyện chặt lấy con đê đồng làng

Gió còn mang màu xanh ấy

Ta muốn hỏi

Làng có ai vẫn mang áo tim ?

 

Lại đây

Thì ra vẫn cơn gió cũ

Vờn ven đê

Bụi nhoá mặt trời

Đầu sóng,đầu gió bạc

 

Thật thế sao

Làm ta kinh hãi vô cùng.

 

Kìa gió

Dẫu ta về muộn

Mọi đổi khác của Đồng Già biến ta thành xa lạ

Nhưng đó là cái vươn xa

Của chính quê hương so với đời người.

 

Dẫn ta đoạn đường

Gió vượt sóng mà bay lên

Để bất cứ cuộc sống nào

Cũng đi qua đây.

Trà linh, 1992.

 

Thời gian sau, mảng thế sự công dân chiếm vị trí quan trọng và bền chặt trong thơ ông.

Hình dung

Khép cửa, biết mai rồi lạnh tới
Một mình dịu vợi nỗi đua chen
Nhìn chân chiều thấy trời vỡ ối
Đông thế mà sao chẳng lắm người.

 

Khối đá quý ở Thiền Viện Trúc Lâm Yên Tử

Giời đặt một con ngươi mắt mình
Hòng thu phục nhân gian.

6/2007

Hai bài này chủ ý rõ ràng. Riêng Người về phố bán dao thì ẩn ý. Cái thời kỳ có nhiều u nhọt, sâu bệnh xã hội, lại tập trung nhiều ở phố phường, nhức mắt, mà không làm gì được. Mà có công cụ đấy “Những con dao khoe sáng trước bàn tay”, “Dao thì sắc nhưng không chặt được”, nên đành “Anh tiếc cho mình đem dao sắc bán rao.”.

Người về phố bán dao

Chẳng nặng gì mà đè lệch vai
Đôi chân bằng mà anh đi tập tễnh
Suốt ngày mỉm cười với mọi người, không chán
Vai vẫn không nhẹ vơi.
Cả thành phố lúc nào cũng rậm lời
Anh không thấy tấc vỉa hè nào dành cho mình cả
Nếu có một khách hàng (chỉ là nấn ná)
Anh nén dừng trong tư thế đi ngay.

Những con dao khoe sáng trước bàn tay
Còn người khách ném vài câu gầy guộc:
Dao thì sắc nhưng không chặt được
Nào đoán trông sự cần lao lết bước.

Ôi, cao thấp gì đâu, đồng quà, bát nước
Anh tiếc cho mình đem dao sắc bán rao.

 

Cái bàn chân đi trên cát để lại dấu chân. Dấu chân sâu đọng nước biển in cả sắc trời. Chỉ là dấu chân của cá thể thôi cũng là một riêng tư đấy. Vẻ đẹp của sự nông nổi thăng hoa đến Dã tràng trên cát  của động thái anh hùng so với các nguyên mộc em cứ dẵm gót hồng trên cát bạc tạo liên tưởng em để lại vũng nước sắc trời hơn xa sóng vờn mặn nhạt.  Ý tứ bài thơ vượt qua chuẩn thông thường.

Cuộc sống được gắn kết bởi những sự việc rời rạc

 Gửi Hiền

 

Những động thái anh hùng là vẻ đẹp của sự nông nổi thăng hoa

Chúng đi suốt cả quãng đời thuần khiết

Dẫu biết mai đây

Chẳng bao giờ ai biết

Và kia rồi biền biệt chia xa.

Có thể,

Cứ như thế kia

Chẳng ai xây nhiều những ngôi nhà

Bằng Dã tràng trên cát

Chỉ một chúng với sóng vờn mặn nhạt

Kẻ vun,

Người dỡ

Suốt chiều dài năm tháng đã ưa nhau.

Đấy như là cuộc sống

Em cứ dẵm gót hồng trên cát bạc

Sẽ chẳng có sự thật nào hơn thế được đâu

 

Những vệt màu đuổi nhau

Vô tư và nhàu nhĩ đến ngộ nghĩnh

Nhưng đấy là khởi nguyên vẻ đẹp muôn loài.

Hãy cứ để dại khờ quen bước đi trống trải

Vết trũng nước dấu chân thường in đậm sắc trời.

1/2010

Trong các tác phẩm: Vườn nắng – 1992, Chuyển khúc – 1997, Ngoại ô mùa nắng – 2002, Giữa hai chiều thời gian – 2006, Những luống cày vắng mùa – 2010. Bùi Việt Mỹ, với con mắt nhìn thi sỹ, dạo bước ngoại thành với cảm hứng du tản lãng mạn. Vào thơ ông, vệt ngoại thành trở thành một đóng góp dấu ấn biểu tượng hiện thực của thơ ca Hà Nội.

Đấy là vào khoảng giữa những năm 90 của thế kỷ XX. Tôi còn nhớ trong một chương trình văn nghệ trên VTV3 do nhà thơ Vũ Quần Phương dẫn, Bùi Việt Mỹ, cũng như chúng tôi vẫn nặng lòng với dòng sông Trà Lý quê nhà, dù lúc ấy, ông ở Hà Nội đã hai mươi năm có lẻ. Rồi như bắt được vàng, ông có những bài viết về chợ Dâu, về vườn dâu Mai Lĩnh, về phía Đông Anh, Từ Liêm, Đan Phượng, Mê Linh,…

Phượng vàng

Lại gặp nữa một mùa hạ trắng
Ve chơi vơi rơi cánh phượng vàng
Tôi lạc nhìn theo lối rẽ ngang
Bởi chợt nhớ, nghẹn đến nhàu vệt cỏ.

Hẳn đến muộn em không còn đứng đó
Trưa tan dần về xa tít cơn mưa
Ngọn gió đùa, tiếng ve thành hai nửa
Hát theo mùa nên lạc chút riêng tư.

Vệt cỏ nhàu lặng dấu gót chân ư?
Tôi đến muộn, đâu phải em không đến
Vịn vào câu thơ tránh nỗi buồn da diết
Đứng bóng rồi, trơ cánh phượng bơ vơ. 


Trở về Ngoại thành, câu thơ Bùi Việt Mỹ mềm mại hẳn đi. Và chỉ ở đây câu chuyện tình mới đọng sâu nỗi nhớ. Đó là gợi ý mỹ học.

Ngày

Con
 Bận bịu với chùm bóng bay
Để ngày nằm ì trên lưng cỏ
Diều đứt dây ngả nghiêng tai thỏ
Trâu no tròn cười bâng quơ,

Trời giật mình sau mơ
Bóng râm quẹt vào lần ngủ gật
Mấy tiết học bức tranh gà nhem bẩn
Kim giờ vẫn trơ trơ.

Tôi 
Vừa sang chợ về

 

Mặt trời đánh vèo qua đê, bóng nước
Chưa kịp khô vết bước
Nắng  xuyên lẹm gót chân,

Còn lại đây dấu vết mùa xuân
Rét dai, mạ già, cấy lại
Cũng chưa kịp gặt hái
Tóc đã hoa râm.

 

Vừa ngả lưng, cặp mắt cay nồng
Ngoài hiên đã nghe rì rầm
Ông, bà ngước sương, sao:
Đêm nay nhiều sao
Ngày mai còn nắng.

 

Nhớ những năm 1960, nông thôn miền Bắc là của Anh Chủ nhiệm của Hoàng Trung Thông “Anh dơ tay vẽ giữa đồng xanh/ Vẽ cả ngày mai thành bức tranh/…/Bên này kho thóc , nhà chăn nuôi/…”, của Tố Hữu với “Chiêm mùa cờ đỏ ven đê/ Sớm khuya tiếng trống đi về trong thôn/ Màu áo mới nâu non nắng chói/…”, nhất là “Quê hương ta rộn rã cuộc vui chung/ Người hợp tác nên lúa dầy thêm đó”; Thì ta chỉ thấy tập thể, đâu thấy cá nhân, nhất là chuyện tình. Bây giờ, làng tuy vẫn còn hương ước. Cờ đỏ vẫn thiêng liêng biểu tượng. Nhưng làng giờ cũng là của riêng tư. Đất giờ không tập thể hóa theo kế hoạch cấp trên nữa, mà của nông dân. Cô gái trong thơ Bùi Việt Mỹ là nhân vật trữ tình của thơ. “tiếng hát vắt qua cánh đồng còn vương mãi nhịp chèo”. “Tôi vội lọc hơi thở sâu từ lúc giao mùa/ ngoại thành của xưa nhường chỗ cho phố về gõ cửa/ có sự đổi trao nào làm hạn hẹp bờ sương.”.

Như vậy, Ngoại thành của Bùi Việt Mỹ là của khoảng 15 năm từ 1990 trở đi. Cái Ngoại thành ấy vẫn đẹp, nhưng không đứng yên như một bức tranh tĩnh mặc cổ điển cây đa giếng nước con đò, cũng không của chung tất cả thời “Đời trẻ lại tất cả đều cách mạng” (Bài ca mùa xuân 1961) nữa. Đây là thời điểm của cuộc chuyển giao. Mười năm sau, những gì là cảm hứng cho thơ Bùi Việt Mỹ đã thay đổi chóng mặt, thậm chí biến mất, khi ở nông thôn “tấc đất tấc vàng” hiểu theo nguyên nghĩa. Cho nên, Làng hiện sinh là bức họa được trân trọng lưu niệm.


Làng hiện sinh

Bờ sương và những cây số dài,
                 em theo chiều cây lúa nước
tiếng hát vắt qua cánh đồng còn
                            vương mãi nhịp chèo
của Ô-diên, đoạn sông nhỏ bâng quơ
                                    bờ bãi tự xa xưa
mượn cây cầu nối về miền vó ngựa  
                                          Trưng vương
Rộn rã, rạo rực chung chiêng sắc màu
sau phía cuối làng, ngõ về không dừng lại
áo em phơi từ góc thu sang
vội vã cánh gió lui tàn, ngọn tường vi rũ áo
đặt chiếc xương cá lên mái chùa cổ tích
và em lớn lên qua kỳ ngủ đông.

Bỗng chốc mưa rộng, dài thong thả rắc như không hạn định
làng hiện sinh từ những giọt mưa ấm áp
trong không gian Ô-diên, tiếng sáo nghẹn đục vượt lên
đoản khúc ngàn thu
trong mây mưa chùng rắc những vạt tép lên bụng sông Đáy.
Tôi vội lọc hơi thở sâu từ lúc giao mùa
ngoại thành của xưa nhường chỗ cho phố về gõ cửa
có sự đổi trao nào làm hạn hẹp bờ sương.

Bức tranh này, ta còn thấy ở tứ bình ngoại ô. Cái thể lục bát thân thuộc được Bùi Việt Mỹ dùng làm phông bút vẽ lên cái khung cảnh bản sơ, không biết thời nào, còn trong tâm tưởng.

Ngoại ô

 

1.Bố cục

Nhành xanh chắn một khoảng trời

Vờn mây hút gió thảnh thơi bóng tà

Cung đường thoăn thoắt vào xa

Gót mòn thôn nữ, nếp nhà nguyên sơ.

 

2.Gió

Xạc xào lá hát vườn thơ

Nhẹ đưa vào ánh trăng mờ nao nao

Vừa khô vệt mái mưa rào

Lạnh lùng khuya đã rắc vào thềm xương.

 

3. Mưa

Mây vừa thả sấm đầu đường

Mở cờ ngọn lúa mười phương vỗ về

Tắm mình chim chóc thoả thuê

Phây phây ngực áo non thề phôi phai.

 

4. Nắng

Vàng loang cả vệt rộng dài

Ném vào mất hút một vài cánh chim

Bờ ao mây, cá trốn tìm

Dưới hoa khoe sắc ai nhìn mặc ai.

Bức tranh ấy treo ở trong tâm. Bước vào đời thực, nhà thơ không thoát ngoài thơ, nhưng ông tin tưởng. “Cây cầu mới vút lao tầm xa rộng, /Bỏ lại dòng trôi lận đận thác ghềnh.

Viết ngày giao mùa


 Vẫn là những chiều về cuối phố
Bao vui buồn chen lẫn tháng, năm
Mấy bạn già nhưng không bụi bặm
Vài quyền thơ mời gọi bạn bầu.

Từ bĩ vận chẳng đâu vào đâu
Mà vui đến nhĩ nhàu khóe mắt
Tứ họa thế thời, chênh chao trước mặt
Ngữ nghĩa gụi gần thoắt hóa xa xăm.

 

Ngày vượt cạn mang xuân vắt qua năm
Lời hát cũ nguyên trong mình sức mới
Chỉ mái đầu không còn xanh màu tuổi
Và miệng cười vơi cạn đến nôm na.

 

Bao ghềnh thác của một thời đã qua
Đem gửi nhớ, gửi quên vào cõi sống
Cây cầu mới vút lao tầm xa rộng,
Bỏ lại dòng trôi lận đận thác ghềnh.

12/2015

Dù ngoại thành gần ta lắm, gần đến độ cứ qua cầu là đã bên kia sông Hồng dậy hương lúa chín. Nhưng nhiều khi những cái gần gụi thành thân thuộc lại làm ta cứ lãng quên đi dù lòng ta không cố ý. Giá cứ ồn ào nội đô chói ngời màu sắc hay xa lắc, xa lơ một miền quê vùng châu thổ có khi lại khơi dậy trong ta những cái gì mãnh liệt.

Ở cánh đồng giao mùa

Em mải mê với cọng gió khô cánh đồng tháng Mười

Ngọn khói chảy dài về phía bờ tre thong thả trút lá

Những ô, thửa tự xa xa vẫn điềm nhiên chia cắt không gian

Làm dấu vết Ngoại thành xa phố

 

Như chợt nhớ đã qua mùa thi cuối cùng cởi mở

Những cọng gió vàng bắt đầu lẩn quất

Trời xà xuống, đám hạt vương lấm tấm rắc rây mưa

Em một mình cài bông hồng cuối đông, hơi thở ấm nức chật khuy áo

Gót xuân thánh thót in vào làng xa.

Dĩ nhiên, ba mươi năm đã qua, làng xưa nên phường, huyện xưa thành quận. Thơ hóa ra như địa chí một thời.

Cho nên, một ngày vùng ngoại thành Hà Nội đọng vào ta một vệt sáng qua thơ Bùi Việt Mỹ với những lời ẩn hiện bâng khuâng:

Thấp thoáng nắng nắng la đà vờn khô lối cỏ

Ráng chiều xa tim típ cánh chim trời.

(Chiều ngoại ô)

Ừ nhỉ, cái lối cỏ có gì lạ đâu; cánh chim trời có gì lạ đâu mà tim típ chiều xa, mà vờn nắng la đà, mà như quen như lạ. Vậy nên, khi:

Em khép cửa để Ngoại ô mình thay áo mới

Có gì đâu mà ngày cứ vội

Hạt đã khô giòn còn nỗi nhớ vẫn tươi nguyên. (Chiều ngoại ô)

Thì sự níu kéo ta lại chính là em rồi. ở đây, cái gắn kết giữa hạt thóc, mà nhớ lại là hạt khô giòn tức ta có thể cất vào kho, nhưng cái nỗi nhớ vẫn tươi nguyên ấy ai mà cho vào kho được. Chao, cái ngoại ô hoá ra còn thơ hơn cả người thơ ấy chứ.

Thơ đưa ta ra phía xa thành phố để ta còn ngắm dòng sông, để:

Xin dặn này thêm nữa sông ơi !

Đừng ngước mắt chạnh lòng ta đấy nhé.

 Để một:

Chút se lạnh hàng cây nườm nượp gió

Bánh thời gian mòn vẹt vết ngoại thành

Ngày tháng ba có cái gì chập chững

Cả bầu trời tung hứng rắc ngang cây.

(Phía xa thành phố)

Bùi Việt Mỹ tìm vệt ngoại thành trong thể thơ tự do có vần. Ở thơ ông, ảnh và nhạc cứ đan quyện vào nhau thành đoạn phim có âm thanh

và màu sắc. Có một vài bài gây tác động mạnh về sự phát triển của Thủ đô mà điểm dừng là “Khoảnh khắc Thành phố”. Song, thành công nhất vẫn là mảng rộng của nắng gió vườn ngoại ô. Mảng này được tạo bởi sự quan sát, tư duy của những lần đi đi, lại lại thời gian làm cho sức anh mòn vẹt đi. Và dù vậy thì:

Sớm sớm

Tôi chở em từ ngoại thành vào thành phố/

 Vai áo gầy lấm tấm bờ sương xuân

(Phố sớm)

Và đáng yêu hơn ở một chút vụng về mùa:

Và bụi mưa vây rối mặt trời lên

Nặng màu phù sa, con đường dải lụa

Có một điều rất lạ là khi ra ngoại thành thường ta đi dọc triền đê. Triền đê ấy có cỏ may, hoa dại nhưng không phải là ấn tượng ban đầu bởi từ lâu những điều ấy đã ở trong thơ rồi. Nhưng một lần nữa, ngoại thành thật đẹp:

Nơi ấy lúa và triền đê gặp nhau dưới tiếng sấm đầu mùa

Mưa từng hạt như tép rắc đầy mặt nước

Con đê trườn như con rắn khổng lồ đuổi theo vệt mương

Trời xuống thấp dần không hẹn trước khi nào mưa chấm dứt.

(Mùa trước mùa sau)

Câu thơ trải ra như muốn vượt khuôn khổ của thơ tự do nhưng vẫn chưa sang địa hạt thơ văn xuôi. Có lẽ ở đây dù ngôn từ nghe hơi khúc khắc nhưng nhịp thơ chưa đến nỗi thành một liên khúc vì hình ảnh trong thơ làm ta chấp nhận được. Đứng trước hội làng, Bùi Việt Mỹ thấy:

 Chen chen kim cổ rộn ràng

Ngoại ô mới để hội làng thêm xưa

Còn nguyên điệu đón lời đưa

Câu thơ đổi khúc, hạt mưa chuyển mùa

(Làng mới ngoại ô)

Đối ý rất chặt, cách thể hiện quan hệ giữa kim cổ bằng điệp ngữ chen chen là đắt, gợi nhiều hơn tả.

Tôi muốn dừng một chút ở bài thơ được giải cuộc thi thơ 1999 - 2000 do báo Người Hà Nội tổ chức: Tản mạn ngoại thành.

Ở ngoại thành hầu như nơi nào cũng thả diều, điều mà ở nội thành những bạn cùng trang lứa khó làm được. Chúng ta hãy cùng thử tưởng tượng các giới hạn ước lệ về đường biên ngoại thành. Nơi ấy thật lạ. Cái khoảng không gian rộng lớn lại được buộc vào bờ cỏ bằng dây diều, còn thời gian hạn hẹp lại được thả buông ra với cách lý giải độc đáo:

Lẫn mây trời cánh diều đứng gió

Những sợi dây căng dài níu không gian vào bờ cỏ

Đàn trâu no tròn

Tung tăng trẻ nhỏ

vào bờ cỏ

Thả buông thời gian.

Cũng là nơi:

Mưa cuối cơn chia đoạn đường làm hai nửa

Bên kia,em lỡ bữa

Bên này chờ, tím thẫm hoa mua

Rồi gắn cái ước lệ ấy vào với bóng chiều:

Con đường từ Thành phố đi về đâu không ai biết

Chiều rạn chân chim, cầu Đôi soi mình mải miết

 Những cái bóng giống nhau y hệt

Cầu mong sao cho những em gái của ta, ở xứ cầu Đôi, ở vệt ngoại thành đừng giống nhau y hệt, cũng đừng lỡ bữa; cầu mong sao cho con đường bây giờ đừng chia làm hai nửa, dù có cái gì như lá rơi rơi.

Khoảng giá nắng

Ta vẫn nghe thấy những điều gió hát 

Mà chưa nhận ra người gió bao giờ

 Có thể gió còng như thân tre

 Ngày đốn dưới bão giông, xóc gù gánh lúa 

Có thể gió tròn như vỏ ốc

Ngày cát xoáy trơ gốc rạ ven sông.

 

Thì vẫn hòa chung cái nắng oi nồng 

Nhưng chưa thấy nắng hiện thân củi lửa 

Có thể nắng hình cánh núi cong vênh 

Ngày chiếc bi-đông khát khô vòng trận mạc

Có thể nắng tròn như cái mũ

Ngày sốt cao, con vẫn đội tới trường.

 

Ta đâu nhận ra điều bất bình thường

Cứ lăn lộn, gửi tin vào nắng, gió

 Rồi không gian già nua, rạc rời lối phố

Khoảng mưu sinh hụt hẫng bước chân mình.

 

Rồi cũng có một ngày, cái cũ không thể như trước được nữa. Ngày ấy, cái mới, sau một thời gian dài ngắn ấp ủ, đã tiếp bước ra đời, thường là một hợp lý tồn tại tiến bộ hơn. Nông thôn đô thị hóa, nông nghiệp hiện đại hóa, nông dân công nhân hóa. Tất cả các giá trị cũ đều đổi thay theo hướng thị trường. Bùi Việt Mỹ không còn chậm rãi cùng em gái Ngoại thành chở hoa, chở rau, chở lúa, chở nắng về làng. Ông ngồi trên tốc độ thời đại mà đi trên đường Láng – Sơn Tây để tiếp nhận sự thay đổi. Nhưng ông không bắt đầu bằng những cao ốc rực rỡ ánh đèn, mà từ những bàn tay xây dựng, từ cô gái hái nho về thả leo phố cổ. (nho chứ không phải lúa nhé – ý thơ đã khác thời xa).

Khoảnh khắc thành phố

Không có ngọn gió nào

Xe chạy căng xuôi, ngược Láng - Sơn Tây

Nhấp nhoá mặt đường nắng đổ

Lưa thưa cây

Cạn lòng sông Đáy.

Thành phố mới bắt đầu từ đây

Những thợ cầu đường đã quen xếp găng tay

Lặng thinh quẹt mồ hôi trán,

Vẫn kịp nhặt chùm nho em bày bán.

Để lại sự sống tràn ra lẫn trong bụi bặm,

Có thể họ mệt lắm

Nên đường chưa có tên.

 

Thành phố nhằm hướng núi vượt lên

Đón rừng, đón nước và đón gió

Em đã mang chùm nho về thả leo phố cổ

Tôi ngược xe với hành trang nho nhỏ

Mặc nắng tấp vào trang sử,

Làng văn hoá đượm vàng.

 

Thành phố tám hướng đường, bốn vòng xoay ngang

 

Giống như tay lái tàu đóng đinh

Xoè cánh mặt trời lấp lánh.

Tôi bơi trong thênh thang

Mắt ngút tầm xa

Gọi tất cả lại gần.

Không phải ngẫu nhiên, mà bằng tài năng, thơ Bùi việt Mỹ đã được độc giả đón nhận. Ông cũng được Giải thưởng Cuộc thi thơ báo Người Hà Nội 2000 – 2001; Giải thưởng của Ủy ban Toàn quốc các Hội VHNT Việt Nam. Tôi, và chúng ta, cùng Bùi Việt Mỹ, “bơi trong thênh thang”, không phải là con đường “rộng thênh thang tám thước”, mà là “mắt ngút tầm xa” để “Gọi tất cả lại gần”.

 

Hà Nội, tháng 10/2024.

B.V.K

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm