TIN TỨC

Cái tôi trữ tình sâu lắng trong Hương thời gian của Nguyễn Đình Hiền

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-05-18 16:08:10
mail facebook google pos stwis
2839 lượt xem

NGUYỄN VĂN HÒA

(Đọc tập thơ Hương thời gian của Nguyễn Đình Hiền, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2025)


"Hương thời gian" là tập thơ của Nhà giáo Ưu tú, PGS. TS. Nguyễn Đình Hiền, bút danh là VÂN HÒA. VÂN HÒA cũng chính là tên làng quê yêu dấu của tác giả.

Tập thơ gồm 63 bài với rất nhiều cung bậc cảm xúc, tình cảm của một người giàu trắc ẩn với đời, với người. Trong 63 bài của thi tập này, có những bài được Nguyễn Đình Hiền viết từ những năm 80, 90 của thế kỷ trước và có những bài viết trong thời gian gần đây. Anh lưu giữ lại những khoảnh khắc thời gian gắn với biết bao tâm trạng, nỗi niềm riêng. Những âm vang từ cuộc đời khúc xạ qua lăng kính trải nghiệm của nhà thơ Nguyễn Đình Hiền. Hương thời gian phải chăng đó chính là nhật ký hành trình, dung chứa các tầng hiện thực, cảm xúc khác nhau, mở ra những tri nhận mới về đời sống đa chiều kích của con người thời hiện đại.    

Cái tôi trữ tình trong thơ VÂN HÒA bàng bạc, man mác, nhẹ nhàng nhưng lại vô cùng sâu lắng giàu tính triết lý nhân sinh. Cái tôi trữ tình ấy là nguồn mạch nâng đỡ đời sống tinh thần để hướng về những điều nhân bản nhất, gieo mầm cho những khát khao hy vọng, ứa tràn nhựa sống cho tình yêu thi ca và cuộc đời.

Vòng tay siết chặt thời gian/ Mùi hương như níu gió ngàn đại dương/ Sóng cao, biển động, mây nguồn/ Thời gian níu lấy con đường gió bay.../ Bàn tay níu lấy bàn tay/ Tình yêu nắm lấy cơn say đất trời/ Mắt đen hun hút phía người/ Phía ta níu lấy nỗi đời riêng mang/ Núi đồi ngập giữa trăng non/ Chuông chùa thả nhịp siết tròn vòng tay/ Đất trời lay chuyển ngất ngây/ Lòng ta níu lấy tháng ngày thơm hương... (Hương thời gian).

Thơ VÂN HÒA giản dị, sâu lắng mà chân thành. Cái chân thành, sâu lắng cao quý của một nhà giáo, của một người làm khoa học và của một người làm công tác quản lý. Đọc thơ anh, người đọc sẽ hình dung ra con người đời thường và con người thơ; cả hai có sự hòa quyện vào nhau, tuy hai mà một tuy một mà hai. Con người đời thường mực thước, mô phạm - cái mô phạm của một nhà giáo; sự nghiêm cẩn của một nhà quản lý; sự chỉn chu, chính xác của người nghiên cứu khoa học; cái giản dị, sâu lắng, chân thành của một người làm thơ, yêu thơ say đắm.

Thơ Nguyễn Đình Hiền chan chứa tình cảm của một con người tinh tế có chiều sâu và giàu cảm xúc. Với anh, những gì xảy ra quanh mình cũng đều để lại dấu ấn và được anh chiêm nghiệm sâu sắc rồi ghi lại cảm xúc đó bằng thơ. Bạn lòng ơi, một trời kỷ niệm/ Một khối tình đi suốt thời gian/ Có nắng mặt trời, có hương của đất/ Mây lang thang, gió bật cung đàn// Ta say khướt men tình nồng chuếnh choáng/ Giấc mơ hoa neo giữa cánh đồng vàng/ Dòng sông chảy đưa em về bến đỗ/ Ta phong trần, vượt thác đến tìm em// Bạn lòng ơi em có thành tri kỷ/ Thành đại dương ôm ấp phiến đá buồn/ Xin trở lại câu thơ ngày chạm mặt/ Đôi mắt tròn cho trái đất thành duyên (Tâm sự).

Thơ VÂN HÒA thường nghiêng về cảm xúc, vì thế anh ít dụng công trong việc sử dụng chữ nghĩa, thi ảnh cũng như các thủ pháp tu từ. Tuy vậy, có nhiều bài thơ, câu thơ được anh sử dụng hình ảnh, cấu tứ ám ảnh, giàu sức gợi, tạo nên những liên tưởng thú vị, bất ngờ và để lại dư ba. Bài thơ Hạt giống là một ví dụ: Một hạt giống/ Sẽ trăm ngàn hạt giống/ Thành rừng cây với sức sống nhiệm màu/ Thành vũ trụ, ngân hà, chân lý/ Trong tình người vang vọng tiếng mẹ ru...

Từ những suy tưởng về con người, những cảm xúc thường trực/ bất chợt khiến thơ về gần với hơn với đời sống, thế giới nghệ thuật thơ mang những nghiệm sinh mới về con người và cuộc đời một cách sâu sắc. Biển vào đêm gầm gừ sóng cả/ Cát lặng im cõng sóng vào bờ/ Sóng bạc đầu thời gian kể chuyện/ Chuyện muôn đời biển của mai sau// Cuối cùng rồi cát và sóng tan ra/ Đại dương ôm vào lòng mảnh vỡ/ Gió thủy chung nên suốt đời dang dở/ Biển muôn đời thành nỗi trở trăn (Tự tình với biển).

Hương thời gian tựa như nhật ký hành trình những cảm xúc của anh trên mọi bước đường của cuộc đời mà anh đã đi qua. Cảm xúc bất chợt nhưng lại để lại những dư vị có ý nghĩa trước nhất là cho chính bản thân anh. Đó chính là sự di dưỡng tinh thần của đời mình sau những giờ lên lớp, hay thời gian nghiên cứu khoa học và cả những lúc phải phát huy cao độ để đưa ra những quyết định phù hợp trong cương vị của người làm công tác quản lý...

Thơ là tiếng nói cất lên từ trái tim và tâm hồn. Những gì Nguyễn Đình Hiền phản ánh trong thơ chính là tiếng nói sâu thẳm, da diết từ trái tim và tâm hồn mình. Anh như con suối lao về biển/ Núi đồi để lại giữa cằn khô/ Lòng em cơn khát trong mùa hạn/ Thèm một cơn mưa đến bất ngờ (Khát).

Viết về điều gì thơ Nguyễn Đình Hiền cũng nhẹ nhàng, dung dị, điềm tĩnh. Sự điềm tĩnh, hồn hậu đáng yêu ấy phải chăng phần nào thể hiện tính cách, con người và cuộc đời của anh. Đã bao lần cánh cửa nhận nỗi đau/ Những chàng trai gõ tay mình lên đấy/ Cũng như trái tim em... đã ngàn lần như vậy/ Có tiếng gõ nào gây nỗi nhớ trong em? (Gõ cửa).

Sinh ra ở vùng đất lửa Quảng Trị nhưng PGS-TS. Nguyễn Đình Hiền có nhiều thời gian gắn bó, sinh sống và làm việc tại Bình Định, cũng là quê vợ anh. Vì thế, với anh cả hai vùng đất này đều thân thuộc, nghĩa tình. Quảng Trị nơi anh cất tiếng khóc chào đời và những năm tháng tuổi thơ gắn bó ở đó với biết bao ký ức của thuở thiếu thời. Bình Định là nơi anh học tập và công tác trong suốt cả chặng đường đời làm việc của mình. Anh đặc biệt chú trọng và ưu ái gửi trọn tình thương, nỗi nhớ với tất cả những suy nghĩ, trăn trở của hồn mình, lòng mình vào hai vùng đất này. Sợi dây tâm hồn Nguyễn Đình Hiền vang lên, cái hồn của ruộng đồng, làng quê, phố thị lan tỏa vào thời gian và không gian trong và ngoài nước, thấm vào hồn người. Hình ảnh ấy mang vẻ đẹp trong sáng, bình dị, đem lại cảm giác ấm áp, gần gũi và sâu lắng. Gợi nhắc những kỷ niệm của tuổi thơ nơi mảnh đất chôn nhau và những năm tháng làm việc nơi quê hương thứ hai Quy Nhơn - Bình Định. Nguyễn Đình Hiền luôn tự thức phải có trách nhiệm với quê hương nơi mình sinh ra và ở nơi đã gắn bó suốt hành trình cuộc đời bằng tất cả nhiệt huyết, tinh thần trách nhiệm công dân. Sẵn sàng đóng góp sức mình để xây dựng và phát triển quê hương ngày càng thêm giàu, thêm đẹp.

Trong thơ VÂN HÒA có một thế giới quê nhà trong ký ức hiện về với những hình ảnh vừa chân thực vừa mờ xa. Nhà thơ lần lượt gợi nhắc nhiều những sự việc, hình ảnh; trong đó Người mẹ Quảng Trị của tôi hiện lên với biết bao phẩm chất đáng quý, đáng trân trọng. Các địa danh nổi tiếng của quê hương gắn liền với bao thăng trầm của thời cuộc và liên quan đến mẹ đều được Nguyễn Đình Hiền liệt kê bằng giọng thơ đầy sâu lắng, sẻ chia; bắt nguồn từ tình cảm thiêng liêng chân thành, khơi dậy niềm tự hào của mỗi con dân nước Việt nói chung, bà mẹ Quảng Trị của tôi nói riêng.

Cầu Hiền Lương như đòn gánh mẹ/ Băng qua dòng nước xiết trào dâng/ Ơi Bến Hải, Cửa Tùng mùa lũ/ Mẹ tựa vào Dốc Miếu lưng cha/ Một bàn chân bám vào Cửa Việt/  Bàn chân kia níu chặt Khe Sanh/ Giọt mồ hôi rơi xanh màu Cồn Cỏ/ Đêm bão về... thức trắng nguyện La Vang/ Hoa đăng trôi... nước mắt thiêng Thạch Hãn/ Tân Sở ngút trời, khí tiết Chiếu Cần Vương... / Cầu Hiền Lương oằn mình đòn gánh mẹ/ Gánh hai đầu Thành Cổ, Vĩnh Linh/ Phía bờ Bắc quằn mình làm Lũy thép/ Phía bờ Nam máu đổ nhuốm Thành đồng/ Đòn gánh mẹ quặn đau không gãy nhịp/ Nối hai bờ không một tiếng thở than/ Chỉ xót thương người nằm lại dọc Trường Sơn/ Mẹ đón các con về dang vòng tay rộng mở/ Không tính thiệt hơn.../ Mẹ sống trọn nghĩa tình./ Quảng Trị bây giờ sắc màu lung linh/ Thành phố hòa bình có hình dáng mẹ/ Bà mẹ Quảng Trị - hồn thiêng xứ sở/ Bà mẹ anh hùng, bà mẹ Việt Nam.

Nguyễn Đình Hiền đã bất tử hóa, vĩnh hằng hóa hình tượng bà mẹ Quảng Trị, bà mẹ anh hùng Việt Nam bằng một tượng đài nghệ thuật hoành tráng. Nguyễn Đình Hiền hoài vọng về cố hương là tìm về với những căn cốt quê nhà, tìm về với gia đình, tiên tổ, bạn bè, thầy cô, tìm về với những giá trị văn hóa truyền thống... Đó chính là chỗ dựa tinh thần cho anh, một người xa quê nhưng dù trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng luôn nhớ về cố hương và vẫn là người con hiếu thảo với quê nhà. Trên tất cả, những bài thơ ấy, cảnh ngộ ấy, hoàn cảnh ấy... để chúng ta thấy được sự chân thành, tấm lòng nặng nợ với đất và người quê hương. Những câu thơ nhẹ nhàng ngân lên, gợi được tình cảm tốt đẹp trong lòng người đọc. Để từ đó bản thân mỗi người họ có dịp chiêm nghiệm lại chính mình; nhìn nhận một cách thấu đáo và sâu sắc hơn. Đá nằm tĩnh lặng đón mưa/ Rửa đi bụi bặm cho vừa thế gian.// Đá ngồi khoác vội nắng vàng/ Lặng im như Bụt lần tràng hạt duyên.// Đá đứng ôm gió trước thềm/ Mây buông như tóc chảy mềm dáng xuân (Phiến đá).

Bên cạnh những cảm xúc bất chợt, Nguyễn Đình Hiền còn có những bài thơ mang chất chiêm nghiệm, trăn trở, suy tư. Trắng trong, tinh khiết nét dịu dàng/ Hương quỳnh thơm mãi giữa không gian/ Hoa nở hết mình trong đêm vắng/ Sáng ra, còn lại chút hương tàn... (Hoa quỳnh). Gió vẫn miên man điệp khúc hành trình/ Những mảnh vỡ đau lòng thân biển mặn/ Như cuộc đời có bao giờ phẳng lặng?/ Bao giờ biển thôi hát những chờ mong (Tự tình với biển).

Điều dễ nhận thấy và làm nên nét riêng ở thơ Nguyễn Đình Hiền là tất cả mọi thứ đều diễn ra êm đềm không phải kiểu khổ đau, buồn bã đến quằn quại hay tuyệt vọng đến kiệt cùng. Mà đó chỉ là những khoảnh khắc vụt hiện hoặc sự phơi trải theo dòng cảm xúc tự nhiên, hồn hậu. Do vậy, giọng thơ hiền lành, trầm lắng, da diết, mang nhiều nỗi suy tư, trăn trở. Giọng thơ dung dị ấy cất lên, bạn đọc không thể không chú ý lắng nghe và đón nhận. Như cỏ dại ven đường/ Em lẫn vào hương hoa đồng nội/ Tôi nhận ra em muộn màng bối rối/ Ơi bông dủ dẻ đồng quê// Những buổi hoàng hôn chân lạc lối về/ Giữa mùi hương phảng phất/ Tôi bàng hoàng nhận ra sự thật/ Bông dủ dẻ ven đường không dễ ban trao// Rồi từng đêm tôi nằm chiêm bao/ Hương dủ dẻ cứ gửi về theo gió/ Tôi nhận ra... nhận ra một điều rất rõ/ Bông dủ dẻ tự yêu mình.../ nên chỉ nở về đêm (Bông dủ dẻ).

 Bên cạnh những bài thơ viết về quê hương, bạn bè, nghề giáo, những nơi anh đã đặt mình đến đó thì Nguyễn Đình Hiền có rất nhiều bài thơ viết về “em” bằng tình cảm rất chân thành, trong sáng. Ở đó, có cả những rung động của tuổi mới lớn, lúc trưởng thành và cả khi đã là người từng trải. Những bài thơ viết về “em”, viết cho “em” như một bản giao hưởng đa cung điệu nhưng bao giờ nhân vật trữ tình “anh” cũng bao dung, cảm thông và thể hiện bản lĩnh, cốt cách của chính mình.

Để có cơn mưa dịu mát đất trời/ Cây phải quặn mình bao lần đau trước gió/ Nhưng thiếu mưa, lấy gì cho hoa nở/ Để anh mang tặng em cái đẹp nhất trên đời! (Tặng em).

Nguyễn Đình Hiền đã đi qua tuổi thanh xuân sôi nổi, nhiều mộng mơ. Giờ đây tình yêu ngày càng nồng nàn và thực tế hơn. Với anh, trong kiếp nhân sinh tình cảm gia đình, vợ con trở nên vô giá. Anh sâu sắc nhận ra, hạnh phúc gia đình là điều thiêng liêng nhất, là nguồn sức mạnh xua đi bao nỗi lo âu, nhọc nhằn, bất trắc để đi đến thành công. Anh cảm thấy mình may mắn vì có vợ con hiểu mình, cùng chia ngọt sẻ bùi, là hậu phương để anh yên tâm làm việc, cống hiến cho đời. Con suối tình vẫn dạt dào tuôn chảy đến tận cùng yêu thương của tình chồng vợ, cha con. Vì thế, anh dành những vần thơ viết về gia đình, vợ con rất đượm tình, thấm thía, giản dị mà xúc động chứa đựng tình yêu tha thiết với quê hương, cuộc đời như được chạm vào sự yêu thương và hạnh phúc. Về quê ta về thăm quê/ Đưa con cùng vợ ta về chốn xưa/ Vợ con không quản nắng mưa/ Chỉ nghe rất rõ tiếng thưa, dạ hiền/ Yêu thương đã xóa muộn phiền/ Cười vui, gặp gỡ... ngọt miền ca dao/ Về quê hạnh phúc biết bao/ Đượm tình chồng vợ, ngọt ngào cha con (Đưa vợ con về quê).

Nhà giáo Ưu tú, PGS-TS. Nguyễn Đình Hiền cho biết, anh vốn yêu văn chương từ thời còn học phổ thông và giữ mãi tình yêu ấy theo thời gian. Người nhạy cảm, tinh tế có chiều sâu nên điều gì xảy ra cũng đều làm cho anh xúc động, trăn trở và có ngay những câu thơ, bài thơ để biểu đạt một cách sâu lắng, nhiều cung bậc và đa nghĩa. Vì thế những câu thơ bật ra và kết nối lại với nhau bằng thứ nhịp điệu tự do, bất chợt với ngôn ngữ bổng trầm theo cách riêng của anh. Do vậy, đôi khi vô tình đi quá xa trong sự xâu chuỗi liên hoàn toàn bài. Cái quan trọng, người đọc vẫn nắm bắt được cái hồn, cái sắc diện tinh thần, ý tưởng và tính đa nghĩa trong thơ anh.

Nguyễn Đình Hiền đã chọn cho mình cách dùng ngôn ngữ riêng để bộc bạch và trải lòng bằng giọng tâm tình, thủ thỉ, sâu lắng với sự nhạy cảm của trái tim yêu thương. Tôi tìm tôi trong sự viết là một cách để khám phá và đào sâu bản thể. Nghĩ và nhìn về cuộc sống của con người: tình yêu, khát vọng, lý tưởng, ước mơ... Tất cả xây dựng trên cơ sở cảm nghiệm của chủ thể trữ tình. Dù xuất phát từ quan niệm, góc nhìn nào cũng đều hướng về cái đẹp, cái cao cả nhân văn. Sáng nay chớm thu về/ Lá vàng buông theo gió/ Con nai vàng tỉnh giấc/ Hôn lên sương đầu mùa// Thu đi rồi trở lại/ Em đi rồi... xa xăm.../ Làn hương xưa gửi lại/ Thành thu vàng không tên// Thu về mang theo gió/ Thu về mang theo mây/ Trời xanh cao lồng lộng/ Tình người thêm đắm say... (Mùa thu trở lại).

Có thể nói mỗi cảm xúc của Nguyễn Đình Hiền đều là cái cớ để anh bộc lộ tâm hồn mình qua thơ và nếu lắp ghép lại một cách liên tục thì sẽ tạo ra một tiểu sử bằng thơ. Tóc em nghiêng xuống bên còn/ Để anh bên mất mỏi mòn đợi mong/ Tóc em nghiêng xuống bên không/ Để anh bên có cho lòng nôn nao/ Tóc em nghiêng xuống bên nào/ Hồn thơ anh đã lạc vào tóc em... (Tóc em).

Ở Hương thời gian, Nhà giáo Ưu tú, PGS TS. Nguyễn Đình Hiền đã ký gửi tất cả những cảm xúc, nỗi niềm của đời mình, lòng mình vào đó. Tất cả đều dung dị, sáng trong, chân thành, đằm sâu và da diết. Với những thành công trên con đường sự nghiệp và cả những đóng góp trí lực cho nước nhà của Nguyễn Đình Hiền thì đó cũng chính là hương thơm, là những giọt thời gian mang nhiều ý nghĩa. Vì thế, Hương thời gian còn ẩn chứa thông điệp triết lý nhân sinh về giá trị cuộc đời của mỗi con người - nhất là thế hệ trẻ, đó là tâm nguyện lớn lao của người thầy giáo có tâm hồn thơ ca Nguyễn Đình Hiền. Đêm lặng thầm chở những vì sao/ Gió lặng thầm chở hương thơm ngát/ Đất lặng thầm cho cây bao vị ngọt/ Thầy lặng thầm nâng bước em bay cao//... // Các em của tôi khôn lớn đã nhiều/ Bài giảng ngày nào chắt chiu từng đêm trắng/ Dù tóc thầy ngã dần sang màu phấn/ Vẫn theo em đi suốt cuộc hành trình... (Lặng thầm).

Hy vọng những câu thơ và tấm lòng Lặng thầm theo Hương thời gian của người thầy sẽ cùng với bao thế hệ học trò tỏa sáng./.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Thơ Lê Quang Vui – Sự giăng mắc giữa đời và đạo
hời thế giới phẳng, giữa thời đại tiêu dùng, con người đang chạy theo việc đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ và sở hữu những giá trị vật chất, thơ đang bị xem như thứ xa xỉ chỉ dành cho những người có tâm hồn mộng mơ và thi vị. Đối với công việc làm thơ, một số người làm thơ chỉ để tìm kiếm chút danh lợi hoặc để mua vui cho chính bản thân mình. Thế nhưng, trên thi đàn thơ Việt Nam đương đại vẫn còn những nhà thơ xem công việc sáng tạo thơ như một thiên chức mang vẻ đẹp thuần khiết và thiêng liêng. Ở đây, tôi muốn nói đến nhà thơ Lê Quang Vui, hội viên Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Đồng Tháp, một người đeo đuổi công việc sáng tác thơ đã hơn 40 năm. Nhà thơ Lê Quang Vui được một số văn nghệ sĩ đánh giá rằng ông đang giữ kỷ lục về số lượng tác phẩm với hơn 15.000 bài thơ đã sáng tác và 15 tập thơ đã xuất bản.
Xem thêm
Nhà thơ Vương Trọng – Cá tính thơ trong con người xứ Nghệ
Đối với cánh văn chương 7x chúng tôi ở Văn nghệ Quân đội, nhà thơ Vương Trọng không chỉ rất gần gũi mà ông còn là tấm gương về sáng tác, công tác và các ứng xử trong cuộc sống đời thường. Ông là điển hình cho phẩm chất của người xứ Nghệ: mạnh mẽ, kiên cường, có chính kiến rõ ràng và rất quyết liệt trong bảo vệ chính kiến đó, nhất quán từ lời nói đến hành động, rất biết nặng nhẹ trong đời sống và càng biết thật giả trong văn chương. Được tiếp nối các ông trong khu vực công tác và sáng tác ở Văn nghệ Quân đội là may mắn với chúng tôi. Chúng tôi luôn kính trọng thế hệ nhà văn chống Mỹ trong đó có Vương Trọng và lấy làm tấm gương để soi chiếu chính mình. Càng đọc các bài thơ đã thuộc làu từ tấm bé, nhiều khi còn quên mất tên tác giả Vương Trọng chúng tôi càng hiểu rằng, giá trị trước hết và lâu bền của thơ ca chính là thơ ca luôn trực tiếp phục vụ đời sống con người, ở những khúc quanh bước ngoặt, ở những thân phận thua thiệt đã hằn lên từ nghìn năm lịch sử đến hôm nay. Những câu chuyện như thế khi vào thơ Vương Trọng đã được đẩy lên ở một tầng mức thẳm sâu, đớn đau tột cùng mà cũng tận cùng vẻ đẹp của sự hi sinh của con người Việt Nam đã đi vào thơ ca sử sách.
Xem thêm
Bích Thu - Người đồng hành cùng tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Bích Thu là một trong rất ít những nhà phê bình văn học nữ hiện còn miệt mài với những trang viết về văn chương Việt cho đến ngày nay. Thơ và văn xuôi là hai thể loại mà chị theo dõi và luôn đồng hành cho đến những thập niên đầu của thế kỷ XXI để nhận diện thi pháp tác phẩm và tác giả tiêu biểu, sau đó là tổng kết, chỉ ra diện mạo, đặc điểm chung cho cả phong trào qua các giai đoạn, nhất là giai đoạn từ Đổi mới đến nay.
Xem thêm
Thơ Lê Văn Sự - Tiếng thơ của vùng ký ức
Lê Văn Sự, nguyên là giáo viên dạy toán, nhưng tâm hồn thơ dào dạt, làm nên những vẻ đẹp “phi logic” của ngôn ngữ thơ. Không “đại ngôn”, nhưng phải nói rằng, anh là một nhà thơ “toàn tòng”. Cho đến nay, Lê Văn Sự đã xuất bản 11 tập thơ, trong số 12 tác phẩm đã công bố của anh. Anh là tiếng thơ cất lên từ làng bước ra xa lộ, nâng niu, đắm đuối ký ức.
Xem thêm
Thơ Trương Trọng Nghĩa từ góc nhìn phê bình sinh thái
Hành trình sáng tạo tuy chưa dài và còn nhiều dự cảm, nhưng Trương Trọng Nghĩa đã tự khẳng định tâm thế và tâm cảm của mình để hình thành chất thơ và thi pháp cá nhân. Thơ anh nặng sâu tình người, tình quê hương, xứ sở. Và trong quá trình đô thị hóa của xã hội Việt Nam thời hiện đại, nó giúp nhà thơ và giúp người đọc tìm về nguồn cội để được sống lại trong không - thời gian sinh thái thiên nhiên và sinh thái nhân văn trong sáng, thanh bình cho mỗi phận người và mỗi kinh nghiệm quan hệ người
Xem thêm
Trương Nam Hương – Thi sĩ tuổi Mèo với những câu thơ đẹp như nỗi buồn
Thơ Trương Nam Hương tài hoa mà đằm thắm, đau đáu với mẹ cha, quê nhà và những ân tình không thể nguôi quên. Nhân sinh nhật lần thứ 63 của nhà thơ (23/10/1963 – 23/10/2026), Văn chương TP.HCM trân trọng giới thiệu bài viết của Lê Huy Hòa như một món quà thân tình gửi đến anh – người thi sĩ vẫn bền bỉ gìn giữ những miền xanh trong trẻo của tâm hồn.
Xem thêm
Ấm áp những nụ cười trong tập thơ “Có phải cô là nắng” của Phan Thanh Tâm
Có phải Cô là nắng là tác phẩm thứ 9 và Tuyển tập thơ thứ 2 viết cho thiếu nhi của Nhà văn Phan Thanh Tâm. Tập thơ có 50 bài thơ đề cập đến nhiều chủ đề với cái nhìn dễ thương của trẻ thơ.
Xem thêm
Thơ ca và những tấm lòng đồng điệu trong buổi ra mắt sách của Phan Thanh Tâm
Bởi suy cho cùng, những hạt nắng đẹp nhất trong thơ thiếu nhi chính là những hạt nắng được gieo vào tâm hồn trẻ nhỏ.
Xem thêm
Tôi gọi Hoa của nước là hoa chữ trường ca
Tôi gọi Hoa của nước của nữ nhà văn Trầm Hương là “Hoa chữ trường ca”. Đây không phải sự tung hô tùy hứng, càng không phải lời khen dành cho tác phẩm của nhà văn đương đại tại TP.HCM. Hoa của nước đẹp nhưng không phải do tô điểm thành nên!
Xem thêm
Từ biểu tượng trong thơ đến việc tìm hiểu đặc trưng của thơ cổ điển, siêu thực
Khi tìm hiểu đặc trưng của các trào lưu (phong cách, trường phái) văn học, có thể bắt đầu từ các khái niệm gần gũi như hình tượng, biểu tượng... Bài viết này dùng các khái niệm này để lần lượt mở cánh cửa đi vào thế giới thơ cổ điển và thơ siêu thực.
Xem thêm
Ký ức trần thuật trong tiểu thuyết Trước bình minh của Trần Thị Hảo
Tiểu thuyết Trước bình minh của Trần Thị Hảo mở ra một thế giới ký ức, nơi những biến động của lịch sử, chiến tranh và đời sống hậu chiến được soi chiếu qua số phận một con người.
Xem thêm
Con khiếu rất linh
Nguyễn Linh Khiếu đã làm cho chính sử, một thứ đại lịch sử/đại tự sự, vỡ ra thành nhiều lịch sử, nhiều tiểu tự sự. Như dòng sông Hồng được tiếp nước từ các chi lưu lại chia nước cho các phân lưu để tạo thành một mạng lưới thủy văn. Mỗi dòng sông con đều bắt đầu câu chuyện của riêng nó. Một lịch sử đời thường với những cảm quan phồn sinh sâu sắc, đồng thời là một tư duy phản biện lịch sử...
Xem thêm
Người sống với văn chương cùng thời
PGS-TS Hồ Thế Hà đọc Thi pháp truyện ngắn hiện đại của Bùi Việt Thắng, Nxb Thanh Niên, Hà Nội, 2020
Xem thêm
Đời vẫn xanh, tình vẫn xanh và thơ…
Bài đăng tạp chí Sông Hương, tháng 9/2026
Xem thêm
Đi qua “nham thạch”, đón mùi “lụa hương”
Có những bài thơ, vừa đọc qua, đã cảm thấy độ nóng bỏng như lửa, nhưng ngẫm kỹ, lại thấy bên trong ấy, chứa đầy một thế giới rất mềm mại, dịu êm. Cũng có những bài thơ chỉ thoảng qua như một mùi hương, tưởng nhẹ tênh mà lại đủ sức níu lấy cả một miền ký ức.
Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm