TIN TỨC

Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-04-22 08:17:41
mail facebook google pos stwis
726 lượt xem

KHUÊ VIỆT TRƯỜNG

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.

 

Nhà thơ Trần Chấn Uy

 

Trần Chấn Uy làm thơ như một nhu cầu, nắm bắt khoảnh khắc để rồi anh viết ra những câu thơ hay. Gặp gỡ anh thường xuyên, có khi đi công tác cùng anh, những buổi gặp gỡ bạn bè trên mọi miền đất nước, anh đọc thơ. Lạ, rất nhiều người sợ nghe thơ, nhưng bằng giọng đọc thơ của chính mình, Uy đã lôi kéo người nghe. Và bài thơ tôi nghe nhiều nhất trong những chuyến đi: “Trong ngực em/Như có tiếng ngựa phi/Anh lồng lên như ngựa phi nước đại/Gặp tuổi tròn trăng chớm thì con gái/Ngã vào vai anh em hát: “Sờ một tí đi tù/Sờ hai tí đi tù/Sờ ba tí đi tù chung thân.” (Ái Lả).

Với anh em văn nghệ sĩ Khánh Hòa, Trần Chấn Uy là gương mặt nổi bật. Sinh ra ở Hà Tĩnh, nhưng gần 50 năm sống và làm việc tại Nha Trang, anh tự nhận mình đã “thành người Nha Trang”.  Sinh năm 1958 tại Hà Tĩnh, Trần Chấn Uy tốt nghiệp khoa Ngữ văn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội I, đi dạy học ở Trường Cao đẳng Sư phạm Nha Trang (1981–1990). Và khi ở Đài Phát thanh – Truyền hình Khánh Hòa, giữ vai trò biên kịch, đạo diễn, rồi Phó Giám đốc Trung tâm sản xuất chương trình, anh đã thực hiện đúng vai trò của nhà thơ và nhà báo.

Là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Chi hội trưởng Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Nha Trang – Khánh Hòa, Ủy viên Ban Chấp hành Hội Văn học Nghệ thuật Khánh Hòa. Gia tài thơ của Trần Chấn Uy khá dày dặn, trải dài: Tình ca hát một mình (1990); Chân trời khát (1996); Trăng lạnh xứ người (2003); Giấc ngủ khuyết vầng trăng (2005); Bên dòng sông đa tình (2012); Bóng làng (2018); Người về từ nẻo cỏ may (2022)..Trong năm 2021, anh được Giải 5 năm Văn học Khánh Hòa cùng rất nhiều giải thơ khác.

 

Tập thơ của nhà thơ Trần Chấn Uy

 

Thơ ông không cầu kỳ về hình thức, nhưng giàu cảm xúc và mang một giọng điệu riêng: vừa hào sảng, vừa lắng sâu, vừa từng trải mà vẫn thiết tha. Có thể thấy rõ điều đó qua những câu thơ như một tiếng thở dài của ký ức:“Quen lối cũ, bước chân ngập ngừng lắm/Cây si già trước ngõ bỗng rưng rưng/Ta đã đánh mất một thời say đắm/Để bây giờ anh hóa người dưng” . Ở đây,  trong sâu thẳm, thơ chính ở chỗ dám đối diện với mất mát, dám gọi tên những đổ vỡ của chính mình.

Trần Chấn Uy làm thơ tình nhiều, và đó cũng là nơi thơ ông chạm đến trái tim người đọc rõ rệt nhất. Những mối tình trong thơ ông không ồn ào, mà âm ỉ, day dứt: “Vẫn biết con đường em đi không có anh/Mùa lá rụng, em cùng ai dạo phố…” Hay:“Ta biết rồi em sẽ sang đò?/Trái tim rỉ máu sẽ mang cho…”(Ta về châm lửa bài thơ ấy)

Là người từng đi qua chiến tranh, thơ Trần Chấn Uy còn mang một chiều sâu khác: ký ức và mất mát. “Sau chiến tranh, tôi tới Sài Gòn/Giữa bát ngát phố phường và điệp trùng cao ốc/ Giữa những con đường bóng loáng bánh xe bon/Nơi nào cha tôi ngã xuống sau dãy tường đổ nát?/Tôi cắn răng nghe môi mình mặn chát/Những viên gạch lát đường run rẩy dẫn tôi qua” (Nơi nào cha tôi ngã xuống).

Ông nhìn về cuộc đời: “Đêm muộn, sương ướt áo/Tóc bạc thêm mấy phần/Cuộc đời như mộng ảo/ Xa vời bóng cố nhân”. (Vầng trăng trong đáy chén)

Những câu thơ không tô vẽ, không bi lụy, nhưng lại ám ảnh bởi sự thật đến nao lòng. “Chị đi lính khi chưa kịp lấy chồng/Vồng ngực trẻ bánh giầy chúm chím/ Mùa chớm xuân chị cũng vừa chớm chín/Áo Tô Châu run rẩy trái đào non/Tôi tiễn chị nơi bờ cỏ chân cồn/Cánh đồng làng sáng ấy bỗng xanh hơn/Chị lặng lẽ nhìn tôi lặng lẽ/Hàng mi cong khẽ chớp một ánh buồn.” (Chị) Những câu thơ thật sự buốt lòng: ”Vồng ngực trẻ bánh giầy chúm chím”, và có lẽ chỉ Trần Chấn Uy mới viết ra những vần thơ như vậy.

Khi đã rời công việc quản lý, Trần Chấn Uy có nhiều thời gian hơn cho những chuyến đi. Và thơ ông, theo đó, mang dấu ấn của những cuộc hành trình. Có khi là một thoáng buồn rất nhẹ: “Đêm muộn, sương ướt áo/Tóc bạc thêm mấy phần…” Có khi lại là sự tinh nghịch, phóng túng: “Với tay về phía hư không/Vốc đầy nắm gió bỏ chồng đi hoang”

Ở ông, cái hào sảng không chỉ là khí chất, mà còn là cách sống: sống hết mình, yêu hết mình, và viết cũng hết mình. Và đây: “Vô tình tên của phố phường/Tạm Thương – thương tạm, con đường ngày xưa/Nơi ta từng đợi cơn mưa/Chờ em suốt cả bốn mùa, chờ em./ Nơi người thao thức đêm đêm/ Lắng nghe nhịp bước bên thềm, người đi.” (Gặp nhau ở ngõ Tạm Thương)

Thơ Trần Chấn Uy chinh phục người đọc bằng cảm xúc thật và một nhân cách thơ rõ ràng. Thơ ông là tiếng lòng của một người dám sống, dám yêu, dám đau. Và chính điều đó khiến thơ ông còn ở lại lâu trong lòng người đọc.

K.V.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm