TIN TỨC

“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-04-08 18:59:58
mail facebook google pos stwis
444 lượt xem

Sự ra đi đột ngột của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu khiến nhiều bạn đọc bàng hoàng, như vừa khép lại một giọng thơ đi qua chiến tranh mà vẫn giữ được độ ấm của tình người. Từ những năm tháng trận mạc đến đời sống hậu chiến, thơ ông luôn bền bỉ “gieo hạt” vào lòng người đọc. Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ ấy – giản dị mà sâu, lặng mà bền.
 

ĐẶNG BÁ TIẾN
(Nhân đọc “Nguyễn Đức Mậu tuyển tập thơ”
& “Nguyễn Đức Mậu tuyển tập trường ca” NXB.Hội Nhà văn, 12/2023)

Những năm 1969,1970, tôi đã được đọc thơ của Nguyễn Đức Mậu trong mục “Thơ Bộ đội” của báo Nhân Dân, nhờ ông chú làm bưu tá xã. Trước khi đưa báo phát cho các tổ chức, đoàn thể trong xã, ông thường cho tôi tranh thủ đọc trước. Ngay từ ngày ấy, tôi đã yêu mến thơ Nguyễn Đức Mậu, bởi hình ảnh chiến trường với cuộc sống gian khổ, hiểm nguy nhưng đầy lòng quả cảm của những người lính khi đối mặt với kẻ thù, được anh thể hiện bằng những câu thơ giản dị, nhưng đầy cảm xúc, khiến người đọc xúc động: “Người binh nhất ngồi trong hố cá nhân/ Mồm nhai lương khô/ Mắt dần khép lại/ Anh vừa ăn vừa ngủ”; hay “Người nằm nghiêng súng cũng nằm nghiêng/ Người ngủ ngồi súng ôm ghì trước ngực”.

Đến năm 1971, được đọc bài thơ “Nấm mộ và cây trầm” của anh in trên Tạp chí Tác phẩm mới của Hội Nhà văn Việt Nam, thì lòng cảm mến trong tôi đối với thơ Nguyễn Đức Mậu đã chuyển thành cảm phục, cảm phục trước một tầm vóc thơ, cao về nồng độ cảm xúc, sâu về nghệ thuật và tư tưởng. Bài thơ viết về một lần anh cùng đồng đội khiêng xác một người bạn (hy sinh trong trận đánh ở chiến trường Lào) đi mai táng. Nỗi bi thương lớn đã cho anh một cảm xúc lớn và một tứ thơ độc đáo, nhờ đó mà “Nấm mộ và cây trầm” sống mãi với thời gian: “Đất đắp mộ Hùng bom trộn lẫn/ Cây trầm cháy dở thay nén nhang/ Cây trầm cháy rồi hương cứ thơm/... /Đất Hùng nằm bom đạn đào trơ/ Ngày hoa nở đêm ngời sao tỏ/ Tấm biển gỗ trên mộ người chiến sĩ/ Thành bàn tay chỉ hướng quân thù”. Chính từ bài thơ này và chùm thơ đoạt giải nhất báo Văn Nghệ (Hội Nhà văn Việt Nam) năm 1972 - 1973, anh được giới phê bình văn học bắt đầu chú ý. Từ đó, thơ anh càng có tầm lan tỏa lớn và trở thành một trong những nhà thơ tiêu biểu của thế hệ các nhà thơ thời kỳ chống Mỹ cứu nước (cùng với Phạm Tiến Duật, Hữu Thỉnh, Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Duy, Thanh Thảo, Hoàng Nhuận Cầm, Vương Trọng, Phạm Ngọc Cảnh...).

Sau giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (1975) Nguyễn Đức Mậu tiếp tục cho ra đời một loạt tập thơ, trường ca, như Áo trận (1976), Mưa trong rừng cháy (1976), Trường ca Sư đoàn (1980), Bão và sau bão (1994), Cánh rừng nhiều đom đóm bay (1998), Mở bàn tay gặp núi (2008), Thơ trong lòng cuộc chiến (2010)... Lấy hiện thực chiến trường và cuộc sống xã hội làm bối cảnh, nhen nhóm và bùng nổ cảm xúc từ những gì bản thân đã trải nghiệm qua nhiều chiến trường khốc liệt, qua nhiều cảnh ngộ của xã hội mà anh đã suy nghĩ sâu sắc và sống hết mình với nó; với lối viết đặc tả cảnh huống thật, hình ảnh thơ sắc nét, Nguyễn Đức Mậu đã cho ra đời “hàng ngàn câu thơ trận mạc” (ý kiến của nhà thơ Nguyễn Hữu Quý) và hàng trăm bài thơ thế sự, trữ tình khiến người đọc xúc động đến nhói lòng, hoặc xót xa đến khó ngủ. Đó cũng là phong cách thơ bền bỉ của Nguyễn Đức Mậu. Một phong cách thơ được tôi luyện bởi rất nhiều mồ hôi, nước mắt, máu xương trên những dặm dài chiến trận và được vun đắp nuôi dưỡng qua rất nhiều buồn vui ấm lạnh của cuộc đời.

Anh viết về người chiến sĩ chết khát trong cánh rừng mùa khô: “Chiếc bi đông nằm im lìm mặt đá/ Nằm im lìm bên dòng suối cạn khô/ Tôi tìm thấy tên người chết khát/ Con chữ thân yêu vết khắc chưa mờ”. Anh viết về tình cảnh chiến sĩ bị đói trong rừng già: “Tổ ba người chung một căn hầm/ Chung cái đói trũng sâu quầng mắt/ Đêm giá lạnh núi gầy, trăng nhạt/ Cái dạ dày không để chúng tôi yên”. Anh viết về sự khốc liệt, tình huống éo le của những trận chiến: “Bầy chuột đêm tìm ăn/ Vô tư theo kiểu chuột/ Tiếng rúc rích lại gần/ Vỏ ống bơ, đồ hộp/ Chúng gặm cả mũi giày/ Năm mươi ngày ngập nước/ Chúng gặm vai áo rách/ Năm mươi ngày dầm mưa/ Chúng gặm lên thịt da/ Có vết thương mưng mủ/ Người lính nằm đợi thù/...bên xác người đã khuất/... Họ lật xác thù/ Tìm nước uống, lương khô”. Những câu thơ tự sự, tả thực, giản dị nhưng nó dựng lên hiển hiện trước mắt người đọc một cảnh tượng khốc liệt, gian khổ đến tột cùng của bộ đội ta. Đọc những dòng thơ này con cháu chúng ta sẽ không bao giờ quên được sự hy sinh gian khổ của cha ông trong kháng chiến chống quân xâm lược, giành độc lập, tự do cho đất nước, nhân dân.

Sau giải phóng miền Nam, đất nước thống nhất, nhưng xã hội còn bao điều ngổn ngang, bức bối. Thực tế đó dội vào lòng Nguyễn Đức Mậu, khiến có lúc câu thơ của ông buộc ta phải suy ngẫm, băn khoăn: “Xa quê biền biệt tháng ngày/ Ngủ rừng, ngủ phố, đêm nay ngủ nhà/ Mọt kêu rờn rợn thịt da/ Tiếng vô tri cũng khiến ta chạnh lòng”. Hay anh mượn tâm sự của một vị tướng về hưu để nói hộ lòng mình và bao người lính khi trở về đời thường: “Huân chương xếp vào góc tủ/ Nay hàm tướng tá làm chi/ Tuổi già công danh xem nhẹ/Cuộc đời như nước trôi đi”. Nhưng vút lên bay bổng trong anh vẫn là giọng thơ chủ đạo tràn đầy niềm tin về về sự phát triển của đất nước, về một xã hội tốt đẹp, thanh bình. Đọc bài thơ Đàn bò vàng trên đồng cỏ hoàng hôn: “Tiếng mõ rơi, tiếng mõ rơi đều/ cả đồng cỏ lút vào khoảng tối/ như vẫn còn rung nhịp mõ kêu/ Có một kẻ đi sau người chăn bò mê mải/ túi áo gói đầy hương cỏ thơm/ trái tim đựng đầy tiếng sáo và tiếng mõ/ Đôi mắt đong đầy giàn giụa suối trăng non”, ta không chỉ thấy được bức tranh đẹp, thanh bình của một vùng quê mà còn thấy được một tâm hồn khoáng đạt, tươi đẹp, trong trẻo của anh - một người thơ bền bỉ, giàu cảm xúc, đẫm văn hóa Việt, hồn Việt, rất gần gũi với người đọc.

Cho đến cuối năm 2023, anh đã cho xuất bản 16 tập thơ và trường ca, 5 tập văn xuôi (bao gồm truyện ngắn, tiểu thuyết, phê bình tiểu luận). Hai cuốn tuyển tập lần này có độ dày gần 500 trang mỗi cuốn, đủ nói lên gia tài văn chương giàu có của anh.

Bằng tài năng và sự đóng góp to lớn cho thơ ca nước nhà, anh đã nhận được nhiều giải thưởng văn chương danh giá trong nước và ngoài nước: Giải nhất Báo Văn Nghệ (1972-1973), ba giải thưởng của Hội Nhà văn (1993,1996, 1999), ba giải thưởng của Bộ Quốc phòng (1989, 1994, 2004), giải A của Liên hiệp VHNT Việt Nam (2004), giải thưởng ASEAN (2001), giải thưởng Nhà nước về VHNT (2001)...

Dù nay đã U80, nhưng nhà thơ vẫn sống nhiệt huyết và tiếp tục “gieo những con chữ” mang niềm vui đến cho người đời như một bài thơ ông viết: “Những con chữ mẩy vàng hạt giống/ Gieo tơ non trên trang giấy cánh đồng/.../ Những con chữ như bầy ong xao động/ Chúng bay đi tìm đến trái tim người”.

Nguồn: FB Đặng Bá Tiến.



Bài viết liên quan

Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm