TIN TỨC

Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-04-23 10:55:19
mail facebook google pos stwis
37 lượt xem

NGUYỄN VŨ QUỲNH

(Tham luận đọc tại cuộc tọa đàm thơ DỌC TRỜI HOA LỬA của Lương Minh Cừ)

Rất vui khi nhận được tập thơ DỌC TRỜI HOA LỬA của Nhà thơ Lương Minh Cừ qua Nhà thơ Lê Thiếu Nhơn mang đến gửi tôi. Đây là món quà thơ đầu xuân Bính Ngọ dày dặn mà anh giải phóng quân – Cựu chiến binh Lương Minh Cừ thai nghén sinh ra từ những năm 70 thế kỷ 20 cho tới bây giờ, và thơ Lương Minh Cừ đang độ xuân thì dù anh đã bước sang mùa xuân thứ bảy mươi lăm rồi.

Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.

Đọc 54 bài thơ trong tập thơ này, tôi thấy có đến 34 bài như tác giả nói đó là: Những bài thơ còn sót lại trong đáy ba lô, tứ tán khắp nơi mà dần dần mới tìm ra và sao chép lại. May cho anh vì đó là hồn cốt của DỌC TRỜI HOA LỬA. Người lính Lương Minh Cừ gác bút, cầm súng đánh giặc mà câu thơ cứ ngân nga dịu vợi, tạo ra cái chất anh hùng ca nhân văn cuộc đời và tình yêu. Từ làng quê Thái Bình ở Đồng bằng Bắc bộ, cùng đồng đội vượt Trường Sơn đến với chiến trường Nam bộ, cái chất thơ con trai đồng bằng trong từng bài thơ vẫn cứ bay bổng lâng lâng, hiển hiện như cánh cò đồng nội mênh mông.

Bình minh ở đây đẹp như phim màu
Với bầu trời cao trong xanh vời vợi
Và sáng nay trong làn nắng mới
Có những sư đoàn xuất kích trước bình minh

(Bình minh biên giới)

Thế mới lạ, ở cái chốn gai góc ấy, trước lúc ra trận mà vẫn lạc quan tinh tế lạ thường. Từ lúc hành quân đến khi vào sát ngay bốt đồn địch, nhà binh Lương Minh Cừ bình tĩnh lạ thường và người chiến sĩ ấy đã bắt gặp ánh mắt từ trái tim thiếu nữ, tạo nên những áng thơ bật dậy mà xốn xang con tim:

Em gái ra bìa rừng đón chúng tôi
Em không nói vì nhà kề bên bốt giặc
Không nói được bằng lời thì nói bằng ánh mắt
Đôi mắt em như một ngọn đèn

(Trái tim ngọn đèn)

Quả là một sự tinh tế lạ thường. Câu thơ anh trong ánh mắt cô giao liên sáng lên như một ngọn đèn dẫn đường vượt qua sống chết mong manh. Chính trong sự im lặng ấy, hơi nóng trái tim đã muốn nói thay lời, lý trí trong tâm can đã bật ra trong tiếng thơ:

Nghĩ gì mà cứ lạ lùng mãi thế hả em
Điều khó hiểu là điều đơn giản nhất
Giữa cuộc chiến tranh này, em đã cho chúng tôi hiểu về tình yêu của đất
Hơi nóng trái tim đã nói thay lời.

(Trái tim ngọn đèn)

Chính trong ánh mắt ấy – đó là tín hiệu của sự sống đang tỏa ra từ những trái tim ấm áp. Câu thơ của người lính đã dội vào tâm trí con người ra trận, bởi ánh mắt long lanh, cùng sự nóng hổi của con tim đang thay lời muốn nói:

Sau trận chống càn bỗng gặp lại em
Nỗi mừng vui cứ ùa về bất chợt
Giữa ánh lửa chập chờn, mắt em long lanh như giọt nước
Bờ vai tròn, khẩu súng cứ xoay nghiêng

(Sau trận càn và cô du kích)

Phút nghỉ ngơi giữa hai đầu trận đánh vẫn trong vùng máu lửa, đôi mắt con gái cứ làm xốn xang bao rung cảm, bồi hồi mà thầm kín đến lạ trước người lính trẻ, trong khi em: "Bờ vai tròn khẩu súng cứ xoay nghiêng". Ở khổ thơ này xảy ra hai tình huống: Tại sao khẩu súng không cầm lên với tư thế sẵn sàng chiến đấu hay hướng nòng súng xuống đất mà khẩu súng cứ xoay nghiêng? Một sự vân vê tinh tế của người con gái đã tạo ra cảm xúc câu thơ: "Bờ vai tròn khẩu súng cứ xoay nghiêng". Chính câu thơ ấy đã tạo nên cái đỉnh của bài thơ đẹp. Cũng từ cái phút chốc lạ lùng ấy, anh đã nhận ra:

Trong nồng nàn hương rạ đồng khô
Nghe rất nhỏ có tiếng cười khúc khích
Thì ra người vừa bắn vào đồn địch
Lại là em nữ du kích Đức Hòa

(Đêm pháo kích Đức Hòa)

Câu thơ rất thật nhưng ý tứ bật ra sự cảm phục những người con gái đồng bằng sông Cửu Long bình dị. Lẽ bình thường ấy lại là cô du kích Đức Hòa:

Em như ngôi sao xanh
Sáng giữa bầu trời dọc ngang chớp giật
Em dẫn chúng tôi vượt qua đồn giặc
Ngôi sao xòe chỉ hướng tiền phương.

(Cô gái giao liên)

Một sự liên tưởng đẹp, không phải ngôi sao đỏ, sao vàng mà ngôi sao xanh dịu vợi trong màn đêm của những ngày tháng khốc liệt, giữa sống chết mong manh vẫn tin vào sự sống. Bản lĩnh và ý chí của người cầm súng vẫn vững niềm tin trong những vần thơ đẹp, mặc dù:

Pháo giặc bắn cầm canh tiếng nổ ném vào đêm sâu
Tắt đi rất nhanh trong hương đồng gió nội

Dù trong hoàn cảnh của pháo gầm đạn xé, sự chuyển tiếp ý tứ trong cái nhìn thực tế của chiến trường đã thể hiện ý chí sâu sắc của bản lĩnh trong tư thế của người vào trận. Câu thơ của người lính như dặn lòng mình bình tĩnh trước gian nguy. Bài thơ Đêm như một minh chứng, triết lý nhân văn. Sự sống chiến trường với tiếng thơ từ mặt trận vụt lên bởi khẩu súng trong tay biết nói, tạo nên vần thơ hay:

Chúng tôi ít lời vì khẩu súng trong tay biết nói
Vì cuộc chiến tranh đâu chỉ mới bắt đầu

(Đêm)

Điều đặc biệt trong thơ Lương Minh Cừ thời kì chiến tranh đầy cam go ác liệt ấy, hình ảnh người con gái luôn luôn là hình ảnh đẹp, là chan chứa yêu thương. Đọc qua tập thơ Dọc trời hoa lửa ta dễ nhận ra tình cảm dành cho phái nữ chiếm rất nhiều trong tập thơ này. Đây nhé, xin dẫn hai khổ thơ ở bài thơ tình thứ nhất, trong nhiều bài thơ tình, người lính từ năm 1972 đã viết:

Yêu mà không cần nói
Có phải vậy không em
Anh tin cây thốt nốt
Hiểu được lời con tim

…và rồi:

Tóc thề em xõa rũ
Vòm ngực tròn thơ ngây
Hàng mi dài cong chớp
Đưa anh về chân mây

Và ở giảng đường hôm nay trong giờ phút này, nơi đây có nhiều du học sinh trên đất nước Ăng Co đang theo học, các bạn đang có một người lính tình nguyện năm xưa bây giờ là thầy giáo hiệu trưởng Trường Đại học Cửu Long kính yêu của các bạn. Các bạn thân mến, năm xưa khi các bạn chưa sinh ra, Nhà giáo Lương Minh Cừ đã đến nước bạn cầm súng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc cho các bạn ở tỉnh Xoài Riêng, đã làm nên bài thơ tình đẹp của mối tình hữu nghị. Trong khổ kết bài thơ ở thời điểm đó mà viết như thế này thì táo bạo lắm vì những lý do tế nhị:

Ơi cô gái Khơmer
Một đời anh nhớ ấy
Vòm ngực em bỏng cháy
Xin gửi trái tim mình

(Bài thơ tình thứ nhất gửi Tha Ny)

Và rồi lời động viên nhắn gửi, mối tình phải đành đoạn chia tay khi đất nước của em đang chồng chất đau thương:

Bây giờ hãy lau nước mắt đi em
Cầm lấy súng đứng vào mặt trận
Lửa chính nghĩa đã cháy lên vô tận
Vào mùa này bên ấy đã sang khô

(Vào mùa này bên ấy...)

Tôi vẫn tâm đắc với bài thơ anh viết sau chiến tranh "Lời hát gửi về cây thùy dương" từ chiến trường biên giới Tây Ninh, lời tâm sự với người yêu trên xứ Bạch dương xa xôi khi người lính vẫn đang cầm súng trên chiến hào biên giới:

Đánh giặc xong rồi anh sẽ hát em nghe
Bài hát về cây thùy dương năm ấy
Những năm đại bác gầm, những cánh rừng lửa cháy
Thùy dương ơi anh sẽ đón em về

Giọng thơ mượt mà dịu vợi, tạo nên hình bóng người thương xa xôi trên đất khách quê người bằng những lời tâm tình qua cây thùy dương mà trái tim tuổi trẻ thầm nhắc: "Đánh giặc xong rồi anh sẽ hát em nghe". Câu thơ nghe sao mà xao xuyến bồi hồi.

Khi em biết nhìn về phía trước
Nơi có chùm sao yêu dấu của mình
Những chùm sao mở lối vào hạnh phúc
Không bất ngờ lại mọc giữa trái tim

(Chùm sao yêu dấu)

Khi biên giới chưa im tiếng súng, tiếng thơ Lương Minh Cừ gửi về nơi hậu phương "Ở nơi em bông lúa trổ hương thầm" sao mà xao xuyến vậy:

Ở biên giới này chúng tôi hành quân
Những mũi súng hướng chân trời mở cửa
Những mũi súng hóa thành tia chớp lửa
Ở nơi em bông lúa trổ hương thầm

Biên giới này giữa cuộc chiến tranh
Giữ Tổ quốc thiêng liêng, chúng tôi đánh giặc
Nên Vàm Cỏ vẫn ngàn năm xanh sắc
Ánh mắt em cười lấp lánh sắc phù sa

(Khúc hát mùa xuân)

Cả 54 bài thơ trong Dọc trời hoa lửa, anh viết về thời hoa lửa chiếm đến ba phần tư số bài thơ, bởi đó là phần hồn cốt tác phẩm của tháng năm tuổi trẻ. Ý chí, lý tưởng, ước mơ, hoài bão, tình yêu thương bắt đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ nơi chiến trận chắp cánh nên tình yêu những vần thơ, vững vàng niềm tin yêu dù trong hoàn cảnh nào.

Điều còn lại một phần trong tập thơ này, anh viết về những nơi anh đến với những cảm nhận đẹp, ấn tượng, nhưng nổi trội hơn cả vẫn là bài "Mùa xuân ở miền đất hát chèo và cây lúa" – Thái Bình quê anh. Ở miền quê luôn luôn nhung nhớ trong tâm trí anh, nơi tuổi thơ đẹp đẽ, nơi có Mẹ, Cha tạo nên con người Lương Minh Cừ – một nhân cách đẹp của thơ. Anh đã viết về quê chèo, quê lúa, quê anh mượt mà đằm thắm lắng sâu:

Phù sa sông Hồng nhuộm dây nón quai thao
Quai nón buộc lòng anh với bờ với bến
Mùa xuân về như lời ước hẹn
Em "sắp qua cầu" sao gõ nhịp "lưu không"

Quả là hay… và anh nhớ Mẹ:

Cứ đến mùa hoa nhãn trắng bờ đê
Những đàn ong tự bay về hút mật
Anh thương Mẹ ra đồng đi chân đất
Nắng rát mặt người, cái rét cắt thịt da

(Mùa xuân ở miền đất hát chèo và cây lúa)

Có tình thương nào thương hơn thế nữa không? Ở đây, càng đi xa, càng lớn lên thì tình yêu quê hương, gia đình, cha mẹ càng đong đầy nhung nhớ. Bài thơ càng đọc càng thấy yêu quê hơn, nơi quê anh "Tiếng trống năm ba mươi còn lay động đến bây giờ", nơi tiếng hát chèo "Em sắp qua cầu sao gõ nhịp lưu không" mà vang vọng tâm can, tạo nên tứ thơ sâu sắc mà đẹp hồn nhiên.

Những cảm nhận trên của riêng tôi với nhà thơ Lương Minh Cừ khi mạn phép bay ngang DỌC TRỜI HOA LỬA của anh. Đó là một sự ghi nhận trên văn đàn thi ca mà anh đã gặt hái thành công nhất. Xin cảm ơn Nhà thơ – Phó Giáo sư – Tiến sĩ Lương Minh Cừ đã cho chúng ta đi Dọc trời hoa lửa và cảm ơn quý vị trong niềm vui hôm nay.

Thành phố Hồ Chí Minh, 21/4/2026

N V Q

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm