TIN TỨC

Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-04-23 10:55:19
mail facebook google pos stwis
839 lượt xem

NGUYỄN VŨ QUỲNH

(Tham luận đọc tại cuộc tọa đàm thơ DỌC TRỜI HOA LỬA của Lương Minh Cừ)

Rất vui khi nhận được tập thơ DỌC TRỜI HOA LỬA của Nhà thơ Lương Minh Cừ qua Nhà thơ Lê Thiếu Nhơn mang đến gửi tôi. Đây là món quà thơ đầu xuân Bính Ngọ dày dặn mà anh giải phóng quân – Cựu chiến binh Lương Minh Cừ thai nghén sinh ra từ những năm 70 thế kỷ 20 cho tới bây giờ, và thơ Lương Minh Cừ đang độ xuân thì dù anh đã bước sang mùa xuân thứ bảy mươi lăm rồi.

Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.

Đọc 54 bài thơ trong tập thơ này, tôi thấy có đến 34 bài như tác giả nói đó là: Những bài thơ còn sót lại trong đáy ba lô, tứ tán khắp nơi mà dần dần mới tìm ra và sao chép lại. May cho anh vì đó là hồn cốt của DỌC TRỜI HOA LỬA. Người lính Lương Minh Cừ gác bút, cầm súng đánh giặc mà câu thơ cứ ngân nga dịu vợi, tạo ra cái chất anh hùng ca nhân văn cuộc đời và tình yêu. Từ làng quê Thái Bình ở Đồng bằng Bắc bộ, cùng đồng đội vượt Trường Sơn đến với chiến trường Nam bộ, cái chất thơ con trai đồng bằng trong từng bài thơ vẫn cứ bay bổng lâng lâng, hiển hiện như cánh cò đồng nội mênh mông.

Bình minh ở đây đẹp như phim màu
Với bầu trời cao trong xanh vời vợi
Và sáng nay trong làn nắng mới
Có những sư đoàn xuất kích trước bình minh

(Bình minh biên giới)

Thế mới lạ, ở cái chốn gai góc ấy, trước lúc ra trận mà vẫn lạc quan tinh tế lạ thường. Từ lúc hành quân đến khi vào sát ngay bốt đồn địch, nhà binh Lương Minh Cừ bình tĩnh lạ thường và người chiến sĩ ấy đã bắt gặp ánh mắt từ trái tim thiếu nữ, tạo nên những áng thơ bật dậy mà xốn xang con tim:

Em gái ra bìa rừng đón chúng tôi
Em không nói vì nhà kề bên bốt giặc
Không nói được bằng lời thì nói bằng ánh mắt
Đôi mắt em như một ngọn đèn

(Trái tim ngọn đèn)

Quả là một sự tinh tế lạ thường. Câu thơ anh trong ánh mắt cô giao liên sáng lên như một ngọn đèn dẫn đường vượt qua sống chết mong manh. Chính trong sự im lặng ấy, hơi nóng trái tim đã muốn nói thay lời, lý trí trong tâm can đã bật ra trong tiếng thơ:

Nghĩ gì mà cứ lạ lùng mãi thế hả em
Điều khó hiểu là điều đơn giản nhất
Giữa cuộc chiến tranh này, em đã cho chúng tôi hiểu về tình yêu của đất
Hơi nóng trái tim đã nói thay lời.

(Trái tim ngọn đèn)

Chính trong ánh mắt ấy – đó là tín hiệu của sự sống đang tỏa ra từ những trái tim ấm áp. Câu thơ của người lính đã dội vào tâm trí con người ra trận, bởi ánh mắt long lanh, cùng sự nóng hổi của con tim đang thay lời muốn nói:

Sau trận chống càn bỗng gặp lại em
Nỗi mừng vui cứ ùa về bất chợt
Giữa ánh lửa chập chờn, mắt em long lanh như giọt nước
Bờ vai tròn, khẩu súng cứ xoay nghiêng

(Sau trận càn và cô du kích)

Phút nghỉ ngơi giữa hai đầu trận đánh vẫn trong vùng máu lửa, đôi mắt con gái cứ làm xốn xang bao rung cảm, bồi hồi mà thầm kín đến lạ trước người lính trẻ, trong khi em: "Bờ vai tròn khẩu súng cứ xoay nghiêng". Ở khổ thơ này xảy ra hai tình huống: Tại sao khẩu súng không cầm lên với tư thế sẵn sàng chiến đấu hay hướng nòng súng xuống đất mà khẩu súng cứ xoay nghiêng? Một sự vân vê tinh tế của người con gái đã tạo ra cảm xúc câu thơ: "Bờ vai tròn khẩu súng cứ xoay nghiêng". Chính câu thơ ấy đã tạo nên cái đỉnh của bài thơ đẹp. Cũng từ cái phút chốc lạ lùng ấy, anh đã nhận ra:

Trong nồng nàn hương rạ đồng khô
Nghe rất nhỏ có tiếng cười khúc khích
Thì ra người vừa bắn vào đồn địch
Lại là em nữ du kích Đức Hòa

(Đêm pháo kích Đức Hòa)

Câu thơ rất thật nhưng ý tứ bật ra sự cảm phục những người con gái đồng bằng sông Cửu Long bình dị. Lẽ bình thường ấy lại là cô du kích Đức Hòa:

Em như ngôi sao xanh
Sáng giữa bầu trời dọc ngang chớp giật
Em dẫn chúng tôi vượt qua đồn giặc
Ngôi sao xòe chỉ hướng tiền phương.

(Cô gái giao liên)

Một sự liên tưởng đẹp, không phải ngôi sao đỏ, sao vàng mà ngôi sao xanh dịu vợi trong màn đêm của những ngày tháng khốc liệt, giữa sống chết mong manh vẫn tin vào sự sống. Bản lĩnh và ý chí của người cầm súng vẫn vững niềm tin trong những vần thơ đẹp, mặc dù:

Pháo giặc bắn cầm canh tiếng nổ ném vào đêm sâu
Tắt đi rất nhanh trong hương đồng gió nội

Dù trong hoàn cảnh của pháo gầm đạn xé, sự chuyển tiếp ý tứ trong cái nhìn thực tế của chiến trường đã thể hiện ý chí sâu sắc của bản lĩnh trong tư thế của người vào trận. Câu thơ của người lính như dặn lòng mình bình tĩnh trước gian nguy. Bài thơ Đêm như một minh chứng, triết lý nhân văn. Sự sống chiến trường với tiếng thơ từ mặt trận vụt lên bởi khẩu súng trong tay biết nói, tạo nên vần thơ hay:

Chúng tôi ít lời vì khẩu súng trong tay biết nói
Vì cuộc chiến tranh đâu chỉ mới bắt đầu

(Đêm)

Điều đặc biệt trong thơ Lương Minh Cừ thời kì chiến tranh đầy cam go ác liệt ấy, hình ảnh người con gái luôn luôn là hình ảnh đẹp, là chan chứa yêu thương. Đọc qua tập thơ Dọc trời hoa lửa ta dễ nhận ra tình cảm dành cho phái nữ chiếm rất nhiều trong tập thơ này. Đây nhé, xin dẫn hai khổ thơ ở bài thơ tình thứ nhất, trong nhiều bài thơ tình, người lính từ năm 1972 đã viết:

Yêu mà không cần nói
Có phải vậy không em
Anh tin cây thốt nốt
Hiểu được lời con tim

…và rồi:

Tóc thề em xõa rũ
Vòm ngực tròn thơ ngây
Hàng mi dài cong chớp
Đưa anh về chân mây

Và ở giảng đường hôm nay trong giờ phút này, nơi đây có nhiều du học sinh trên đất nước Ăng Co đang theo học, các bạn đang có một người lính tình nguyện năm xưa bây giờ là thầy giáo hiệu trưởng Trường Đại học Cửu Long kính yêu của các bạn. Các bạn thân mến, năm xưa khi các bạn chưa sinh ra, Nhà giáo Lương Minh Cừ đã đến nước bạn cầm súng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc cho các bạn ở tỉnh Xoài Riêng, đã làm nên bài thơ tình đẹp của mối tình hữu nghị. Trong khổ kết bài thơ ở thời điểm đó mà viết như thế này thì táo bạo lắm vì những lý do tế nhị:

Ơi cô gái Khơmer
Một đời anh nhớ ấy
Vòm ngực em bỏng cháy
Xin gửi trái tim mình

(Bài thơ tình thứ nhất gửi Tha Ny)

Và rồi lời động viên nhắn gửi, mối tình phải đành đoạn chia tay khi đất nước của em đang chồng chất đau thương:

Bây giờ hãy lau nước mắt đi em
Cầm lấy súng đứng vào mặt trận
Lửa chính nghĩa đã cháy lên vô tận
Vào mùa này bên ấy đã sang khô

(Vào mùa này bên ấy...)

Tôi vẫn tâm đắc với bài thơ anh viết sau chiến tranh "Lời hát gửi về cây thùy dương" từ chiến trường biên giới Tây Ninh, lời tâm sự với người yêu trên xứ Bạch dương xa xôi khi người lính vẫn đang cầm súng trên chiến hào biên giới:

Đánh giặc xong rồi anh sẽ hát em nghe
Bài hát về cây thùy dương năm ấy
Những năm đại bác gầm, những cánh rừng lửa cháy
Thùy dương ơi anh sẽ đón em về

Giọng thơ mượt mà dịu vợi, tạo nên hình bóng người thương xa xôi trên đất khách quê người bằng những lời tâm tình qua cây thùy dương mà trái tim tuổi trẻ thầm nhắc: "Đánh giặc xong rồi anh sẽ hát em nghe". Câu thơ nghe sao mà xao xuyến bồi hồi.

Khi em biết nhìn về phía trước
Nơi có chùm sao yêu dấu của mình
Những chùm sao mở lối vào hạnh phúc
Không bất ngờ lại mọc giữa trái tim

(Chùm sao yêu dấu)

Khi biên giới chưa im tiếng súng, tiếng thơ Lương Minh Cừ gửi về nơi hậu phương "Ở nơi em bông lúa trổ hương thầm" sao mà xao xuyến vậy:

Ở biên giới này chúng tôi hành quân
Những mũi súng hướng chân trời mở cửa
Những mũi súng hóa thành tia chớp lửa
Ở nơi em bông lúa trổ hương thầm

Biên giới này giữa cuộc chiến tranh
Giữ Tổ quốc thiêng liêng, chúng tôi đánh giặc
Nên Vàm Cỏ vẫn ngàn năm xanh sắc
Ánh mắt em cười lấp lánh sắc phù sa

(Khúc hát mùa xuân)

Cả 54 bài thơ trong Dọc trời hoa lửa, anh viết về thời hoa lửa chiếm đến ba phần tư số bài thơ, bởi đó là phần hồn cốt tác phẩm của tháng năm tuổi trẻ. Ý chí, lý tưởng, ước mơ, hoài bão, tình yêu thương bắt đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ nơi chiến trận chắp cánh nên tình yêu những vần thơ, vững vàng niềm tin yêu dù trong hoàn cảnh nào.

Điều còn lại một phần trong tập thơ này, anh viết về những nơi anh đến với những cảm nhận đẹp, ấn tượng, nhưng nổi trội hơn cả vẫn là bài "Mùa xuân ở miền đất hát chèo và cây lúa" – Thái Bình quê anh. Ở miền quê luôn luôn nhung nhớ trong tâm trí anh, nơi tuổi thơ đẹp đẽ, nơi có Mẹ, Cha tạo nên con người Lương Minh Cừ – một nhân cách đẹp của thơ. Anh đã viết về quê chèo, quê lúa, quê anh mượt mà đằm thắm lắng sâu:

Phù sa sông Hồng nhuộm dây nón quai thao
Quai nón buộc lòng anh với bờ với bến
Mùa xuân về như lời ước hẹn
Em "sắp qua cầu" sao gõ nhịp "lưu không"

Quả là hay… và anh nhớ Mẹ:

Cứ đến mùa hoa nhãn trắng bờ đê
Những đàn ong tự bay về hút mật
Anh thương Mẹ ra đồng đi chân đất
Nắng rát mặt người, cái rét cắt thịt da

(Mùa xuân ở miền đất hát chèo và cây lúa)

Có tình thương nào thương hơn thế nữa không? Ở đây, càng đi xa, càng lớn lên thì tình yêu quê hương, gia đình, cha mẹ càng đong đầy nhung nhớ. Bài thơ càng đọc càng thấy yêu quê hơn, nơi quê anh "Tiếng trống năm ba mươi còn lay động đến bây giờ", nơi tiếng hát chèo "Em sắp qua cầu sao gõ nhịp lưu không" mà vang vọng tâm can, tạo nên tứ thơ sâu sắc mà đẹp hồn nhiên.

Những cảm nhận trên của riêng tôi với nhà thơ Lương Minh Cừ khi mạn phép bay ngang DỌC TRỜI HOA LỬA của anh. Đó là một sự ghi nhận trên văn đàn thi ca mà anh đã gặt hái thành công nhất. Xin cảm ơn Nhà thơ – Phó Giáo sư – Tiến sĩ Lương Minh Cừ đã cho chúng ta đi Dọc trời hoa lửa và cảm ơn quý vị trong niềm vui hôm nay.

Thành phố Hồ Chí Minh, 21/4/2026

N V Q

Bài viết liên quan

Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm