TIN TỨC

Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-04-22 08:17:41
mail facebook google pos stwis
559 lượt xem

KHUÊ VIỆT TRƯỜNG

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.

 

Nhà thơ Trần Chấn Uy

 

Trần Chấn Uy làm thơ như một nhu cầu, nắm bắt khoảnh khắc để rồi anh viết ra những câu thơ hay. Gặp gỡ anh thường xuyên, có khi đi công tác cùng anh, những buổi gặp gỡ bạn bè trên mọi miền đất nước, anh đọc thơ. Lạ, rất nhiều người sợ nghe thơ, nhưng bằng giọng đọc thơ của chính mình, Uy đã lôi kéo người nghe. Và bài thơ tôi nghe nhiều nhất trong những chuyến đi: “Trong ngực em/Như có tiếng ngựa phi/Anh lồng lên như ngựa phi nước đại/Gặp tuổi tròn trăng chớm thì con gái/Ngã vào vai anh em hát: “Sờ một tí đi tù/Sờ hai tí đi tù/Sờ ba tí đi tù chung thân.” (Ái Lả).

Với anh em văn nghệ sĩ Khánh Hòa, Trần Chấn Uy là gương mặt nổi bật. Sinh ra ở Hà Tĩnh, nhưng gần 50 năm sống và làm việc tại Nha Trang, anh tự nhận mình đã “thành người Nha Trang”.  Sinh năm 1958 tại Hà Tĩnh, Trần Chấn Uy tốt nghiệp khoa Ngữ văn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội I, đi dạy học ở Trường Cao đẳng Sư phạm Nha Trang (1981–1990). Và khi ở Đài Phát thanh – Truyền hình Khánh Hòa, giữ vai trò biên kịch, đạo diễn, rồi Phó Giám đốc Trung tâm sản xuất chương trình, anh đã thực hiện đúng vai trò của nhà thơ và nhà báo.

Là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Chi hội trưởng Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Nha Trang – Khánh Hòa, Ủy viên Ban Chấp hành Hội Văn học Nghệ thuật Khánh Hòa. Gia tài thơ của Trần Chấn Uy khá dày dặn, trải dài: Tình ca hát một mình (1990); Chân trời khát (1996); Trăng lạnh xứ người (2003); Giấc ngủ khuyết vầng trăng (2005); Bên dòng sông đa tình (2012); Bóng làng (2018); Người về từ nẻo cỏ may (2022)..Trong năm 2021, anh được Giải 5 năm Văn học Khánh Hòa cùng rất nhiều giải thơ khác.

 

Tập thơ của nhà thơ Trần Chấn Uy

 

Thơ ông không cầu kỳ về hình thức, nhưng giàu cảm xúc và mang một giọng điệu riêng: vừa hào sảng, vừa lắng sâu, vừa từng trải mà vẫn thiết tha. Có thể thấy rõ điều đó qua những câu thơ như một tiếng thở dài của ký ức:“Quen lối cũ, bước chân ngập ngừng lắm/Cây si già trước ngõ bỗng rưng rưng/Ta đã đánh mất một thời say đắm/Để bây giờ anh hóa người dưng” . Ở đây,  trong sâu thẳm, thơ chính ở chỗ dám đối diện với mất mát, dám gọi tên những đổ vỡ của chính mình.

Trần Chấn Uy làm thơ tình nhiều, và đó cũng là nơi thơ ông chạm đến trái tim người đọc rõ rệt nhất. Những mối tình trong thơ ông không ồn ào, mà âm ỉ, day dứt: “Vẫn biết con đường em đi không có anh/Mùa lá rụng, em cùng ai dạo phố…” Hay:“Ta biết rồi em sẽ sang đò?/Trái tim rỉ máu sẽ mang cho…”(Ta về châm lửa bài thơ ấy)

Là người từng đi qua chiến tranh, thơ Trần Chấn Uy còn mang một chiều sâu khác: ký ức và mất mát. “Sau chiến tranh, tôi tới Sài Gòn/Giữa bát ngát phố phường và điệp trùng cao ốc/ Giữa những con đường bóng loáng bánh xe bon/Nơi nào cha tôi ngã xuống sau dãy tường đổ nát?/Tôi cắn răng nghe môi mình mặn chát/Những viên gạch lát đường run rẩy dẫn tôi qua” (Nơi nào cha tôi ngã xuống).

Ông nhìn về cuộc đời: “Đêm muộn, sương ướt áo/Tóc bạc thêm mấy phần/Cuộc đời như mộng ảo/ Xa vời bóng cố nhân”. (Vầng trăng trong đáy chén)

Những câu thơ không tô vẽ, không bi lụy, nhưng lại ám ảnh bởi sự thật đến nao lòng. “Chị đi lính khi chưa kịp lấy chồng/Vồng ngực trẻ bánh giầy chúm chím/ Mùa chớm xuân chị cũng vừa chớm chín/Áo Tô Châu run rẩy trái đào non/Tôi tiễn chị nơi bờ cỏ chân cồn/Cánh đồng làng sáng ấy bỗng xanh hơn/Chị lặng lẽ nhìn tôi lặng lẽ/Hàng mi cong khẽ chớp một ánh buồn.” (Chị) Những câu thơ thật sự buốt lòng: ”Vồng ngực trẻ bánh giầy chúm chím”, và có lẽ chỉ Trần Chấn Uy mới viết ra những vần thơ như vậy.

Khi đã rời công việc quản lý, Trần Chấn Uy có nhiều thời gian hơn cho những chuyến đi. Và thơ ông, theo đó, mang dấu ấn của những cuộc hành trình. Có khi là một thoáng buồn rất nhẹ: “Đêm muộn, sương ướt áo/Tóc bạc thêm mấy phần…” Có khi lại là sự tinh nghịch, phóng túng: “Với tay về phía hư không/Vốc đầy nắm gió bỏ chồng đi hoang”

Ở ông, cái hào sảng không chỉ là khí chất, mà còn là cách sống: sống hết mình, yêu hết mình, và viết cũng hết mình. Và đây: “Vô tình tên của phố phường/Tạm Thương – thương tạm, con đường ngày xưa/Nơi ta từng đợi cơn mưa/Chờ em suốt cả bốn mùa, chờ em./ Nơi người thao thức đêm đêm/ Lắng nghe nhịp bước bên thềm, người đi.” (Gặp nhau ở ngõ Tạm Thương)

Thơ Trần Chấn Uy chinh phục người đọc bằng cảm xúc thật và một nhân cách thơ rõ ràng. Thơ ông là tiếng lòng của một người dám sống, dám yêu, dám đau. Và chính điều đó khiến thơ ông còn ở lại lâu trong lòng người đọc.

K.V.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm