TIN TỨC

Những vần thơ sáng nghĩa kim bằng

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-09-25 16:21:18
mail facebook google pos stwis
1129 lượt xem

                                                                          *Thương nhớ Trịnh Bửu Hoài   

 Nhà thơ Trinh Bửu Hoài là người bạn văn tốt của tôi đã quen thân nhau từ  năm 1970  khi anh hoạt động văn nghệ ở An Giang. Cách nay hơn 10 năm, sau khi nhà văn quá cố Nguyễn Khai Phong  đã vài lần giục tôi làm đơn xin gia nhập Hội Nhà văn Việt Nam cùng với tán thành của nhà thơ đánh kính Trịnh Bửu Hoài. Dù biết ở Cần Thơ mình là người mồ côi, kém tài lại vụng về trong giao tiếp nên ít có bằng hữu tình thâm, năm 1918, tôi vẫn đánh bạo nghe lời những người bạn tốt xin vô Hội Nhà văn Việt Nam với sự giới thiệu nhiệt tình cùng lúc của các nhà văn : Nguyễn Khai Phong, Trịnh Bửu Hoài, Lê Đình Bích, Lương Minh Hinh, Nguyễn Trọng Tín. Mặc dù biết rằng với mình, con đường về La Mã vẫn còn diệu vợi ! Hôm nay, nhà thơ Trịnh Bửu Hoài đã về với cõi Ly Tao bất diệt, tôi viết bài này để ân tình bày tỏ lòng nhớ ơn anh, một thi sĩ tài hoa nhân cách rất tốt với bạn bè.   

Nhà thơ Trịnh Bửu Hoài                                                                                                                                      

Trong đội ngũ những nhà thơ hàng đầu ở phương Nam, Trịnh Bửu Hoài sở hữu một sắc thơ hồn hậu và dễ thương với bút pháp dung dị mà kinh điển. Trịnh thi sĩ cũng viết báo, truyện ngắn, tiểu thuyết, biên khảo… nhưng sự nghiệp của anh tập trung vào lĩnh vực thi ca gồm nhiều tập thơ, trường ca và tiểu thuyết. Số tác phẩm xuất bản khoảng trên 60 quyển. Hai bài thơ được phổ nhạc: Cánh phượng hồng thuở xưa (NS Anh Bằng), Làm thơ tình em đọc (NS Trúc Hồ).

Nhà thơ đã kinh qua nhiều chức vụ: Phóng viên đài phát thanh, Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Châu Đốc, Chủ tịch Hội Liên Hiệp Văn học Nghệ thuật tỉnh Anh Giang, Phó Ban Công tác Hội Nhà văn Việt Nam tại Đồng bằng sông Cửu Long. Và là Hội viên của: Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Nhà báo Việt Nam, Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam và Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam.

Đất An Giang, miền biên thùy Tây Nam tổ quốc với đồng lúa mênh mông và núi rừng bạt ngàn là vùng đất linh nhân kiệt về lịch sử văn hóa. Bác Tôn Đức Thắng kính yêu, hai nhà văn lớn cùng được giải Hồ Chí Minh là Nguyễn Quang Sáng, Lê Văn Thảo. Nhà thơ Viễn Phương, nhà văn Nguyễn Văn Hầu, các nhạc sĩ Hoàng Việt, Phan Nhân…nghệ sĩ Thẩm Thúy Hằng, ông hoàng dĩa nhựa Tấn Tài, soạn giả Thái Thụy Phong… Trong lĩnh vực thi ca, Trịnh Bửu Hoài là một khuôn mặt thơ quen thuộc trong nước có khối lượng tác phẩm nhiều và đa dạng ở phương Nam.

Trịnh Bửu Hoài (sinh năm 1952) là tên thật, người xã Mỹ Đức, tỉnh An Giang. Say mê văn nghệ và sách vở từ thuở còn ngồi trên ghế trường tiểu học, mới 14 tuổi (năm 1966), Trịnh Bửu Hoài đã cầm bút làm thơ. Khoảng thời gian này, Mỹ đưa quân trực tiếp vào miền Nam, tôi trốn quân dịch, bỏ trường Trung học ở một huyện xa về tỉnh nhà ẩn náu dạy tư và chủ trương tạp chí Văn nghệ Miền Tây cùng một nhóm sinh viên học sinh và trí thức, nhà văn tiến bộ: Nguyễn Bá Thế, Sơn Nam, Kiên Giang, Hoài Nam Tử, Lý Thị Kim Xương, Giáo sư: Nguyễn Bá Thảo, Nguyễn Đức Minh, nhà giáo Nguyễn Văn Xứng,… Tôi vừa đi dạy học, vừa viết báo và mở phòng tranh theo sở thích của mình.

Tây Đô lúc này ở trong  không khí hoạt động văn nghệ, báo chí khá sôi nổi: nhà báo An Khê Nguyễn Bính Thinh làm tờ Miền Tây ở đường Thủ Khoa Huân, gần Sở Bưu Điện – sau đó gần 10 năm, ông Hải cũng làm lại tờ Miền Tây ở đường Minh Mạng (nay là đường Đồng Khởi). Tờ tạp chí có lửa Văn nghệ Miền Tây (1967-1970) của Nguyễn Thanh chủ trương đặt tại Garage 2 Hòa Bình của gia đình anh Dương Văn Hóa cũng là một bạn văn. Trong lúc đó, bạn thơ Lê Trúc Khanh phụ trách Thi Văn đoàn Về Nguồn trên đài Phát thanh Cần Thơ, thường  xuyên có chương trình văn nghệ khá sung túc vào tối thứ năm hằng tuần. Tại căn hộ cặp sát lề đường số 11 đường Pasteur – nay là Võ Thị Sáu – nơi nhà một chị bạn yêu văn nghệ Trương Huỳnh Mai có cà phê Thằng Cuội. Nơi đường Cống Quỳnh, cạnh hồ Xáng Thổi bên bờ sông Cái Khế lộng gió (gần cầu Nhị Kiều đường Hoàng Văn Thụ hiện nay) có Cà phê Sống vốn là điểm gặp gỡ rầm rộ của anh em văn nghệ. Các bạn sinh viên, học sinh và văn nghệ sĩ đất Tây Đô ngồi uống cà phê, nghe nhạc phản chiến, nhạc buồn của Trịnh Công Sơn, Trúc Phương, Thanh Sơn,… và nghe nói về các đề tài nghệ thuật văn chương trình bày bởi những văn nghệ sĩ nổi tiếng vào những chiều thứ bảy.

Trong không gian sinh hoạt văn nghệ rầm rộ ở Đồng bằng Sông Cửu Long lúc bấy giờ, tôi và Trịnh Bửu Hoài đã nghe biết tiếng nhau, cùng quý trọng nhau ở sở thích và đam mê, nhưng ở xa nhau nên chưa hề gặp mặt một lần hoặc cùng ngồi uống cà phê và tán gẫu chuyện văn chương. Mãi cho tới sau ngày hòa bình thực sự lập lại trên quê hương, qua báo chí và tác phẩm xuất bản thêm của anh, và những lần đi thực tế ở Núi Cấm, An Giang, tôi mới có dịp được hiểu nhiều về cuộc đời và thân thế của nhà thơ tài hoa Trịnh Bửu Hoài nơi miền biên thùy Tây Nam của tổ quốc.

Trịnh Bửu Hoài là chân dung hồn hậu của một nhà thơ tài năng và đa dạng, nổi bật ở nhiều bình diện văn hóa. Sự nghiệp văn chương phong phú của anh là những tác phẩm văn học mang chủ đề tư tưởng thâm thúy và lành mạnh mà nhiều bạn thơ, nhà phê bình  như nhà thơ Lê Thiếu Nhơn, nhà văn Mường Mán, nữ nhà văn Trầm Nguyên Ý Anh… đã có dịp nói đến trong các bài tiểu luận về nhà thơ miền biên thùy Tây Nam bộ này.

Trong văn đàn thế giới, ngoài tình yêu là chủ đề quan trọng trong thi ca đông tây xưa nay, tình bằng hữu được coi là mảng đề tài sâu sắc mang tính nhân văn trong thi ca. Người yêu văn chương không bao giờ quên tình bạn cao đẹp trong văn học dân gian hay bác học qua các truyện nổi tiếng thể hiện mối tình thâm rực sáng nghĩa kim bằng như  Bá Nha-Tử Kỳ, Trần Minh-Nhuận Điền, Lưu Bình-Dương Lễ, Xuân Diệu-Huy Cận hay Arthur Rimbaud – Paul Verlaine…

Với một tâm hồn lãng tử phóng khoáng của người nghệ sĩ, Trịnh Bửu Hoài đã xuôi ngược sông hồ đây đó ngay từ thuở mới cầm bút nên anh có nhiều cơ hội phơi trải lòng  mình với bè bạn văn nghệ tri âm ở ba miền đất nước. Ngoài miền đất mẹ Bảy Núi An Giang với thế núi hình sông hùng vĩ hữu tình: Ngước mặt về tây, Thất Sơn sừng sững/ Áo giang hồ cuồn cuộn gió phương đông, nơi đâu “có chùm khế ngọt” và “con đò nhỏ” từng đặt chân đến, nhà thơ cũng coi là quê hương và ai cũng là anh em, bè bạn – tứ hải giai huynh đệ – Huống chi là người bạn đồng hương ngày xưa vốn đã xem nhẹ cuộc đời dâu bể, tình cờ nhà thơ gặp lại nơi bến sông trăngBạn xem công danh là phù vân, suốt đời lênh đênh mái chèo trên sông nước như chiếc bèo nhỏ giữa trường giang mặc cho bao kẻ bon chen xuôi ngược vì vật chất áo cơm: “Áo cơm không là nợ/ Hồn phơi phới ngàn lau/ Ai vào cuộc bề dâu/ Bạn đùa trăng vọc nước (Bạn tôi)”. Ở đây, phải chăng người đọc cảm thấy tư tưởng nhà thơ phảng phất một nhân sinh quan yếm thế của Lão Trang từng thể hiện trong thi ca Việt Nam (Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát…) và Trung Quốc (Lý Bạch, Đào Tiềm…).

Hẳn là không. Vì lẽ đến hôm nay, sau thời khói lửa tóc tang, đất nước đã thanh bình hơn bốn mươi năm, nhân dân đã xây dựng lại quê hương trở nên giàu mạnh. Và mọi người ai cũng được tự do, bình đẳng sống trong sự thụ hưởng vật chất và tinh thần trong đảm bảo an ninh trật tự của một quốc gia hòa bình thịnh vượng. Nhà thơ, người nghệ sĩ, chắc hẳn hơn ai hết đã đến lúc muốn được mở rộng vườn lòng sâu kín của mình để cộng hưởng tất cả niềm vui đích thực từ cuộc đời sung mãn của mình cũng như đất nước giàu đẹp của mình với bè bạn, anh em như câu nói lạc quan của một nhà thơ: Đấy là quán tha hồ muôn khách đến hay là vườn chim nhả hạt mười phương khi mọi người tình cờ được hội ngộ cùng nhau ở bất cứ nơi nào trên non sông hoa gấm hôm nay.

Với tình cảm trong ấy, khi dùng chân nơi xứ Huế với sông Hương thơ mộng và núi Ngự hữu tình,  đã vui mừng trong gặp gỡ anh em bao nhiêu, phút chia tay, Trịnh Bửu Hoài càng cảm thấy lưu luyến ngậm ngùi bấy nhiêu: Chúc bạn về ngủ ngonNhưng ta làm sao ngủ được…/ Huế thơ mà bạn ta nghèo/ Quá đêm còn nằm thao thức/ Nhậm ngùi một mảnh trăng treo. Đến phố cổ Hội An, Quảng Nam trầm mặc u huyền, được quen thêm bạn mới. Khi giã biệt nhà thơ khôn ngăn nỗi bịn rịn, muốn bạn theo luôn mình xuôi về phương Nam: Mênh mông tình người xứ Quảng/ Theo ta… xuôi về phương Nam (Về phố cổ). Một chiều đến Sa-Pa mộng mơ, cheo leo trên đỉnh Hoàng Liên Sơn sương giăng mây phủ, hồn thơ cảm thấy chơi vơi, thăng hoa như trút bỏ hết được mớ bòng bong ưu nhân thế trức ánh mắt hồn nhiên tình tứ của cô gái Mèo: Chiều Sa-Pa sương giăng mịt mùng/ Tôi lạc vào nẻo hư hay thật/ Cô gái Mèo hồn nhiên ánh mắt/ Tôi bỏ ưu tư ở lại bên trời (Chiều Sa Pa).

Cả những ngày đầy nắng ở Tây Nguyên mịt mùng sương mù phố núi càng làm cho nhà thơ nhớ thương dào dạt về người bạn thơ ngày xưa thân phận long đong trôi dạt mà không buồn độc ẩm: Ta về Pleiku thương người bạn cũ/ Ta ngó núi không buồn rót rượu/ Nằm nghe rừng núi hát thơ người… Tình bạn ở Trịnh Bửu Hoài là nghĩa tình sâu nặng, đằm thắm cháy lên nồng nàn từ trái tim một nhà thơ rực sáng nghĩa kim bằng: Ta về Pleiku một ngày đầy nắng/ Thêm chút mùa đông trên má hồng/ Nhớ anh ta một đời lận đận/ Trôi dạt đồng bằng sông nước mênh mông/ Lang thang Tây nguyên bồng bềnh mây trắng/…Ta về Pleiku thương người bạn cũ/ Gió hạ Lào thông thốc thổi mây trôi… (Về Pleiku nhớ bạn).

Tự muôn đời, ta thấy thơ, rượu cả nhạc thường gắn liền với nghệ sĩ thi nhân, bè bạn như một định mệnh. Rimaud-Verlaine với mối tình trai trong văn học Pháp rồi Lý Bạch, Tản Đà, Vũ Hoàng Chương, Văn Cao, Trịnh Công Sơn… cùng bằng hữu tri âm đã để lại hậu thế những vần thơ tuyệt bút ngan ngát men nồng. Vì lẽ, vắng bạn thì nhà thơ lấy ai để cùng đối ẩm và tâm sự hàn huyên: Ra đi hồn chở đầy cố xứ/ Đêm dài ai uống rượu tri âm (Tiễn bạn). Những vần thơ tiễn bạn của Trịnh Bửu Hoài mang âm hưởng ngậm ngùi khiến tôi nhớ đến bài thơ “Lâm giang tống Hạ Chiêm” (Bên sông tiễn Hạ Chiêm) của thi sĩ thời Trung Đường Bạch Cư Dị (772 – 846): Bi quân lão biệt, lệ triêm cân/ Thất thập vô gia vạn lý thân/ Sầu kiến chu hành phong hựu khởi/ Bạch đầu lãng lý bạch đầu nhân ( Muôn dặm thương anh, lệ biệt sầu/ Bảy mươi tuổi tác cửa nhà đâu/ Buồn trông trận gió theo thuyền nổi/ Sóng bạc đầu quanh khách bạc đầu – Tản Đà dịch thơ). Giọng thơ tiễn bạn của Trịnh Bửu Hoài – tâp thơ Ký ức – và tác giả Tỳ Bà hành đều lâm ly buồn não, hoàn toàn khác biệt với phong cách nhà thơ Thâm Tâm (1917-1950) trong bài “Tống biệt hành” với giọng hào sảng của kẻ nam nhi có chí khí và lý tưởng trong thời chiến. Nhưng tôi thiển nghĩ hình ảnh người bạn hiện diện trong thơ Trịnh Bửu Hoài có lẽ cũng gián tiếp nói lên một phần mặc cảm cô đơn trong cuộc sống của nhà thơ mà ít ai biết được! Về bút pháp, nhìn chung, thơ Trịnh Bửu Hoài dựa trên nền tảng thơ mới phá cách: ngũ ngôn, lục ngôn rồi 7 chữ, 8 chữ nhưng giai điệu, cung bậc luôn thay đổi. Ngôn ngữ chọn lọc, giàu hình tượng, câu thơ dài ngắn khác nhau diễn tả thích hợp với biến thiên tình cảm mang mang trong lòng kẻ ở người đi và người đọc.

Hôm nay, chinh chiến đã lùi xa, đạn bom im tiếng, từ cuối miền đất nước, Trịnh Bửu Hoài có cơ hội đi qua miền Trung gió Lào cát trắng để “hành Tây Bắc” – chiếc nôi ấm huyền thoại của cách mạng qua hai cuộc đấu tranh thần thánh và chiến thắng vĩ đại của dân tộc. Đến đâu, nhà thơ cũng cùng nhau thù tạc chuyện trò, trong không khí tình cảm “tứ hải giai huynh đệ” (bốn bể đều là anh em) khiến tác giả càng có thêm những vần thơ ấm nồng  tình bạn…

Dù sở hữu số lượng đồ sộ về thi tập, nhưng ít ai ngờ nhà thơ Trịnh Bửu Hoài đã từng là tác giả của một best-seller (sách bán chạy nhất) bán đắt như tôm tươi. Theo nhà thơ quen thuộc Lê Thiếu Nhơn, cuối những năm của thập niên 1980, Trịnh thi sĩ đã từng viết 20 tiểu thuyết trong đó quyển truyện dài “Tình yêu đâu phải là trò chơi” từng được hơn ba nhà xuất bản săn đón in trên 70 ngàn cuốn. Sự hấp dẫn của  “Tình yêu đâu phải là trò chơi” khiến cho một người đã nhái theo, viết cuốn Tình yêu đâu phải là trò đùa nhưng ký tên Trịnh Vũ Hoài để đánh lừa độc giả. Vỡ lẽ ra rùm beng chuyện đạo văn, cục Xuất bản ra lệnh thu hồi cuốn truyện nhái Tình yêu đâu phải là trò đùa của Trịnh Vũ Hoài!

Tình bạn thơ Trịnh Bửu Hoài nói đến đích thực là tình bằng hữu mang ý nghĩa tình bầu bạn thủy chung cao đẹp trong đời người, không tương đồng với tình cảm giữa những bạn đời, bạn tình, bạn đường, bạn đồng chí (comrade)… Và hôm nay – nhà thơ Trịnh Bửu Hoài- người nhiều sách ở miền Tây – đã nghỉ ngơi, nhưng vẫn hồn nhiên mỗi ngày theo đuổi chữ nghĩa với đau đáu nhân sinh “không còn ai bên máy chữ gọi thơ về”.

                                                                              Cuối thu  2024           

                                                                     Nguyễn Tấn Thành                         

Bài viết liên quan

Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm