TIN TỨC

Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-04-12 18:24:02
mail facebook google pos stwis
20 lượt xem

NGUYỄN VĂN LUYỆN

Nguyễn Khải là gương mặt lớn của văn xuôi Việt Nam hiện đại, ngòi bút được mệnh danh là "nhà văn của những vấn đề thế sự".

 

“Nếp nhà” của Nguyễn Khải không chỉ là một câu chuyện về gìn giữ gia phong, mà thực sự là áng văn chương giàu chất thơ và đậm tính nhân văn. Ảnh: ITN.

 

Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.

“Nếp nhà” là một truyện ngắn kết tinh trọn vẹn phong cách ấy của Nguyễn Khải trong giai đoạn sau năm 1975. Đọc “Nếp nhà”, người ta không chỉ thấy một bức tranh hiện thực về sự va đập giữa kinh tế thị trường và đạo đức truyền thống, mà còn cảm nhận được một luồng sinh khí ấm áp, một vẻ đẹp lấp lánh của văn hóa ứng xử.

Tác phẩm xứng đáng được coi là một “áng văn vời vợi chất thơ”, chất thơ không nằm ở vần điệu, mà toát lên từ cảnh sắc thiên nhiên, từ cốt cách con người và từ chính giọng văn tài hoa, uyên bác của tác giả.

 

Khúc giao hưởng của đất trời và lòng người

Chất thơ đầu tiên và dễ nhận thấy nhất trong “Nếp nhà” chính là bức tranh thiên nhiên và không gian Hà Nội vào xuân. Nguyễn Khải vốn là người quan sát tinh tế, ông không miêu tả dông dài mà chỉ cần vài nét chấm phá đã gợi lên được cái “hồn vía” của đất kinh kỳ.

Mùa Xuân trong trang văn Nguyễn Khải hiện lên với những đặc trưng không thể trộn lẫn: “Một chút lạnh trong hơi gió tạt qua mặt. Một chút mưa bụi bay lây rây như có như không”. Câu văn nhẹ tênh, gợi cảm giác mơ hồ, hư ảo của khí trời miền Bắc dịp đầu năm.

Cái “mưa bụi bay lây rây” ấy chính là chất xúc tác để làm mềm đi những góc cạnh sắc nhọn của đời sống đô thị, phủ lên phố phường một lớp màn sương khói lãng mạn. Trong không gian ấy, màu sắc và âm thanh cũng trở nên thi vị hơn. Mặc dù “trời hơi tối, mặt đường hơi sẫm” nhưng sự sống con người lại bừng tỉnh: “Mặt người và quần áo rét họ mặc cứ sáng bừng lên những mầu sắc tươi tắn”.

Đây là một phát hiện tinh tế mang đậm nhãn quan hội họa. Trên cái nền trầm mặc, cổ kính của phố xá rêu phong, con người hiện diện như những điểm sáng, tạo nên sức sống và niềm tin yêu cho mùa Xuân.

Không chỉ có hình ảnh, chất thơ của mùa Xuân Hà Nội còn được cảm nhận qua khứu giác và thính giác. Đó là “mùi son phấn và nước hoa bất chợt thoảng qua ở một góc phố”, gợi lên vẻ thanh lịch, kiêu sa của người Tràng An.

Đó là sự thay đổi trong âm sắc của tiếng nói cười: “Nói nhỏ đi, cười nhỏ hơn, ít nghe những câu chửi tục, những tiếng đệm tục”. Dường như, vẻ đẹp của thiên nhiên đã cảm hóa lòng người, khiến con người ta muốn sống đẹp hơn, cư xử nhẹ nhàng hơn để xứng đáng với mùa Xuân.

Đặc biệt, đoạn văn miêu tả buổi sáng sau đêm mưa là một đoạn văn xuôi giàu nhạc điệu như thơ: “Sáng ra tất cả đã ráo khô, mảnh sân trắng toát, hè nhà trắng toát, trời khô và lạnh. Cái lạnh của mùa Xuân thật dịu dàng, thở rất dễ, người rất nhẹ...”.

Những từ ngữ như “trắng toát”, “dịu dàng”, “người rất nhẹ” diễn tả trạng thái thanh lọc hoàn toàn của tâm hồn. Nhân vật “tôi” đạp xe giữa phố phường, cảm thấy “nhìn vào cái gì cũng đẹp”.

Chất thơ ở đây không chỉ là vẻ đẹp khách quan của ngoại cảnh, mà là sự giao hòa tuyệt đối giữa tâm hồn nghệ sĩ và thiên nhiên, là khoảnh khắc con người rũ bỏ mọi lo toan thế tục để tận hưởng sự bình yên hiếm hoi. Chính cái nền cảnh thơ mộng này đã làm tôn lên vẻ đẹp vững chãi, thâm trầm của “nếp nhà” mà tác giả sắp nói tới.

 

Bản lĩnh văn hóa trước dòng xoáy kim tiền

 

Nhà văn Nguyễn Khải. Ảnh: ITN

 

Nếu chất thơ của thiên nhiên là vẻ đẹp hữu hình, thì chất thơ của “nếp nhà” là vẻ đẹp vô hình, lẩn khuất trong nếp sống, nếp nghĩ, là sự “kháng cự” đầy kiêu hãnh của văn hóa trước sự xâm lăng của vật chất. Giữa một xã hội đang lên cơn sốt đất đai, khi ngôi nhà mặt phố nhìn ra hồ Hoàn Kiếm được định giá “triệu đô”, sự tồn tại của gia đình bà cô là một hiện tượng lạ, thậm chí bị coi là “gàn”.

Nhưng chính cái sự “gàn” ấy lại tạo nên chất thơ của một nhân cách lớn. Chất thơ ấy toát lên từ sự bình thản, ung dung tự tại. Trong khi thiên hạ “chia ra” để kiếm lợi, thì bà cụ lại “gom vào” để giữ tình. Một đại gia đình bốn thế hệ, đông đúc nhưng “vẫn rất êm thấm”, không có tiếng cãi vã, không có sự tranh giành. Đó là một vẻ đẹp ngỡ như cổ tích giữa thời hiện đại đầy biến động.

Chất thơ của nếp nhà còn thể hiện ở sự chiến thắng của tình người đối với cái tôi cá nhân vị kỷ. Câu chuyện về mối quan hệ mẹ chồng - nàng dâu trong tác phẩm là một ví dụ điển hình.

Cô con dâu là gái Hàng Bồ, sắc sảo, đỗ đại học, còn bà mẹ chồng thì thông tuệ, nghiêm khắc. Hai người đàn bà “cùng sắc sảo” ấy sống chung mười lăm năm không một lời điều tiếng. Điều gì tạo nên sự hòa hợp diệu kỳ ấy? Đó là nhờ triết lý sống đầy nhân văn và cũng rất đỗi thơ mộng: “Mỗi bên chịu một nửa”.

Chữ “chịu” ở đây không phải là cam chịu nhẫn nhục, mà là sự thấu hiểu, nhường nhịn và tôn trọng. Bà cô coi con dâu là “vàng trời cho”, một cách ví von vừa trân trọng vừa thấm đẫm tình người. Cách ứng xử ấy đẹp như một bài thơ về đạo lý, về nghệ thuật “đắc nhân tâm” mà không sách vở nào dạy hết được.

Hơn thế nữa, chất thơ của nếp nhà còn nằm trong sự thanh sạch, liêm khiết. Gia đình ấy sống giữa lòng Thủ đô sầm uất nhưng lại giữ được sự tĩnh lặng trong tâm hồn. Họ “không cầu gặp may mắn, không săn đón may mắn. Họ chỉ nhận những cái đáng nhận”. Họ từ chối những đồng tiền dễ dãi, từ chối bán rẻ lương tâm (như việc bà cô từ chối in sách kiếm lời vì sai nguyên tắc, từ chối bán nhà giá cao).

Trong ngôi nhà ấy, “ba đời nay, không một ai biết tới câu mày, câu tao”. Chi tiết này nhỏ nhưng lại có sức gợi lớn. Nó cho thấy một bầu không khí văn hóa đậm đặc, nơi lời ăn tiếng nói được chắt lọc, gìn giữ như ngọc quý. Đó là chất thơ của sự lịch duyệt, của một phong thái sống quý tộc - quý tộc về tinh thần chứ không phải vật chất.

 

“Túi khôn” và trái tim mênh mông

Linh hồn của “nếp nhà” và cũng là nơi kết tụ chất thơ sâu lắng nhất của tác phẩm, chính là nhân vật bà cô. Ở tuổi tám mươi, bà hiện lên đẹp lão, minh mẫn và hiền triết như một bà tiên trong cổ tích đời thường. Chất thơ trong tâm hồn người mẹ này trước hết là sự hòa quyện giữa một “cái đầu lạnh” và một “trái tim nóng”.

Bà lạnh lùng, tỉnh táo trước sự cám dỗ của đồng tiền. Bà nhìn thấu bản chất của những kẻ giàu xổi, những kẻ “khinh người rẻ của”, coi tiền là “đội quân giặc cướp”. Những triết lý của bà về đồng tiền mang đầy màu sắc chiêm nghiệm và hình ảnh, nghe như những câu sấm truyền: “Bàn tay thương vợ, bàn tay yêu con, bàn tay nắm bàn tay của bạn bè đếm mãi tiền nhiễm độc lúc nào không hay, sẽ không còn là bàn tay của người nữa”.

Hình ảnh “tiền nhiễm độc” và “bàn tay không còn là của người” là những ẩn dụ rợn người nhưng đầy tính nhân văn, thể hiện nỗi lo âu sâu sắc của một người mẹ muốn bảo vệ tính người cho con cháu. Đó là chất thơ của tình mẫu tử lớn lao, vượt lên trên sự bao bọc vật chất thông thường để hướng tới sự bảo trợ về linh hồn.

Vẻ đẹp tâm hồn bà còn tỏa sáng trong bản di chúc, một văn bản thường khô khan pháp lý nhưng ở đây lại thấm đẫm tình thương và trí tuệ. Bà chia tài sản làm sáu phần đều nhau, không phân biệt trai gái, trưởng thứ. Bà dành phần lớn tài sản cho việc “hương khói”, “tu bổ nhà thờ”, “cấp đỡ cho bà con nghèo”.

Hành động này không chỉ là sự công bằng, mà còn là cách bà dùng vật chất để nuôi dưỡng tinh thần, buộc con cháu phải gắn kết với nhau, với tổ tiên và dòng họ. Bà muốn dùng “gia pháp” để “dưỡng thiện diệt ác”.

Sự lo toan, sắp đặt của bà cho tương lai, ngay cả khi mình đã khuất núi, là biểu hiện cao nhất của sự hy sinh và trách nhiệm. Hình ảnh người mẹ già ngồi tính toán chia của sao cho “trai gái dâu rể mãi mãi là con của mình, mãi mãi là anh em ruột thịt của nhau” gợi lên một niềm xúc động rưng rưng.

Đó là chất thơ bi tráng của người “cầm lái” con thuyền gia đình trước sóng gió cuộc đời. Nguyễn Khải đã khắc họa bà cô không phải bằng những lời ca tụng sáo rỗng mà bằng sự kính trọng sâu sắc. Bà là hiện thân của vẻ đẹp truyền thống Việt Nam: Kiên định nhưng mềm mỏng, nguyên tắc nhưng giàu lòng trắc ẩn. Bà chính là “bài thơ” sống động nhất, đẹp đẽ nhất mà nhân vật “tôi” may mắn được đọc và chiêm nghiệm.

 

Dấu ấn tài hoa của văn phong Nguyễn Khải

Để làm nên thành công của “Nếp nhà”, không thể không nhắc đến nghệ thuật ngôn từ và giọng điệu trần thuật đầy chất thơ của Nguyễn Khải. Truyện ngắn được kể ở ngôi thứ nhất (“tôi”), tạo nên sự gần gũi, chân thực như một lời tâm tình, thủ thỉ. Giọng điệu của Nguyễn Khải trong tác phẩm này rất đặc biệt: Vừa hóm hỉnh, sắc sảo, vừa trầm tư, triết lý.

Ông sử dụng ngôn ngữ đời thường nhưng được trau chuốt kỹ lưỡng, giàu hình ảnh và nhịp điệu. Những câu văn triết lý không khô cứng mà mềm mại, thấm thía: “Hạnh phúc không bao giờ là món quà tặng bất ngờ, không thể đi tìm, mà cũng không nên cầu xin. Nó là cách sống...”. Lời văn như những giọt nước mát lành thấm sâu vào lòng người đọc, buộc người ta phải dừng lại để suy ngẫm.

Nguyễn Khải cũng rất tài tình trong việc tạo dựng các hình ảnh tương phản để làm nổi bật chất thơ. Ông đặt vẻ đẹp tĩnh lặng, cổ kính của nếp nhà bà cô bên cạnh sự ồn ào, xô bồ của phố xá thời mở cửa. Ông đặt sự thanh lịch của người Tràng An bên cạnh những hành vi thô lỗ, “rác rưởi” của một bộ phận người mới.

Cái kết của truyện là một ví dụ tiêu biểu cho phong cách “vừa thơ vừa thực” của Nguyễn Khải. Giữa khung cảnh mùa Xuân đẹp như mơ, tiếng hét “Chạy lộn đường rồi! Văn Điển đi lối kia cụ ơi!” của gã thanh niên đi xe Dream vang lên chát chúa. Đó là một nốt nhạc lạc điệu, một “hạt sạn” cố ý.

Nhưng chính nhờ hạt sạn ấy, người đọc càng thêm trân trọng vẻ đẹp mong manh của “nếp nhà”, càng thấy xót xa và yêu thương hơn những giá trị văn hóa đang có nguy cơ mai một. Lời bình luận cuối cùng của nhân vật “tôi”: “Chớ có ngạc nhiên! Rác của Hà Nội đấy!” là một tiếng cười chua chát, một cái lắc đầu ngao ngán, nhưng cũng là một lời cảnh tỉnh đầy trách nhiệm của người nghệ sĩ.

Chất thơ trong văn Nguyễn Khải còn nằm ở sự điềm tĩnh. Ông không lên gân, không phán xét gay gắt. Ông chỉ kể, chỉ tả, và để cho sự thật tự cất lên tiếng nói. Cái nhìn bao dung, độ lượng của người từng trải (“Một chân đã thõng vào cõi hư vô rồi thì không nên bắt đầu bất cứ việc gì nữa... Chỉ còn đủ thời gian để làm lành”) khiến cho trang văn trở nên nhẹ nhõm, thanh thoát, mang đậm phong vị thiền.

“Nếp nhà” của Nguyễn Khải không chỉ là một câu chuyện về gìn giữ gia phong, mà thực sự là một áng văn chương giàu chất thơ và đậm tính nhân văn. Chất thơ ấy được dệt nên từ những sợi tơ óng ả của mùa Xuân Hà Nội, từ sự bền bỉ của những giá trị đạo đức truyền thống, từ tâm hồn cao cả của người mẹ, và từ chính tài năng ngôn ngữ bậc thầy của nhà văn.

Qua tác phẩm, Nguyễn Khải đã gửi gắm thông điệp sâu sắc: Trong cơn lốc của kinh tế thị trường, tiền bạc có thể kiếm được, nhà lầu xe hơi có thể mua được, nhưng một “nếp nhà”, một không gian văn hóa thấm đẫm tình người thì phải vun đắp qua nhiều thế hệ mới có được.

Giữ được nếp nhà chính là giữ được cái gốc làm người, là giữ được chất thơ cho cuộc sống vốn dĩ nhiều văn xuôi và bụi bặm này. “Nếp nhà” vì thế sẽ còn mãi giá trị, như một lời nhắc nhở ân cần về hạnh phúc đích thực giữa dòng đời vạn biến. Xuân vui đang gõ cửa, mong sao giữa dòng đời muôn nẻo, nhân gian hãy giữ trọn cho mình “Nếp nhà”, giữ được lối về giữa muôn kiếp nhân sinh.

N.V.L

Nguồn: Báo Giáo dục và Thời đại

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm