TIN TỨC

Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-04-23 10:55:19
mail facebook google pos stwis
491 lượt xem

NGUYỄN VŨ QUỲNH

(Tham luận đọc tại cuộc tọa đàm thơ DỌC TRỜI HOA LỬA của Lương Minh Cừ)

Rất vui khi nhận được tập thơ DỌC TRỜI HOA LỬA của Nhà thơ Lương Minh Cừ qua Nhà thơ Lê Thiếu Nhơn mang đến gửi tôi. Đây là món quà thơ đầu xuân Bính Ngọ dày dặn mà anh giải phóng quân – Cựu chiến binh Lương Minh Cừ thai nghén sinh ra từ những năm 70 thế kỷ 20 cho tới bây giờ, và thơ Lương Minh Cừ đang độ xuân thì dù anh đã bước sang mùa xuân thứ bảy mươi lăm rồi.

Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.

Đọc 54 bài thơ trong tập thơ này, tôi thấy có đến 34 bài như tác giả nói đó là: Những bài thơ còn sót lại trong đáy ba lô, tứ tán khắp nơi mà dần dần mới tìm ra và sao chép lại. May cho anh vì đó là hồn cốt của DỌC TRỜI HOA LỬA. Người lính Lương Minh Cừ gác bút, cầm súng đánh giặc mà câu thơ cứ ngân nga dịu vợi, tạo ra cái chất anh hùng ca nhân văn cuộc đời và tình yêu. Từ làng quê Thái Bình ở Đồng bằng Bắc bộ, cùng đồng đội vượt Trường Sơn đến với chiến trường Nam bộ, cái chất thơ con trai đồng bằng trong từng bài thơ vẫn cứ bay bổng lâng lâng, hiển hiện như cánh cò đồng nội mênh mông.

Bình minh ở đây đẹp như phim màu
Với bầu trời cao trong xanh vời vợi
Và sáng nay trong làn nắng mới
Có những sư đoàn xuất kích trước bình minh

(Bình minh biên giới)

Thế mới lạ, ở cái chốn gai góc ấy, trước lúc ra trận mà vẫn lạc quan tinh tế lạ thường. Từ lúc hành quân đến khi vào sát ngay bốt đồn địch, nhà binh Lương Minh Cừ bình tĩnh lạ thường và người chiến sĩ ấy đã bắt gặp ánh mắt từ trái tim thiếu nữ, tạo nên những áng thơ bật dậy mà xốn xang con tim:

Em gái ra bìa rừng đón chúng tôi
Em không nói vì nhà kề bên bốt giặc
Không nói được bằng lời thì nói bằng ánh mắt
Đôi mắt em như một ngọn đèn

(Trái tim ngọn đèn)

Quả là một sự tinh tế lạ thường. Câu thơ anh trong ánh mắt cô giao liên sáng lên như một ngọn đèn dẫn đường vượt qua sống chết mong manh. Chính trong sự im lặng ấy, hơi nóng trái tim đã muốn nói thay lời, lý trí trong tâm can đã bật ra trong tiếng thơ:

Nghĩ gì mà cứ lạ lùng mãi thế hả em
Điều khó hiểu là điều đơn giản nhất
Giữa cuộc chiến tranh này, em đã cho chúng tôi hiểu về tình yêu của đất
Hơi nóng trái tim đã nói thay lời.

(Trái tim ngọn đèn)

Chính trong ánh mắt ấy – đó là tín hiệu của sự sống đang tỏa ra từ những trái tim ấm áp. Câu thơ của người lính đã dội vào tâm trí con người ra trận, bởi ánh mắt long lanh, cùng sự nóng hổi của con tim đang thay lời muốn nói:

Sau trận chống càn bỗng gặp lại em
Nỗi mừng vui cứ ùa về bất chợt
Giữa ánh lửa chập chờn, mắt em long lanh như giọt nước
Bờ vai tròn, khẩu súng cứ xoay nghiêng

(Sau trận càn và cô du kích)

Phút nghỉ ngơi giữa hai đầu trận đánh vẫn trong vùng máu lửa, đôi mắt con gái cứ làm xốn xang bao rung cảm, bồi hồi mà thầm kín đến lạ trước người lính trẻ, trong khi em: "Bờ vai tròn khẩu súng cứ xoay nghiêng". Ở khổ thơ này xảy ra hai tình huống: Tại sao khẩu súng không cầm lên với tư thế sẵn sàng chiến đấu hay hướng nòng súng xuống đất mà khẩu súng cứ xoay nghiêng? Một sự vân vê tinh tế của người con gái đã tạo ra cảm xúc câu thơ: "Bờ vai tròn khẩu súng cứ xoay nghiêng". Chính câu thơ ấy đã tạo nên cái đỉnh của bài thơ đẹp. Cũng từ cái phút chốc lạ lùng ấy, anh đã nhận ra:

Trong nồng nàn hương rạ đồng khô
Nghe rất nhỏ có tiếng cười khúc khích
Thì ra người vừa bắn vào đồn địch
Lại là em nữ du kích Đức Hòa

(Đêm pháo kích Đức Hòa)

Câu thơ rất thật nhưng ý tứ bật ra sự cảm phục những người con gái đồng bằng sông Cửu Long bình dị. Lẽ bình thường ấy lại là cô du kích Đức Hòa:

Em như ngôi sao xanh
Sáng giữa bầu trời dọc ngang chớp giật
Em dẫn chúng tôi vượt qua đồn giặc
Ngôi sao xòe chỉ hướng tiền phương.

(Cô gái giao liên)

Một sự liên tưởng đẹp, không phải ngôi sao đỏ, sao vàng mà ngôi sao xanh dịu vợi trong màn đêm của những ngày tháng khốc liệt, giữa sống chết mong manh vẫn tin vào sự sống. Bản lĩnh và ý chí của người cầm súng vẫn vững niềm tin trong những vần thơ đẹp, mặc dù:

Pháo giặc bắn cầm canh tiếng nổ ném vào đêm sâu
Tắt đi rất nhanh trong hương đồng gió nội

Dù trong hoàn cảnh của pháo gầm đạn xé, sự chuyển tiếp ý tứ trong cái nhìn thực tế của chiến trường đã thể hiện ý chí sâu sắc của bản lĩnh trong tư thế của người vào trận. Câu thơ của người lính như dặn lòng mình bình tĩnh trước gian nguy. Bài thơ Đêm như một minh chứng, triết lý nhân văn. Sự sống chiến trường với tiếng thơ từ mặt trận vụt lên bởi khẩu súng trong tay biết nói, tạo nên vần thơ hay:

Chúng tôi ít lời vì khẩu súng trong tay biết nói
Vì cuộc chiến tranh đâu chỉ mới bắt đầu

(Đêm)

Điều đặc biệt trong thơ Lương Minh Cừ thời kì chiến tranh đầy cam go ác liệt ấy, hình ảnh người con gái luôn luôn là hình ảnh đẹp, là chan chứa yêu thương. Đọc qua tập thơ Dọc trời hoa lửa ta dễ nhận ra tình cảm dành cho phái nữ chiếm rất nhiều trong tập thơ này. Đây nhé, xin dẫn hai khổ thơ ở bài thơ tình thứ nhất, trong nhiều bài thơ tình, người lính từ năm 1972 đã viết:

Yêu mà không cần nói
Có phải vậy không em
Anh tin cây thốt nốt
Hiểu được lời con tim

…và rồi:

Tóc thề em xõa rũ
Vòm ngực tròn thơ ngây
Hàng mi dài cong chớp
Đưa anh về chân mây

Và ở giảng đường hôm nay trong giờ phút này, nơi đây có nhiều du học sinh trên đất nước Ăng Co đang theo học, các bạn đang có một người lính tình nguyện năm xưa bây giờ là thầy giáo hiệu trưởng Trường Đại học Cửu Long kính yêu của các bạn. Các bạn thân mến, năm xưa khi các bạn chưa sinh ra, Nhà giáo Lương Minh Cừ đã đến nước bạn cầm súng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc cho các bạn ở tỉnh Xoài Riêng, đã làm nên bài thơ tình đẹp của mối tình hữu nghị. Trong khổ kết bài thơ ở thời điểm đó mà viết như thế này thì táo bạo lắm vì những lý do tế nhị:

Ơi cô gái Khơmer
Một đời anh nhớ ấy
Vòm ngực em bỏng cháy
Xin gửi trái tim mình

(Bài thơ tình thứ nhất gửi Tha Ny)

Và rồi lời động viên nhắn gửi, mối tình phải đành đoạn chia tay khi đất nước của em đang chồng chất đau thương:

Bây giờ hãy lau nước mắt đi em
Cầm lấy súng đứng vào mặt trận
Lửa chính nghĩa đã cháy lên vô tận
Vào mùa này bên ấy đã sang khô

(Vào mùa này bên ấy...)

Tôi vẫn tâm đắc với bài thơ anh viết sau chiến tranh "Lời hát gửi về cây thùy dương" từ chiến trường biên giới Tây Ninh, lời tâm sự với người yêu trên xứ Bạch dương xa xôi khi người lính vẫn đang cầm súng trên chiến hào biên giới:

Đánh giặc xong rồi anh sẽ hát em nghe
Bài hát về cây thùy dương năm ấy
Những năm đại bác gầm, những cánh rừng lửa cháy
Thùy dương ơi anh sẽ đón em về

Giọng thơ mượt mà dịu vợi, tạo nên hình bóng người thương xa xôi trên đất khách quê người bằng những lời tâm tình qua cây thùy dương mà trái tim tuổi trẻ thầm nhắc: "Đánh giặc xong rồi anh sẽ hát em nghe". Câu thơ nghe sao mà xao xuyến bồi hồi.

Khi em biết nhìn về phía trước
Nơi có chùm sao yêu dấu của mình
Những chùm sao mở lối vào hạnh phúc
Không bất ngờ lại mọc giữa trái tim

(Chùm sao yêu dấu)

Khi biên giới chưa im tiếng súng, tiếng thơ Lương Minh Cừ gửi về nơi hậu phương "Ở nơi em bông lúa trổ hương thầm" sao mà xao xuyến vậy:

Ở biên giới này chúng tôi hành quân
Những mũi súng hướng chân trời mở cửa
Những mũi súng hóa thành tia chớp lửa
Ở nơi em bông lúa trổ hương thầm

Biên giới này giữa cuộc chiến tranh
Giữ Tổ quốc thiêng liêng, chúng tôi đánh giặc
Nên Vàm Cỏ vẫn ngàn năm xanh sắc
Ánh mắt em cười lấp lánh sắc phù sa

(Khúc hát mùa xuân)

Cả 54 bài thơ trong Dọc trời hoa lửa, anh viết về thời hoa lửa chiếm đến ba phần tư số bài thơ, bởi đó là phần hồn cốt tác phẩm của tháng năm tuổi trẻ. Ý chí, lý tưởng, ước mơ, hoài bão, tình yêu thương bắt đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ nơi chiến trận chắp cánh nên tình yêu những vần thơ, vững vàng niềm tin yêu dù trong hoàn cảnh nào.

Điều còn lại một phần trong tập thơ này, anh viết về những nơi anh đến với những cảm nhận đẹp, ấn tượng, nhưng nổi trội hơn cả vẫn là bài "Mùa xuân ở miền đất hát chèo và cây lúa" – Thái Bình quê anh. Ở miền quê luôn luôn nhung nhớ trong tâm trí anh, nơi tuổi thơ đẹp đẽ, nơi có Mẹ, Cha tạo nên con người Lương Minh Cừ – một nhân cách đẹp của thơ. Anh đã viết về quê chèo, quê lúa, quê anh mượt mà đằm thắm lắng sâu:

Phù sa sông Hồng nhuộm dây nón quai thao
Quai nón buộc lòng anh với bờ với bến
Mùa xuân về như lời ước hẹn
Em "sắp qua cầu" sao gõ nhịp "lưu không"

Quả là hay… và anh nhớ Mẹ:

Cứ đến mùa hoa nhãn trắng bờ đê
Những đàn ong tự bay về hút mật
Anh thương Mẹ ra đồng đi chân đất
Nắng rát mặt người, cái rét cắt thịt da

(Mùa xuân ở miền đất hát chèo và cây lúa)

Có tình thương nào thương hơn thế nữa không? Ở đây, càng đi xa, càng lớn lên thì tình yêu quê hương, gia đình, cha mẹ càng đong đầy nhung nhớ. Bài thơ càng đọc càng thấy yêu quê hơn, nơi quê anh "Tiếng trống năm ba mươi còn lay động đến bây giờ", nơi tiếng hát chèo "Em sắp qua cầu sao gõ nhịp lưu không" mà vang vọng tâm can, tạo nên tứ thơ sâu sắc mà đẹp hồn nhiên.

Những cảm nhận trên của riêng tôi với nhà thơ Lương Minh Cừ khi mạn phép bay ngang DỌC TRỜI HOA LỬA của anh. Đó là một sự ghi nhận trên văn đàn thi ca mà anh đã gặt hái thành công nhất. Xin cảm ơn Nhà thơ – Phó Giáo sư – Tiến sĩ Lương Minh Cừ đã cho chúng ta đi Dọc trời hoa lửa và cảm ơn quý vị trong niềm vui hôm nay.

Thành phố Hồ Chí Minh, 21/4/2026

N V Q

Bài viết liên quan

Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm