TIN TỨC

Những vần thơ sáng nghĩa kim bằng

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-09-25 16:21:18
mail facebook google pos stwis
980 lượt xem

                                                                          *Thương nhớ Trịnh Bửu Hoài   

 Nhà thơ Trinh Bửu Hoài là người bạn văn tốt của tôi đã quen thân nhau từ  năm 1970  khi anh hoạt động văn nghệ ở An Giang. Cách nay hơn 10 năm, sau khi nhà văn quá cố Nguyễn Khai Phong  đã vài lần giục tôi làm đơn xin gia nhập Hội Nhà văn Việt Nam cùng với tán thành của nhà thơ đánh kính Trịnh Bửu Hoài. Dù biết ở Cần Thơ mình là người mồ côi, kém tài lại vụng về trong giao tiếp nên ít có bằng hữu tình thâm, năm 1918, tôi vẫn đánh bạo nghe lời những người bạn tốt xin vô Hội Nhà văn Việt Nam với sự giới thiệu nhiệt tình cùng lúc của các nhà văn : Nguyễn Khai Phong, Trịnh Bửu Hoài, Lê Đình Bích, Lương Minh Hinh, Nguyễn Trọng Tín. Mặc dù biết rằng với mình, con đường về La Mã vẫn còn diệu vợi ! Hôm nay, nhà thơ Trịnh Bửu Hoài đã về với cõi Ly Tao bất diệt, tôi viết bài này để ân tình bày tỏ lòng nhớ ơn anh, một thi sĩ tài hoa nhân cách rất tốt với bạn bè.   

Nhà thơ Trịnh Bửu Hoài                                                                                                                                      

Trong đội ngũ những nhà thơ hàng đầu ở phương Nam, Trịnh Bửu Hoài sở hữu một sắc thơ hồn hậu và dễ thương với bút pháp dung dị mà kinh điển. Trịnh thi sĩ cũng viết báo, truyện ngắn, tiểu thuyết, biên khảo… nhưng sự nghiệp của anh tập trung vào lĩnh vực thi ca gồm nhiều tập thơ, trường ca và tiểu thuyết. Số tác phẩm xuất bản khoảng trên 60 quyển. Hai bài thơ được phổ nhạc: Cánh phượng hồng thuở xưa (NS Anh Bằng), Làm thơ tình em đọc (NS Trúc Hồ).

Nhà thơ đã kinh qua nhiều chức vụ: Phóng viên đài phát thanh, Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Châu Đốc, Chủ tịch Hội Liên Hiệp Văn học Nghệ thuật tỉnh Anh Giang, Phó Ban Công tác Hội Nhà văn Việt Nam tại Đồng bằng sông Cửu Long. Và là Hội viên của: Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Nhà báo Việt Nam, Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam và Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam.

Đất An Giang, miền biên thùy Tây Nam tổ quốc với đồng lúa mênh mông và núi rừng bạt ngàn là vùng đất linh nhân kiệt về lịch sử văn hóa. Bác Tôn Đức Thắng kính yêu, hai nhà văn lớn cùng được giải Hồ Chí Minh là Nguyễn Quang Sáng, Lê Văn Thảo. Nhà thơ Viễn Phương, nhà văn Nguyễn Văn Hầu, các nhạc sĩ Hoàng Việt, Phan Nhân…nghệ sĩ Thẩm Thúy Hằng, ông hoàng dĩa nhựa Tấn Tài, soạn giả Thái Thụy Phong… Trong lĩnh vực thi ca, Trịnh Bửu Hoài là một khuôn mặt thơ quen thuộc trong nước có khối lượng tác phẩm nhiều và đa dạng ở phương Nam.

Trịnh Bửu Hoài (sinh năm 1952) là tên thật, người xã Mỹ Đức, tỉnh An Giang. Say mê văn nghệ và sách vở từ thuở còn ngồi trên ghế trường tiểu học, mới 14 tuổi (năm 1966), Trịnh Bửu Hoài đã cầm bút làm thơ. Khoảng thời gian này, Mỹ đưa quân trực tiếp vào miền Nam, tôi trốn quân dịch, bỏ trường Trung học ở một huyện xa về tỉnh nhà ẩn náu dạy tư và chủ trương tạp chí Văn nghệ Miền Tây cùng một nhóm sinh viên học sinh và trí thức, nhà văn tiến bộ: Nguyễn Bá Thế, Sơn Nam, Kiên Giang, Hoài Nam Tử, Lý Thị Kim Xương, Giáo sư: Nguyễn Bá Thảo, Nguyễn Đức Minh, nhà giáo Nguyễn Văn Xứng,… Tôi vừa đi dạy học, vừa viết báo và mở phòng tranh theo sở thích của mình.

Tây Đô lúc này ở trong  không khí hoạt động văn nghệ, báo chí khá sôi nổi: nhà báo An Khê Nguyễn Bính Thinh làm tờ Miền Tây ở đường Thủ Khoa Huân, gần Sở Bưu Điện – sau đó gần 10 năm, ông Hải cũng làm lại tờ Miền Tây ở đường Minh Mạng (nay là đường Đồng Khởi). Tờ tạp chí có lửa Văn nghệ Miền Tây (1967-1970) của Nguyễn Thanh chủ trương đặt tại Garage 2 Hòa Bình của gia đình anh Dương Văn Hóa cũng là một bạn văn. Trong lúc đó, bạn thơ Lê Trúc Khanh phụ trách Thi Văn đoàn Về Nguồn trên đài Phát thanh Cần Thơ, thường  xuyên có chương trình văn nghệ khá sung túc vào tối thứ năm hằng tuần. Tại căn hộ cặp sát lề đường số 11 đường Pasteur – nay là Võ Thị Sáu – nơi nhà một chị bạn yêu văn nghệ Trương Huỳnh Mai có cà phê Thằng Cuội. Nơi đường Cống Quỳnh, cạnh hồ Xáng Thổi bên bờ sông Cái Khế lộng gió (gần cầu Nhị Kiều đường Hoàng Văn Thụ hiện nay) có Cà phê Sống vốn là điểm gặp gỡ rầm rộ của anh em văn nghệ. Các bạn sinh viên, học sinh và văn nghệ sĩ đất Tây Đô ngồi uống cà phê, nghe nhạc phản chiến, nhạc buồn của Trịnh Công Sơn, Trúc Phương, Thanh Sơn,… và nghe nói về các đề tài nghệ thuật văn chương trình bày bởi những văn nghệ sĩ nổi tiếng vào những chiều thứ bảy.

Trong không gian sinh hoạt văn nghệ rầm rộ ở Đồng bằng Sông Cửu Long lúc bấy giờ, tôi và Trịnh Bửu Hoài đã nghe biết tiếng nhau, cùng quý trọng nhau ở sở thích và đam mê, nhưng ở xa nhau nên chưa hề gặp mặt một lần hoặc cùng ngồi uống cà phê và tán gẫu chuyện văn chương. Mãi cho tới sau ngày hòa bình thực sự lập lại trên quê hương, qua báo chí và tác phẩm xuất bản thêm của anh, và những lần đi thực tế ở Núi Cấm, An Giang, tôi mới có dịp được hiểu nhiều về cuộc đời và thân thế của nhà thơ tài hoa Trịnh Bửu Hoài nơi miền biên thùy Tây Nam của tổ quốc.

Trịnh Bửu Hoài là chân dung hồn hậu của một nhà thơ tài năng và đa dạng, nổi bật ở nhiều bình diện văn hóa. Sự nghiệp văn chương phong phú của anh là những tác phẩm văn học mang chủ đề tư tưởng thâm thúy và lành mạnh mà nhiều bạn thơ, nhà phê bình  như nhà thơ Lê Thiếu Nhơn, nhà văn Mường Mán, nữ nhà văn Trầm Nguyên Ý Anh… đã có dịp nói đến trong các bài tiểu luận về nhà thơ miền biên thùy Tây Nam bộ này.

Trong văn đàn thế giới, ngoài tình yêu là chủ đề quan trọng trong thi ca đông tây xưa nay, tình bằng hữu được coi là mảng đề tài sâu sắc mang tính nhân văn trong thi ca. Người yêu văn chương không bao giờ quên tình bạn cao đẹp trong văn học dân gian hay bác học qua các truyện nổi tiếng thể hiện mối tình thâm rực sáng nghĩa kim bằng như  Bá Nha-Tử Kỳ, Trần Minh-Nhuận Điền, Lưu Bình-Dương Lễ, Xuân Diệu-Huy Cận hay Arthur Rimbaud – Paul Verlaine…

Với một tâm hồn lãng tử phóng khoáng của người nghệ sĩ, Trịnh Bửu Hoài đã xuôi ngược sông hồ đây đó ngay từ thuở mới cầm bút nên anh có nhiều cơ hội phơi trải lòng  mình với bè bạn văn nghệ tri âm ở ba miền đất nước. Ngoài miền đất mẹ Bảy Núi An Giang với thế núi hình sông hùng vĩ hữu tình: Ngước mặt về tây, Thất Sơn sừng sững/ Áo giang hồ cuồn cuộn gió phương đông, nơi đâu “có chùm khế ngọt” và “con đò nhỏ” từng đặt chân đến, nhà thơ cũng coi là quê hương và ai cũng là anh em, bè bạn – tứ hải giai huynh đệ – Huống chi là người bạn đồng hương ngày xưa vốn đã xem nhẹ cuộc đời dâu bể, tình cờ nhà thơ gặp lại nơi bến sông trăngBạn xem công danh là phù vân, suốt đời lênh đênh mái chèo trên sông nước như chiếc bèo nhỏ giữa trường giang mặc cho bao kẻ bon chen xuôi ngược vì vật chất áo cơm: “Áo cơm không là nợ/ Hồn phơi phới ngàn lau/ Ai vào cuộc bề dâu/ Bạn đùa trăng vọc nước (Bạn tôi)”. Ở đây, phải chăng người đọc cảm thấy tư tưởng nhà thơ phảng phất một nhân sinh quan yếm thế của Lão Trang từng thể hiện trong thi ca Việt Nam (Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát…) và Trung Quốc (Lý Bạch, Đào Tiềm…).

Hẳn là không. Vì lẽ đến hôm nay, sau thời khói lửa tóc tang, đất nước đã thanh bình hơn bốn mươi năm, nhân dân đã xây dựng lại quê hương trở nên giàu mạnh. Và mọi người ai cũng được tự do, bình đẳng sống trong sự thụ hưởng vật chất và tinh thần trong đảm bảo an ninh trật tự của một quốc gia hòa bình thịnh vượng. Nhà thơ, người nghệ sĩ, chắc hẳn hơn ai hết đã đến lúc muốn được mở rộng vườn lòng sâu kín của mình để cộng hưởng tất cả niềm vui đích thực từ cuộc đời sung mãn của mình cũng như đất nước giàu đẹp của mình với bè bạn, anh em như câu nói lạc quan của một nhà thơ: Đấy là quán tha hồ muôn khách đến hay là vườn chim nhả hạt mười phương khi mọi người tình cờ được hội ngộ cùng nhau ở bất cứ nơi nào trên non sông hoa gấm hôm nay.

Với tình cảm trong ấy, khi dùng chân nơi xứ Huế với sông Hương thơ mộng và núi Ngự hữu tình,  đã vui mừng trong gặp gỡ anh em bao nhiêu, phút chia tay, Trịnh Bửu Hoài càng cảm thấy lưu luyến ngậm ngùi bấy nhiêu: Chúc bạn về ngủ ngonNhưng ta làm sao ngủ được…/ Huế thơ mà bạn ta nghèo/ Quá đêm còn nằm thao thức/ Nhậm ngùi một mảnh trăng treo. Đến phố cổ Hội An, Quảng Nam trầm mặc u huyền, được quen thêm bạn mới. Khi giã biệt nhà thơ khôn ngăn nỗi bịn rịn, muốn bạn theo luôn mình xuôi về phương Nam: Mênh mông tình người xứ Quảng/ Theo ta… xuôi về phương Nam (Về phố cổ). Một chiều đến Sa-Pa mộng mơ, cheo leo trên đỉnh Hoàng Liên Sơn sương giăng mây phủ, hồn thơ cảm thấy chơi vơi, thăng hoa như trút bỏ hết được mớ bòng bong ưu nhân thế trức ánh mắt hồn nhiên tình tứ của cô gái Mèo: Chiều Sa-Pa sương giăng mịt mùng/ Tôi lạc vào nẻo hư hay thật/ Cô gái Mèo hồn nhiên ánh mắt/ Tôi bỏ ưu tư ở lại bên trời (Chiều Sa Pa).

Cả những ngày đầy nắng ở Tây Nguyên mịt mùng sương mù phố núi càng làm cho nhà thơ nhớ thương dào dạt về người bạn thơ ngày xưa thân phận long đong trôi dạt mà không buồn độc ẩm: Ta về Pleiku thương người bạn cũ/ Ta ngó núi không buồn rót rượu/ Nằm nghe rừng núi hát thơ người… Tình bạn ở Trịnh Bửu Hoài là nghĩa tình sâu nặng, đằm thắm cháy lên nồng nàn từ trái tim một nhà thơ rực sáng nghĩa kim bằng: Ta về Pleiku một ngày đầy nắng/ Thêm chút mùa đông trên má hồng/ Nhớ anh ta một đời lận đận/ Trôi dạt đồng bằng sông nước mênh mông/ Lang thang Tây nguyên bồng bềnh mây trắng/…Ta về Pleiku thương người bạn cũ/ Gió hạ Lào thông thốc thổi mây trôi… (Về Pleiku nhớ bạn).

Tự muôn đời, ta thấy thơ, rượu cả nhạc thường gắn liền với nghệ sĩ thi nhân, bè bạn như một định mệnh. Rimaud-Verlaine với mối tình trai trong văn học Pháp rồi Lý Bạch, Tản Đà, Vũ Hoàng Chương, Văn Cao, Trịnh Công Sơn… cùng bằng hữu tri âm đã để lại hậu thế những vần thơ tuyệt bút ngan ngát men nồng. Vì lẽ, vắng bạn thì nhà thơ lấy ai để cùng đối ẩm và tâm sự hàn huyên: Ra đi hồn chở đầy cố xứ/ Đêm dài ai uống rượu tri âm (Tiễn bạn). Những vần thơ tiễn bạn của Trịnh Bửu Hoài mang âm hưởng ngậm ngùi khiến tôi nhớ đến bài thơ “Lâm giang tống Hạ Chiêm” (Bên sông tiễn Hạ Chiêm) của thi sĩ thời Trung Đường Bạch Cư Dị (772 – 846): Bi quân lão biệt, lệ triêm cân/ Thất thập vô gia vạn lý thân/ Sầu kiến chu hành phong hựu khởi/ Bạch đầu lãng lý bạch đầu nhân ( Muôn dặm thương anh, lệ biệt sầu/ Bảy mươi tuổi tác cửa nhà đâu/ Buồn trông trận gió theo thuyền nổi/ Sóng bạc đầu quanh khách bạc đầu – Tản Đà dịch thơ). Giọng thơ tiễn bạn của Trịnh Bửu Hoài – tâp thơ Ký ức – và tác giả Tỳ Bà hành đều lâm ly buồn não, hoàn toàn khác biệt với phong cách nhà thơ Thâm Tâm (1917-1950) trong bài “Tống biệt hành” với giọng hào sảng của kẻ nam nhi có chí khí và lý tưởng trong thời chiến. Nhưng tôi thiển nghĩ hình ảnh người bạn hiện diện trong thơ Trịnh Bửu Hoài có lẽ cũng gián tiếp nói lên một phần mặc cảm cô đơn trong cuộc sống của nhà thơ mà ít ai biết được! Về bút pháp, nhìn chung, thơ Trịnh Bửu Hoài dựa trên nền tảng thơ mới phá cách: ngũ ngôn, lục ngôn rồi 7 chữ, 8 chữ nhưng giai điệu, cung bậc luôn thay đổi. Ngôn ngữ chọn lọc, giàu hình tượng, câu thơ dài ngắn khác nhau diễn tả thích hợp với biến thiên tình cảm mang mang trong lòng kẻ ở người đi và người đọc.

Hôm nay, chinh chiến đã lùi xa, đạn bom im tiếng, từ cuối miền đất nước, Trịnh Bửu Hoài có cơ hội đi qua miền Trung gió Lào cát trắng để “hành Tây Bắc” – chiếc nôi ấm huyền thoại của cách mạng qua hai cuộc đấu tranh thần thánh và chiến thắng vĩ đại của dân tộc. Đến đâu, nhà thơ cũng cùng nhau thù tạc chuyện trò, trong không khí tình cảm “tứ hải giai huynh đệ” (bốn bể đều là anh em) khiến tác giả càng có thêm những vần thơ ấm nồng  tình bạn…

Dù sở hữu số lượng đồ sộ về thi tập, nhưng ít ai ngờ nhà thơ Trịnh Bửu Hoài đã từng là tác giả của một best-seller (sách bán chạy nhất) bán đắt như tôm tươi. Theo nhà thơ quen thuộc Lê Thiếu Nhơn, cuối những năm của thập niên 1980, Trịnh thi sĩ đã từng viết 20 tiểu thuyết trong đó quyển truyện dài “Tình yêu đâu phải là trò chơi” từng được hơn ba nhà xuất bản săn đón in trên 70 ngàn cuốn. Sự hấp dẫn của  “Tình yêu đâu phải là trò chơi” khiến cho một người đã nhái theo, viết cuốn Tình yêu đâu phải là trò đùa nhưng ký tên Trịnh Vũ Hoài để đánh lừa độc giả. Vỡ lẽ ra rùm beng chuyện đạo văn, cục Xuất bản ra lệnh thu hồi cuốn truyện nhái Tình yêu đâu phải là trò đùa của Trịnh Vũ Hoài!

Tình bạn thơ Trịnh Bửu Hoài nói đến đích thực là tình bằng hữu mang ý nghĩa tình bầu bạn thủy chung cao đẹp trong đời người, không tương đồng với tình cảm giữa những bạn đời, bạn tình, bạn đường, bạn đồng chí (comrade)… Và hôm nay – nhà thơ Trịnh Bửu Hoài- người nhiều sách ở miền Tây – đã nghỉ ngơi, nhưng vẫn hồn nhiên mỗi ngày theo đuổi chữ nghĩa với đau đáu nhân sinh “không còn ai bên máy chữ gọi thơ về”.

                                                                              Cuối thu  2024           

                                                                     Nguyễn Tấn Thành                         

Bài viết liên quan

Xem thêm
Đọc truyện ngắn “Rừng Mắm” của Bình Nguyên Lộc, nhớ thuở cha ông đi mở cõi
Bình Nguyên Lộc (1914 - 1987) là người con của Tân Uyên, vùng đất giàu truyền thống cách mạng của tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ông là nhà văn lớn, nhà văn hóa Nam Bộ trong giai đoạn 1945 - 1975. Ông viết hàng trăm cuốn sách, có 30 cuốn đã được xuất bản. Trong gia tài văn chương đồ sộ của ông, truyện ngắn Rừng Mắm là một trong những tác phẩm đặc sắc.
Xem thêm
“Lời đồng vọng” với những áng văn hay
Lời đồng vọng 2 là tập sách mới nhất của nhà phê bình Lê Xuân trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của anh. Có thể nói Lê Xuân là một cây bút đa năng, nhưng thế mạnh của anh vẫn là lĩnh vực phê bình.
Xem thêm
“Bàn tay nhỏ dưới mưa” và “Trò chuyện với thiên thần”
Rất may mắn và được tin cậy khi Trương Văn Dân giao quyển sách đầu tiên cho tôi đề tựa, đó là quyển “Bàn tay nhỏ dưới mưa”. Khi tôi đọc tôi có cảm giác hạnh phúc vì nhận được một điều xứng đáng. Một quyển đáng để cho mình đề tựa.
Xem thêm
Chiến tranh và chiến tranh - Tiếng kêu thương thảm khốc!
László Krasznahorkai sinh năm 1954 tại Gyula, Hungary, học Luật, có bằng Ngôn ngữ Hung và Sư phạm. Nhà văn tự do từ năm 1982. Tiểu thuyết: Sátántangó (Sasantango, 1985), Az ellenállás melankóliája (The Melancholy ơf Resistance, 1989), Az urgai fology (The Prisoner ơf Urga, 1993), Háború és háború (War and War), 1999), Északról hegy, Délróltó, Nyugatról utak, Keletról folyó (From the North by Hill, From the South by Lek, From the West by Roads, From the East by River, 2003), Rombolás és bánat az Égalatt (Destruction and Sorrow beneath the Heavens, 2004), Seiobo járt odalent (Seiobo There Below, 2008), Báró Wenkheim hazatér (The Homecoming ơf Baron Wenkheim, 2016)…
Xem thêm
Cảm nhận về tác phẩm “Bàn tay nhỏ dưới mưa” của tác giả Trương Văn Dân
Nhận được Bàn tay nhỏ dưới mưa tác giả gởi tặng cũng hơn nửa tháng rồi, tính nhâm nhi đọc nhưng cứ lần lữa mãi. Nay có thời gian thảnh thơi tôi mới có dịp thưởng thức tác phẩm của anh.
Xem thêm
Thời thế “vẽ” nên “chân tài” Tú Xương
Tìm hiểu các tác giả văn học Việt Nam, nhiều khi chúng tôi có suy nghĩ thế này: Nếu không có những hoàn cảnh ngặt nghèo đẩy đưa số phận, sẽ không có những nhân cách lớn, tác gia lớn cho dân tộc. Cho nên nhiều khi sự bất hạnh của bản thân họ lại là sự may mắn cho di sản văn hóa nước nhà. Cụ thể, như trường hợp Đại thi hào Nguyễn Du, nhờ những năm tháng “lênh đênh” mới có kiệt tác Truyện Kiều. Hay như cụ Đồ Chiểu, cũng vì liên tiếp gặp bất hạnh mà chúng ta mới may mắn có được người thầy toàn diện: Nho, y, bốc, lý, đạo, đời…/ Mấy mươi pho sách đều nơi bụng thầy.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Kim Dung hoài niệm về những miền ký ức
Bài viết của nhà thơ Ngô Minh Oanh về tập thơ Những dấu chân thơ vẫn ruổi rong
Xem thêm
“Hòa nhập không hòa tan” về văn hóa để vững bước trong kỉ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam
Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, hòa nhập không hòa tan là yêu cầu khách quan, vừa cấp thiết, vừa cơ bản, lâu dài trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay. Để bước vào kỉ nguyên mới - kỉ nguyên vươn mình của dân tộc,
Xem thêm
Văn trẻ từ quan sát của một biên tập viên
Trong khoảng 15 năm gần đây, do có cơ hội làm việc với nhiều tác giả trẻ, tiếp cận được nhiều bản thảo còn đang phôi thai, tôi có những trải nghiệm tương đối phong phú với văn chương đương thời.
Xem thêm
Hồi ký Những điều còn lại: “Thắng phía trước, được phía sau”
Nhân đọc hồi ký Những điều còn lại của Trung tướng Phùng Khắc Đăng
Xem thêm
Nguyễn Trí Huân với vẻ đẹp tinh chất của Bất chợt mai vàng
Hôm gặp Nguyễn Trí Huân tại Lễ trao giải thưởng văn học nghệ thuật báo chí 5 năm (2020 - 2025) của Bộ Quốc phòng, tôi mừng lắm. Trước nhất là thấy anh không còn phải đội mũ để che một mái đầu trọc sau một thời gian phải dùng thuốc xạ trị căn bệnh hiểm nghèo. Hai là được biết cuốn Bất chợt mai vàng của anh là một trong ba tác phẩm được trao giải A lần này. Hôm ấy tôi đã nói với anh: “Thế là Huân có thể làm thủ tục để xét Giải thưởng Hồ Chí Minh được rồi đấy.” Anh Huân nắm tay tôi hồi lâu và cười rất tươi.
Xem thêm
Những câu thơ biết thức
Anh bạn cùng học ngành luật hẹn gặp, vui vẻ khoe vừa mới nghỉ hưu và đưa tôi tập thơ anh cũng kịp cho xuất bản. Nhìn qua đã thấy đẹp và trang nhã như cái tít của nó: Thái Hưng - ĐI QUA MÙA THU - Nxb Hội Nhà văn 2024. Tôi có cảm giác nhẹ nhàng, đây là tập thơ tình chăng?
Xem thêm
Chính Nguyễn Văn Mạnh đã tự làm sáng con đường dấn thân phụng sự văn nghiệp của mình
Bài viết của nhà thơ Phạm Trung Tín về tiểu thuyết Đường sáng
Xem thêm
Văn học mùa Giáng sinh
Khi Charles Dickens bắt đầu viết cuốn sách khiến tên tuổi của ông trở nên bất tử là lúc ông đang rơi vào khoảnh khắc bất hạnh và khó khăn nhất của cuộc đời mình. Ông mệt mỏi, lo lắng. Ông phải nuôi sống một gia đình lớn mà nợ nần ngày càng tăng và nỗi sợ về việc không thể tái tạo những thành công trong quá khứ. Những tiểu thuyết cuối cùng của ông đã không bán chạy như ông hy vọng. Độc giả dường như đang rời đi, bỏ rơi ông. Mà thời gian còn lại không nhiều.
Xem thêm
Cẩm nang nhỏ có giá trị để đi vào thế giới của sách
Khác với phần lớn các sách trước đó về phương pháp đọc sách hiệu quả còn nặng về hàn lâm, cuốn “ Đọc sách, điểm sách” của Nguyễn Ngọc Sơn là đóng góp kịp thời cho dòng sách này, dẫn dắt độc giả với những bước đi đầu tiên, từ đơn giản đến phức tạp.
Xem thêm
Phê bình như là tự truyện – Tiểu luận của Hoàng Đăng Khoa
Tín niệm phê bình văn học cũng là một dạng tự truyện rất gần với tinh thần của các phương pháp phê bình hiện đại như phê bình hiện tượng học, diễn ngôn học văn chương, hay mĩ học tiếp nhận – nơi chủ thể đọc/viết luôn hiện diện trong chính thao tác diễn giải văn bản. Dù vô tình hay hữu ý, mỗi bài phê bình đều là một “tấm gương một chiều” phản chiếu cái tôi nội cảm, cái chủ kiến, thiên kiến của người viết. Qua văn bản phê bình, người ta không chỉ thấy một hiện tượng văn học được phê bình, mà còn thấy cả một con người – đang thực hành sống, đọc, suy tư, tìm gặp tha nhân và bản thể.
Xem thêm
Đọc thơ của một luật sư
Tôi đã được đọc tập thơ đầu tay của Thái Hưng với cái tên rất thơ: ĐI QUA MÙA THU - Nxb Hội Nhà văn 2024; Rồi một số bài in chung trong tập: Bằng lăng tím lối Mễ Trì cùng với nhiều tác giả khác, lại đôi khi thấy thơ anh trên báo, chí, đậm nhất là tờ Thời báo Văn học nghệ thuật giới thiệu chân dung tác giả. Đọc qua, chợt có cảm nhận nhẹ nhàng, song ngẫm ngợi, thấy chất nhân tình thấm đẫm, cuốn hút. Chắc chắn phải là giọng của người đã từng đi qua nhiều mùa thu xao xác lá...
Xem thêm