TIN TỨC

Cái tôi trữ tình sâu lắng trong Hương thời gian của Nguyễn Đình Hiền

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-05-18 16:08:10
mail facebook google pos stwis
2295 lượt xem

NGUYỄN VĂN HÒA

(Đọc tập thơ Hương thời gian của Nguyễn Đình Hiền, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2025)


"Hương thời gian" là tập thơ của Nhà giáo Ưu tú, PGS. TS. Nguyễn Đình Hiền, bút danh là VÂN HÒA. VÂN HÒA cũng chính là tên làng quê yêu dấu của tác giả.

Tập thơ gồm 63 bài với rất nhiều cung bậc cảm xúc, tình cảm của một người giàu trắc ẩn với đời, với người. Trong 63 bài của thi tập này, có những bài được Nguyễn Đình Hiền viết từ những năm 80, 90 của thế kỷ trước và có những bài viết trong thời gian gần đây. Anh lưu giữ lại những khoảnh khắc thời gian gắn với biết bao tâm trạng, nỗi niềm riêng. Những âm vang từ cuộc đời khúc xạ qua lăng kính trải nghiệm của nhà thơ Nguyễn Đình Hiền. Hương thời gian phải chăng đó chính là nhật ký hành trình, dung chứa các tầng hiện thực, cảm xúc khác nhau, mở ra những tri nhận mới về đời sống đa chiều kích của con người thời hiện đại.    

Cái tôi trữ tình trong thơ VÂN HÒA bàng bạc, man mác, nhẹ nhàng nhưng lại vô cùng sâu lắng giàu tính triết lý nhân sinh. Cái tôi trữ tình ấy là nguồn mạch nâng đỡ đời sống tinh thần để hướng về những điều nhân bản nhất, gieo mầm cho những khát khao hy vọng, ứa tràn nhựa sống cho tình yêu thi ca và cuộc đời.

Vòng tay siết chặt thời gian/ Mùi hương như níu gió ngàn đại dương/ Sóng cao, biển động, mây nguồn/ Thời gian níu lấy con đường gió bay.../ Bàn tay níu lấy bàn tay/ Tình yêu nắm lấy cơn say đất trời/ Mắt đen hun hút phía người/ Phía ta níu lấy nỗi đời riêng mang/ Núi đồi ngập giữa trăng non/ Chuông chùa thả nhịp siết tròn vòng tay/ Đất trời lay chuyển ngất ngây/ Lòng ta níu lấy tháng ngày thơm hương... (Hương thời gian).

Thơ VÂN HÒA giản dị, sâu lắng mà chân thành. Cái chân thành, sâu lắng cao quý của một nhà giáo, của một người làm khoa học và của một người làm công tác quản lý. Đọc thơ anh, người đọc sẽ hình dung ra con người đời thường và con người thơ; cả hai có sự hòa quyện vào nhau, tuy hai mà một tuy một mà hai. Con người đời thường mực thước, mô phạm - cái mô phạm của một nhà giáo; sự nghiêm cẩn của một nhà quản lý; sự chỉn chu, chính xác của người nghiên cứu khoa học; cái giản dị, sâu lắng, chân thành của một người làm thơ, yêu thơ say đắm.

Thơ Nguyễn Đình Hiền chan chứa tình cảm của một con người tinh tế có chiều sâu và giàu cảm xúc. Với anh, những gì xảy ra quanh mình cũng đều để lại dấu ấn và được anh chiêm nghiệm sâu sắc rồi ghi lại cảm xúc đó bằng thơ. Bạn lòng ơi, một trời kỷ niệm/ Một khối tình đi suốt thời gian/ Có nắng mặt trời, có hương của đất/ Mây lang thang, gió bật cung đàn// Ta say khướt men tình nồng chuếnh choáng/ Giấc mơ hoa neo giữa cánh đồng vàng/ Dòng sông chảy đưa em về bến đỗ/ Ta phong trần, vượt thác đến tìm em// Bạn lòng ơi em có thành tri kỷ/ Thành đại dương ôm ấp phiến đá buồn/ Xin trở lại câu thơ ngày chạm mặt/ Đôi mắt tròn cho trái đất thành duyên (Tâm sự).

Thơ VÂN HÒA thường nghiêng về cảm xúc, vì thế anh ít dụng công trong việc sử dụng chữ nghĩa, thi ảnh cũng như các thủ pháp tu từ. Tuy vậy, có nhiều bài thơ, câu thơ được anh sử dụng hình ảnh, cấu tứ ám ảnh, giàu sức gợi, tạo nên những liên tưởng thú vị, bất ngờ và để lại dư ba. Bài thơ Hạt giống là một ví dụ: Một hạt giống/ Sẽ trăm ngàn hạt giống/ Thành rừng cây với sức sống nhiệm màu/ Thành vũ trụ, ngân hà, chân lý/ Trong tình người vang vọng tiếng mẹ ru...

Từ những suy tưởng về con người, những cảm xúc thường trực/ bất chợt khiến thơ về gần với hơn với đời sống, thế giới nghệ thuật thơ mang những nghiệm sinh mới về con người và cuộc đời một cách sâu sắc. Biển vào đêm gầm gừ sóng cả/ Cát lặng im cõng sóng vào bờ/ Sóng bạc đầu thời gian kể chuyện/ Chuyện muôn đời biển của mai sau// Cuối cùng rồi cát và sóng tan ra/ Đại dương ôm vào lòng mảnh vỡ/ Gió thủy chung nên suốt đời dang dở/ Biển muôn đời thành nỗi trở trăn (Tự tình với biển).

Hương thời gian tựa như nhật ký hành trình những cảm xúc của anh trên mọi bước đường của cuộc đời mà anh đã đi qua. Cảm xúc bất chợt nhưng lại để lại những dư vị có ý nghĩa trước nhất là cho chính bản thân anh. Đó chính là sự di dưỡng tinh thần của đời mình sau những giờ lên lớp, hay thời gian nghiên cứu khoa học và cả những lúc phải phát huy cao độ để đưa ra những quyết định phù hợp trong cương vị của người làm công tác quản lý...

Thơ là tiếng nói cất lên từ trái tim và tâm hồn. Những gì Nguyễn Đình Hiền phản ánh trong thơ chính là tiếng nói sâu thẳm, da diết từ trái tim và tâm hồn mình. Anh như con suối lao về biển/ Núi đồi để lại giữa cằn khô/ Lòng em cơn khát trong mùa hạn/ Thèm một cơn mưa đến bất ngờ (Khát).

Viết về điều gì thơ Nguyễn Đình Hiền cũng nhẹ nhàng, dung dị, điềm tĩnh. Sự điềm tĩnh, hồn hậu đáng yêu ấy phải chăng phần nào thể hiện tính cách, con người và cuộc đời của anh. Đã bao lần cánh cửa nhận nỗi đau/ Những chàng trai gõ tay mình lên đấy/ Cũng như trái tim em... đã ngàn lần như vậy/ Có tiếng gõ nào gây nỗi nhớ trong em? (Gõ cửa).

Sinh ra ở vùng đất lửa Quảng Trị nhưng PGS-TS. Nguyễn Đình Hiền có nhiều thời gian gắn bó, sinh sống và làm việc tại Bình Định, cũng là quê vợ anh. Vì thế, với anh cả hai vùng đất này đều thân thuộc, nghĩa tình. Quảng Trị nơi anh cất tiếng khóc chào đời và những năm tháng tuổi thơ gắn bó ở đó với biết bao ký ức của thuở thiếu thời. Bình Định là nơi anh học tập và công tác trong suốt cả chặng đường đời làm việc của mình. Anh đặc biệt chú trọng và ưu ái gửi trọn tình thương, nỗi nhớ với tất cả những suy nghĩ, trăn trở của hồn mình, lòng mình vào hai vùng đất này. Sợi dây tâm hồn Nguyễn Đình Hiền vang lên, cái hồn của ruộng đồng, làng quê, phố thị lan tỏa vào thời gian và không gian trong và ngoài nước, thấm vào hồn người. Hình ảnh ấy mang vẻ đẹp trong sáng, bình dị, đem lại cảm giác ấm áp, gần gũi và sâu lắng. Gợi nhắc những kỷ niệm của tuổi thơ nơi mảnh đất chôn nhau và những năm tháng làm việc nơi quê hương thứ hai Quy Nhơn - Bình Định. Nguyễn Đình Hiền luôn tự thức phải có trách nhiệm với quê hương nơi mình sinh ra và ở nơi đã gắn bó suốt hành trình cuộc đời bằng tất cả nhiệt huyết, tinh thần trách nhiệm công dân. Sẵn sàng đóng góp sức mình để xây dựng và phát triển quê hương ngày càng thêm giàu, thêm đẹp.

Trong thơ VÂN HÒA có một thế giới quê nhà trong ký ức hiện về với những hình ảnh vừa chân thực vừa mờ xa. Nhà thơ lần lượt gợi nhắc nhiều những sự việc, hình ảnh; trong đó Người mẹ Quảng Trị của tôi hiện lên với biết bao phẩm chất đáng quý, đáng trân trọng. Các địa danh nổi tiếng của quê hương gắn liền với bao thăng trầm của thời cuộc và liên quan đến mẹ đều được Nguyễn Đình Hiền liệt kê bằng giọng thơ đầy sâu lắng, sẻ chia; bắt nguồn từ tình cảm thiêng liêng chân thành, khơi dậy niềm tự hào của mỗi con dân nước Việt nói chung, bà mẹ Quảng Trị của tôi nói riêng.

Cầu Hiền Lương như đòn gánh mẹ/ Băng qua dòng nước xiết trào dâng/ Ơi Bến Hải, Cửa Tùng mùa lũ/ Mẹ tựa vào Dốc Miếu lưng cha/ Một bàn chân bám vào Cửa Việt/  Bàn chân kia níu chặt Khe Sanh/ Giọt mồ hôi rơi xanh màu Cồn Cỏ/ Đêm bão về... thức trắng nguyện La Vang/ Hoa đăng trôi... nước mắt thiêng Thạch Hãn/ Tân Sở ngút trời, khí tiết Chiếu Cần Vương... / Cầu Hiền Lương oằn mình đòn gánh mẹ/ Gánh hai đầu Thành Cổ, Vĩnh Linh/ Phía bờ Bắc quằn mình làm Lũy thép/ Phía bờ Nam máu đổ nhuốm Thành đồng/ Đòn gánh mẹ quặn đau không gãy nhịp/ Nối hai bờ không một tiếng thở than/ Chỉ xót thương người nằm lại dọc Trường Sơn/ Mẹ đón các con về dang vòng tay rộng mở/ Không tính thiệt hơn.../ Mẹ sống trọn nghĩa tình./ Quảng Trị bây giờ sắc màu lung linh/ Thành phố hòa bình có hình dáng mẹ/ Bà mẹ Quảng Trị - hồn thiêng xứ sở/ Bà mẹ anh hùng, bà mẹ Việt Nam.

Nguyễn Đình Hiền đã bất tử hóa, vĩnh hằng hóa hình tượng bà mẹ Quảng Trị, bà mẹ anh hùng Việt Nam bằng một tượng đài nghệ thuật hoành tráng. Nguyễn Đình Hiền hoài vọng về cố hương là tìm về với những căn cốt quê nhà, tìm về với gia đình, tiên tổ, bạn bè, thầy cô, tìm về với những giá trị văn hóa truyền thống... Đó chính là chỗ dựa tinh thần cho anh, một người xa quê nhưng dù trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng luôn nhớ về cố hương và vẫn là người con hiếu thảo với quê nhà. Trên tất cả, những bài thơ ấy, cảnh ngộ ấy, hoàn cảnh ấy... để chúng ta thấy được sự chân thành, tấm lòng nặng nợ với đất và người quê hương. Những câu thơ nhẹ nhàng ngân lên, gợi được tình cảm tốt đẹp trong lòng người đọc. Để từ đó bản thân mỗi người họ có dịp chiêm nghiệm lại chính mình; nhìn nhận một cách thấu đáo và sâu sắc hơn. Đá nằm tĩnh lặng đón mưa/ Rửa đi bụi bặm cho vừa thế gian.// Đá ngồi khoác vội nắng vàng/ Lặng im như Bụt lần tràng hạt duyên.// Đá đứng ôm gió trước thềm/ Mây buông như tóc chảy mềm dáng xuân (Phiến đá).

Bên cạnh những cảm xúc bất chợt, Nguyễn Đình Hiền còn có những bài thơ mang chất chiêm nghiệm, trăn trở, suy tư. Trắng trong, tinh khiết nét dịu dàng/ Hương quỳnh thơm mãi giữa không gian/ Hoa nở hết mình trong đêm vắng/ Sáng ra, còn lại chút hương tàn... (Hoa quỳnh). Gió vẫn miên man điệp khúc hành trình/ Những mảnh vỡ đau lòng thân biển mặn/ Như cuộc đời có bao giờ phẳng lặng?/ Bao giờ biển thôi hát những chờ mong (Tự tình với biển).

Điều dễ nhận thấy và làm nên nét riêng ở thơ Nguyễn Đình Hiền là tất cả mọi thứ đều diễn ra êm đềm không phải kiểu khổ đau, buồn bã đến quằn quại hay tuyệt vọng đến kiệt cùng. Mà đó chỉ là những khoảnh khắc vụt hiện hoặc sự phơi trải theo dòng cảm xúc tự nhiên, hồn hậu. Do vậy, giọng thơ hiền lành, trầm lắng, da diết, mang nhiều nỗi suy tư, trăn trở. Giọng thơ dung dị ấy cất lên, bạn đọc không thể không chú ý lắng nghe và đón nhận. Như cỏ dại ven đường/ Em lẫn vào hương hoa đồng nội/ Tôi nhận ra em muộn màng bối rối/ Ơi bông dủ dẻ đồng quê// Những buổi hoàng hôn chân lạc lối về/ Giữa mùi hương phảng phất/ Tôi bàng hoàng nhận ra sự thật/ Bông dủ dẻ ven đường không dễ ban trao// Rồi từng đêm tôi nằm chiêm bao/ Hương dủ dẻ cứ gửi về theo gió/ Tôi nhận ra... nhận ra một điều rất rõ/ Bông dủ dẻ tự yêu mình.../ nên chỉ nở về đêm (Bông dủ dẻ).

 Bên cạnh những bài thơ viết về quê hương, bạn bè, nghề giáo, những nơi anh đã đặt mình đến đó thì Nguyễn Đình Hiền có rất nhiều bài thơ viết về “em” bằng tình cảm rất chân thành, trong sáng. Ở đó, có cả những rung động của tuổi mới lớn, lúc trưởng thành và cả khi đã là người từng trải. Những bài thơ viết về “em”, viết cho “em” như một bản giao hưởng đa cung điệu nhưng bao giờ nhân vật trữ tình “anh” cũng bao dung, cảm thông và thể hiện bản lĩnh, cốt cách của chính mình.

Để có cơn mưa dịu mát đất trời/ Cây phải quặn mình bao lần đau trước gió/ Nhưng thiếu mưa, lấy gì cho hoa nở/ Để anh mang tặng em cái đẹp nhất trên đời! (Tặng em).

Nguyễn Đình Hiền đã đi qua tuổi thanh xuân sôi nổi, nhiều mộng mơ. Giờ đây tình yêu ngày càng nồng nàn và thực tế hơn. Với anh, trong kiếp nhân sinh tình cảm gia đình, vợ con trở nên vô giá. Anh sâu sắc nhận ra, hạnh phúc gia đình là điều thiêng liêng nhất, là nguồn sức mạnh xua đi bao nỗi lo âu, nhọc nhằn, bất trắc để đi đến thành công. Anh cảm thấy mình may mắn vì có vợ con hiểu mình, cùng chia ngọt sẻ bùi, là hậu phương để anh yên tâm làm việc, cống hiến cho đời. Con suối tình vẫn dạt dào tuôn chảy đến tận cùng yêu thương của tình chồng vợ, cha con. Vì thế, anh dành những vần thơ viết về gia đình, vợ con rất đượm tình, thấm thía, giản dị mà xúc động chứa đựng tình yêu tha thiết với quê hương, cuộc đời như được chạm vào sự yêu thương và hạnh phúc. Về quê ta về thăm quê/ Đưa con cùng vợ ta về chốn xưa/ Vợ con không quản nắng mưa/ Chỉ nghe rất rõ tiếng thưa, dạ hiền/ Yêu thương đã xóa muộn phiền/ Cười vui, gặp gỡ... ngọt miền ca dao/ Về quê hạnh phúc biết bao/ Đượm tình chồng vợ, ngọt ngào cha con (Đưa vợ con về quê).

Nhà giáo Ưu tú, PGS-TS. Nguyễn Đình Hiền cho biết, anh vốn yêu văn chương từ thời còn học phổ thông và giữ mãi tình yêu ấy theo thời gian. Người nhạy cảm, tinh tế có chiều sâu nên điều gì xảy ra cũng đều làm cho anh xúc động, trăn trở và có ngay những câu thơ, bài thơ để biểu đạt một cách sâu lắng, nhiều cung bậc và đa nghĩa. Vì thế những câu thơ bật ra và kết nối lại với nhau bằng thứ nhịp điệu tự do, bất chợt với ngôn ngữ bổng trầm theo cách riêng của anh. Do vậy, đôi khi vô tình đi quá xa trong sự xâu chuỗi liên hoàn toàn bài. Cái quan trọng, người đọc vẫn nắm bắt được cái hồn, cái sắc diện tinh thần, ý tưởng và tính đa nghĩa trong thơ anh.

Nguyễn Đình Hiền đã chọn cho mình cách dùng ngôn ngữ riêng để bộc bạch và trải lòng bằng giọng tâm tình, thủ thỉ, sâu lắng với sự nhạy cảm của trái tim yêu thương. Tôi tìm tôi trong sự viết là một cách để khám phá và đào sâu bản thể. Nghĩ và nhìn về cuộc sống của con người: tình yêu, khát vọng, lý tưởng, ước mơ... Tất cả xây dựng trên cơ sở cảm nghiệm của chủ thể trữ tình. Dù xuất phát từ quan niệm, góc nhìn nào cũng đều hướng về cái đẹp, cái cao cả nhân văn. Sáng nay chớm thu về/ Lá vàng buông theo gió/ Con nai vàng tỉnh giấc/ Hôn lên sương đầu mùa// Thu đi rồi trở lại/ Em đi rồi... xa xăm.../ Làn hương xưa gửi lại/ Thành thu vàng không tên// Thu về mang theo gió/ Thu về mang theo mây/ Trời xanh cao lồng lộng/ Tình người thêm đắm say... (Mùa thu trở lại).

Có thể nói mỗi cảm xúc của Nguyễn Đình Hiền đều là cái cớ để anh bộc lộ tâm hồn mình qua thơ và nếu lắp ghép lại một cách liên tục thì sẽ tạo ra một tiểu sử bằng thơ. Tóc em nghiêng xuống bên còn/ Để anh bên mất mỏi mòn đợi mong/ Tóc em nghiêng xuống bên không/ Để anh bên có cho lòng nôn nao/ Tóc em nghiêng xuống bên nào/ Hồn thơ anh đã lạc vào tóc em... (Tóc em).

Hương thời gian, Nhà giáo Ưu tú, PGS TS. Nguyễn Đình Hiền đã ký gửi tất cả những cảm xúc, nỗi niềm của đời mình, lòng mình vào đó. Tất cả đều dung dị, sáng trong, chân thành, đằm sâu và da diết. Với những thành công trên con đường sự nghiệp và cả những đóng góp trí lực cho nước nhà của Nguyễn Đình Hiền thì đó cũng chính là hương thơm, là những giọt thời gian mang nhiều ý nghĩa. Vì thế, Hương thời gian còn ẩn chứa thông điệp triết lý nhân sinh về giá trị cuộc đời của mỗi con người - nhất là thế hệ trẻ, đó là tâm nguyện lớn lao của người thầy giáo có tâm hồn thơ ca Nguyễn Đình Hiền. Đêm lặng thầm chở những vì sao/ Gió lặng thầm chở hương thơm ngát/ Đất lặng thầm cho cây bao vị ngọt/ Thầy lặng thầm nâng bước em bay cao//... // Các em của tôi khôn lớn đã nhiều/ Bài giảng ngày nào chắt chiu từng đêm trắng/ Dù tóc thầy ngã dần sang màu phấn/ Vẫn theo em đi suốt cuộc hành trình... (Lặng thầm).

Hy vọng những câu thơ và tấm lòng Lặng thầm theo Hương thời gian của người thầy sẽ cùng với bao thế hệ học trò tỏa sáng./.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm