TIN TỨC

Cảm thức sông Chanh

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-04-20 09:25:51
mail facebook google pos stwis
538 lượt xem

101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”. Bài viết của Nguyễn Thánh Ngã là một cách đọc giàu cảm xúc, gợi mở nhiều tầng liên tưởng về một thi giới tưởng nhẹ mà không hề đơn giản.
 

NGUYỄN THÁNH NGÃ

Mọi việc ở đời, nếu không có sáng tạo thì không có tiến bộ. Đây là câu nói rất hay, rất đáng suy ngẫm, trong đó có việc sáng tạo thi ca.

Đọc tập thơ “Sông Chanh” của nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo, tôi nhận ra điều đó. Dù Nguyễn Vĩnh Bảo muốn thử nghiệm lục bát, hay anh chọn thể thơ này làm niềm yêu thích sáng tác của anh, tôi vẫn nghĩ đây là một quyết định táo bạo và tiến bộ!

Bởi ai cũng biết, thơ lục bát truyền thống dễ làm mà khó hay! Nhưng đã nhúng tay vào thì phải làm cho ra hồn, còn không sẽ nhận được sự dè bỉu của bạn đọc. Con đường thi ca gập ghềnh, và đầy oan nghiệt, thị phi. Nếu anh dành nhiều tâm huyết để viết ra, mà không có tiếng nói, không có sự phản biện, dù tốt hay xấu, khen hay chê, đều sẽ chết yểu!

Thơ Nguyễn Vĩnh Bảo may mắn nhận được từ bạn bè, người yêu thơ, những tiếng nói trung thực, những sẻ chia chân tình, nên vừa phát hành đã có sự phản hồi tích cực.

Toàn bộ tập thơ là 101 đoản khúc (6 câu lục bát). Cái điệp khúc "Sông Chanh" cứ nhắc đi nhắc lại khiến người đọc nhập tâm, để rồi phải dừng lại với câu hỏi:

- "Vậy Sông Chanh là gì?"

Câu hỏi có vẻ vu vơ, nhưng trong sâu xa lại rất ẩn mật. Ai cũng có một dòng sông trong tâm thức, nó ray rứt, và lay động ký ức:

 "Sông Chanh nhuộm nắng mênh mông

 Mặn mòi từ thuở cha ông lấp bồi"...

Vậy là đã có một con sông Chanh hiện ra với vẻ đẹp mặn mòi, và một ký ức lấp bồi xưa cũ. Đến khúc thứ 2 thì Sông Chanh hé lộ:

  "Em đi biền biệt đã lâu

  Kim rơi đáy biển biết đâu mà tìm..."

Chắc chắn, đây là lý do làm cho sông Chanh sống lại trong hình tượng nghệ thuật thơ ca. Nếu Lê Huy Mậu trở về "úp mặt vào sông quê", thì sông Chanh của Nguyễn Vĩnh Bảo dịu nhẹ và tình tứ:

 "Ước gì trở lại tuổi thơ

 Cho tôi ôm cái dại khờ riêng em..."(9).

Một sông Lam úp mặt vào lòng mẹ. Một sông Chanh ôm cái dại khờ riêng em... Tôi dùng một góc đối chiếu nhỏ để thấy rằng, bất cứ con sông nào, chảy qua dòng nghệ thuật của ngôn từ, thì cái tôi trữ tình luôn hiện diện. Và chính dòng trôi bé nhỏ ấy, là món nợ tình quê mà anh phải trả bằng thơ:

 "Xóa dấu vết đêm ái ân

 Tôi như mắc nợ ngàn lần dòng trôi"

Sông Lam có một người mẹ quê tần tảo, sông Chanh thì có em - một người con gái quê mùa chỉ còn trong ký ức và nỗi nhớ. Nên sông Chanh chỉ là một cái cớ, một sợi dây liên tưởng tới mối tình thơ ngây thời nhỏ dại:

 "Đêm qua ai tắm sông Chanh

 Để cho con sóng chòng chành, khổ tôi

 Cái mùi thơm của xa xôi

 Bỗng dưng trở lại rối bời vào đêm

 Phím đàn loạn nhịp rung lên

 Bao nhiêu mê hoặc ướt mềm từng nhau..." (27)

Tôi cho rằng khúc thứ 27 là khúc thơ hay nhất trong tập. Có thể nó là cảm hứng trung tâm, để tất cả dồn nén đổ vào sáu câu thơ nhỏ, nhưng có độ bung xõa lớn. Hai câu đầu dành cho thị giác. Hai câu giữa dành cho khứu giác. Hai câu sau dành cho thính giác và xúc giác...

Vâng, chỉ với sáu câu, tác giả đã khéo léo hòa nhập vào bốn giác quan, ứng với bốn trần con người: sắc, thinh, hương và xúc giác. Không những thế, bài thơ còn là bức tranh "siêu thực" của một họa sĩ đại tài. Từng chữ, từng câu, gợi lên nét thẩm mỹ độc đáo, thi ảnh không còn là dung nhan mà đã tan chảy làm thành hồn thơ ám ảnh không nguôi. Nhất là cách dùng chữ tinh tế và đầy ẩn ý. Chữ "từng nhau" ở đây rất đắc địa, nó là một liên tưởng trong mạch cảm xúc tình yêu. Đến đây, tôi có thể tạm trả lời câu hỏi ban đầu: Sông Chanh của Nguyễn Vĩnh Bảo có thể là người con gái mang tên Chanh chăng?!

Vì con sông ấy luôn thể hiện:

 "Khách qua chưa kịp nhớ tên

 Con sông thèn thẹn bắt đền tương tư..."

Bằng phép tu từ, tác giả đã dùng biện pháp nhân hóa làm cho sông Chanh gần gủi hơn, và đáng yêu hơn, bổ sung cho ý kiến của tôi là gọi tên một Tình yêu!

Nguyễn Vĩnh Bảo là người tài hoa, khi anh dùng ngôn từ như nghệ thuật "dùng quân", biến hóa câu chữ qua từng thế trận "ma thuật"; không phải để đánh lừa người đọc, mà dành cho người đọc một khoảng lặng sáng tạo thông minh, để cuối cùng òa vỡ cùng chữ nghĩa đa tầng, đa chiều kích

Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo với vẻ ngoài hiền lành, dễ mến. Lâu nay thơ anh chọn sự im tiếng. Tập thơ ra đời là dịp cho ta khám phá tư duy thơ rất riêng của anh. Không ồn ào, không phô trương con chữ, nhưng cấu trúc thơ luôn có nền móng vững chắc:

 "Màu mây, màu đất, màu da

 Làng quê chạy dọc trong ta suốt đời"

Sao gọi là "chạy dọc"?

Chạy dọc chính là xương sống của một nền văn hóa lâu đời. Và nền văn hóa ấy, như cột xương sống giữ vững cốt cách của Nguyễn Vĩnh Bảo. Dù đi đâu, về đâu cũng luôn nhớ nơi chôn nhau cắt rốn, nơi có tình quê, tình đầu, tình người thơm thảo. Và bây giờ là thứ tình thơ bất diệt trong anh.

Tóm lại, từ "Ngẫu hứng sông quê" - Gởi người trong mơ - Ngược miền ký ức vv... cho đến Sông Chanh, thơ Nguyễn Vĩnh Bảo đã có dấu ấn. Và sông Chanh cũng như bao con sông khác, đang trên hành trình chảy ra biển lớn...

TP. HCM tháng 4 năm 2026

   N.T.N

Bài viết liên quan

Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm