TIN TỨC

Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-04-12 18:24:02
mail facebook google pos stwis
281 lượt xem

NGUYỄN VĂN LUYỆN

Nguyễn Khải là gương mặt lớn của văn xuôi Việt Nam hiện đại, ngòi bút được mệnh danh là "nhà văn của những vấn đề thế sự".

 

“Nếp nhà” của Nguyễn Khải không chỉ là một câu chuyện về gìn giữ gia phong, mà thực sự là áng văn chương giàu chất thơ và đậm tính nhân văn. Ảnh: ITN.

 

Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.

“Nếp nhà” là một truyện ngắn kết tinh trọn vẹn phong cách ấy của Nguyễn Khải trong giai đoạn sau năm 1975. Đọc “Nếp nhà”, người ta không chỉ thấy một bức tranh hiện thực về sự va đập giữa kinh tế thị trường và đạo đức truyền thống, mà còn cảm nhận được một luồng sinh khí ấm áp, một vẻ đẹp lấp lánh của văn hóa ứng xử.

Tác phẩm xứng đáng được coi là một “áng văn vời vợi chất thơ”, chất thơ không nằm ở vần điệu, mà toát lên từ cảnh sắc thiên nhiên, từ cốt cách con người và từ chính giọng văn tài hoa, uyên bác của tác giả.

 

Khúc giao hưởng của đất trời và lòng người

Chất thơ đầu tiên và dễ nhận thấy nhất trong “Nếp nhà” chính là bức tranh thiên nhiên và không gian Hà Nội vào xuân. Nguyễn Khải vốn là người quan sát tinh tế, ông không miêu tả dông dài mà chỉ cần vài nét chấm phá đã gợi lên được cái “hồn vía” của đất kinh kỳ.

Mùa Xuân trong trang văn Nguyễn Khải hiện lên với những đặc trưng không thể trộn lẫn: “Một chút lạnh trong hơi gió tạt qua mặt. Một chút mưa bụi bay lây rây như có như không”. Câu văn nhẹ tênh, gợi cảm giác mơ hồ, hư ảo của khí trời miền Bắc dịp đầu năm.

Cái “mưa bụi bay lây rây” ấy chính là chất xúc tác để làm mềm đi những góc cạnh sắc nhọn của đời sống đô thị, phủ lên phố phường một lớp màn sương khói lãng mạn. Trong không gian ấy, màu sắc và âm thanh cũng trở nên thi vị hơn. Mặc dù “trời hơi tối, mặt đường hơi sẫm” nhưng sự sống con người lại bừng tỉnh: “Mặt người và quần áo rét họ mặc cứ sáng bừng lên những mầu sắc tươi tắn”.

Đây là một phát hiện tinh tế mang đậm nhãn quan hội họa. Trên cái nền trầm mặc, cổ kính của phố xá rêu phong, con người hiện diện như những điểm sáng, tạo nên sức sống và niềm tin yêu cho mùa Xuân.

Không chỉ có hình ảnh, chất thơ của mùa Xuân Hà Nội còn được cảm nhận qua khứu giác và thính giác. Đó là “mùi son phấn và nước hoa bất chợt thoảng qua ở một góc phố”, gợi lên vẻ thanh lịch, kiêu sa của người Tràng An.

Đó là sự thay đổi trong âm sắc của tiếng nói cười: “Nói nhỏ đi, cười nhỏ hơn, ít nghe những câu chửi tục, những tiếng đệm tục”. Dường như, vẻ đẹp của thiên nhiên đã cảm hóa lòng người, khiến con người ta muốn sống đẹp hơn, cư xử nhẹ nhàng hơn để xứng đáng với mùa Xuân.

Đặc biệt, đoạn văn miêu tả buổi sáng sau đêm mưa là một đoạn văn xuôi giàu nhạc điệu như thơ: “Sáng ra tất cả đã ráo khô, mảnh sân trắng toát, hè nhà trắng toát, trời khô và lạnh. Cái lạnh của mùa Xuân thật dịu dàng, thở rất dễ, người rất nhẹ...”.

Những từ ngữ như “trắng toát”, “dịu dàng”, “người rất nhẹ” diễn tả trạng thái thanh lọc hoàn toàn của tâm hồn. Nhân vật “tôi” đạp xe giữa phố phường, cảm thấy “nhìn vào cái gì cũng đẹp”.

Chất thơ ở đây không chỉ là vẻ đẹp khách quan của ngoại cảnh, mà là sự giao hòa tuyệt đối giữa tâm hồn nghệ sĩ và thiên nhiên, là khoảnh khắc con người rũ bỏ mọi lo toan thế tục để tận hưởng sự bình yên hiếm hoi. Chính cái nền cảnh thơ mộng này đã làm tôn lên vẻ đẹp vững chãi, thâm trầm của “nếp nhà” mà tác giả sắp nói tới.

 

Bản lĩnh văn hóa trước dòng xoáy kim tiền

 

Nhà văn Nguyễn Khải. Ảnh: ITN

 

Nếu chất thơ của thiên nhiên là vẻ đẹp hữu hình, thì chất thơ của “nếp nhà” là vẻ đẹp vô hình, lẩn khuất trong nếp sống, nếp nghĩ, là sự “kháng cự” đầy kiêu hãnh của văn hóa trước sự xâm lăng của vật chất. Giữa một xã hội đang lên cơn sốt đất đai, khi ngôi nhà mặt phố nhìn ra hồ Hoàn Kiếm được định giá “triệu đô”, sự tồn tại của gia đình bà cô là một hiện tượng lạ, thậm chí bị coi là “gàn”.

Nhưng chính cái sự “gàn” ấy lại tạo nên chất thơ của một nhân cách lớn. Chất thơ ấy toát lên từ sự bình thản, ung dung tự tại. Trong khi thiên hạ “chia ra” để kiếm lợi, thì bà cụ lại “gom vào” để giữ tình. Một đại gia đình bốn thế hệ, đông đúc nhưng “vẫn rất êm thấm”, không có tiếng cãi vã, không có sự tranh giành. Đó là một vẻ đẹp ngỡ như cổ tích giữa thời hiện đại đầy biến động.

Chất thơ của nếp nhà còn thể hiện ở sự chiến thắng của tình người đối với cái tôi cá nhân vị kỷ. Câu chuyện về mối quan hệ mẹ chồng - nàng dâu trong tác phẩm là một ví dụ điển hình.

Cô con dâu là gái Hàng Bồ, sắc sảo, đỗ đại học, còn bà mẹ chồng thì thông tuệ, nghiêm khắc. Hai người đàn bà “cùng sắc sảo” ấy sống chung mười lăm năm không một lời điều tiếng. Điều gì tạo nên sự hòa hợp diệu kỳ ấy? Đó là nhờ triết lý sống đầy nhân văn và cũng rất đỗi thơ mộng: “Mỗi bên chịu một nửa”.

Chữ “chịu” ở đây không phải là cam chịu nhẫn nhục, mà là sự thấu hiểu, nhường nhịn và tôn trọng. Bà cô coi con dâu là “vàng trời cho”, một cách ví von vừa trân trọng vừa thấm đẫm tình người. Cách ứng xử ấy đẹp như một bài thơ về đạo lý, về nghệ thuật “đắc nhân tâm” mà không sách vở nào dạy hết được.

Hơn thế nữa, chất thơ của nếp nhà còn nằm trong sự thanh sạch, liêm khiết. Gia đình ấy sống giữa lòng Thủ đô sầm uất nhưng lại giữ được sự tĩnh lặng trong tâm hồn. Họ “không cầu gặp may mắn, không săn đón may mắn. Họ chỉ nhận những cái đáng nhận”. Họ từ chối những đồng tiền dễ dãi, từ chối bán rẻ lương tâm (như việc bà cô từ chối in sách kiếm lời vì sai nguyên tắc, từ chối bán nhà giá cao).

Trong ngôi nhà ấy, “ba đời nay, không một ai biết tới câu mày, câu tao”. Chi tiết này nhỏ nhưng lại có sức gợi lớn. Nó cho thấy một bầu không khí văn hóa đậm đặc, nơi lời ăn tiếng nói được chắt lọc, gìn giữ như ngọc quý. Đó là chất thơ của sự lịch duyệt, của một phong thái sống quý tộc - quý tộc về tinh thần chứ không phải vật chất.

 

“Túi khôn” và trái tim mênh mông

Linh hồn của “nếp nhà” và cũng là nơi kết tụ chất thơ sâu lắng nhất của tác phẩm, chính là nhân vật bà cô. Ở tuổi tám mươi, bà hiện lên đẹp lão, minh mẫn và hiền triết như một bà tiên trong cổ tích đời thường. Chất thơ trong tâm hồn người mẹ này trước hết là sự hòa quyện giữa một “cái đầu lạnh” và một “trái tim nóng”.

Bà lạnh lùng, tỉnh táo trước sự cám dỗ của đồng tiền. Bà nhìn thấu bản chất của những kẻ giàu xổi, những kẻ “khinh người rẻ của”, coi tiền là “đội quân giặc cướp”. Những triết lý của bà về đồng tiền mang đầy màu sắc chiêm nghiệm và hình ảnh, nghe như những câu sấm truyền: “Bàn tay thương vợ, bàn tay yêu con, bàn tay nắm bàn tay của bạn bè đếm mãi tiền nhiễm độc lúc nào không hay, sẽ không còn là bàn tay của người nữa”.

Hình ảnh “tiền nhiễm độc” và “bàn tay không còn là của người” là những ẩn dụ rợn người nhưng đầy tính nhân văn, thể hiện nỗi lo âu sâu sắc của một người mẹ muốn bảo vệ tính người cho con cháu. Đó là chất thơ của tình mẫu tử lớn lao, vượt lên trên sự bao bọc vật chất thông thường để hướng tới sự bảo trợ về linh hồn.

Vẻ đẹp tâm hồn bà còn tỏa sáng trong bản di chúc, một văn bản thường khô khan pháp lý nhưng ở đây lại thấm đẫm tình thương và trí tuệ. Bà chia tài sản làm sáu phần đều nhau, không phân biệt trai gái, trưởng thứ. Bà dành phần lớn tài sản cho việc “hương khói”, “tu bổ nhà thờ”, “cấp đỡ cho bà con nghèo”.

Hành động này không chỉ là sự công bằng, mà còn là cách bà dùng vật chất để nuôi dưỡng tinh thần, buộc con cháu phải gắn kết với nhau, với tổ tiên và dòng họ. Bà muốn dùng “gia pháp” để “dưỡng thiện diệt ác”.

Sự lo toan, sắp đặt của bà cho tương lai, ngay cả khi mình đã khuất núi, là biểu hiện cao nhất của sự hy sinh và trách nhiệm. Hình ảnh người mẹ già ngồi tính toán chia của sao cho “trai gái dâu rể mãi mãi là con của mình, mãi mãi là anh em ruột thịt của nhau” gợi lên một niềm xúc động rưng rưng.

Đó là chất thơ bi tráng của người “cầm lái” con thuyền gia đình trước sóng gió cuộc đời. Nguyễn Khải đã khắc họa bà cô không phải bằng những lời ca tụng sáo rỗng mà bằng sự kính trọng sâu sắc. Bà là hiện thân của vẻ đẹp truyền thống Việt Nam: Kiên định nhưng mềm mỏng, nguyên tắc nhưng giàu lòng trắc ẩn. Bà chính là “bài thơ” sống động nhất, đẹp đẽ nhất mà nhân vật “tôi” may mắn được đọc và chiêm nghiệm.

 

Dấu ấn tài hoa của văn phong Nguyễn Khải

Để làm nên thành công của “Nếp nhà”, không thể không nhắc đến nghệ thuật ngôn từ và giọng điệu trần thuật đầy chất thơ của Nguyễn Khải. Truyện ngắn được kể ở ngôi thứ nhất (“tôi”), tạo nên sự gần gũi, chân thực như một lời tâm tình, thủ thỉ. Giọng điệu của Nguyễn Khải trong tác phẩm này rất đặc biệt: Vừa hóm hỉnh, sắc sảo, vừa trầm tư, triết lý.

Ông sử dụng ngôn ngữ đời thường nhưng được trau chuốt kỹ lưỡng, giàu hình ảnh và nhịp điệu. Những câu văn triết lý không khô cứng mà mềm mại, thấm thía: “Hạnh phúc không bao giờ là món quà tặng bất ngờ, không thể đi tìm, mà cũng không nên cầu xin. Nó là cách sống...”. Lời văn như những giọt nước mát lành thấm sâu vào lòng người đọc, buộc người ta phải dừng lại để suy ngẫm.

Nguyễn Khải cũng rất tài tình trong việc tạo dựng các hình ảnh tương phản để làm nổi bật chất thơ. Ông đặt vẻ đẹp tĩnh lặng, cổ kính của nếp nhà bà cô bên cạnh sự ồn ào, xô bồ của phố xá thời mở cửa. Ông đặt sự thanh lịch của người Tràng An bên cạnh những hành vi thô lỗ, “rác rưởi” của một bộ phận người mới.

Cái kết của truyện là một ví dụ tiêu biểu cho phong cách “vừa thơ vừa thực” của Nguyễn Khải. Giữa khung cảnh mùa Xuân đẹp như mơ, tiếng hét “Chạy lộn đường rồi! Văn Điển đi lối kia cụ ơi!” của gã thanh niên đi xe Dream vang lên chát chúa. Đó là một nốt nhạc lạc điệu, một “hạt sạn” cố ý.

Nhưng chính nhờ hạt sạn ấy, người đọc càng thêm trân trọng vẻ đẹp mong manh của “nếp nhà”, càng thấy xót xa và yêu thương hơn những giá trị văn hóa đang có nguy cơ mai một. Lời bình luận cuối cùng của nhân vật “tôi”: “Chớ có ngạc nhiên! Rác của Hà Nội đấy!” là một tiếng cười chua chát, một cái lắc đầu ngao ngán, nhưng cũng là một lời cảnh tỉnh đầy trách nhiệm của người nghệ sĩ.

Chất thơ trong văn Nguyễn Khải còn nằm ở sự điềm tĩnh. Ông không lên gân, không phán xét gay gắt. Ông chỉ kể, chỉ tả, và để cho sự thật tự cất lên tiếng nói. Cái nhìn bao dung, độ lượng của người từng trải (“Một chân đã thõng vào cõi hư vô rồi thì không nên bắt đầu bất cứ việc gì nữa... Chỉ còn đủ thời gian để làm lành”) khiến cho trang văn trở nên nhẹ nhõm, thanh thoát, mang đậm phong vị thiền.

“Nếp nhà” của Nguyễn Khải không chỉ là một câu chuyện về gìn giữ gia phong, mà thực sự là một áng văn chương giàu chất thơ và đậm tính nhân văn. Chất thơ ấy được dệt nên từ những sợi tơ óng ả của mùa Xuân Hà Nội, từ sự bền bỉ của những giá trị đạo đức truyền thống, từ tâm hồn cao cả của người mẹ, và từ chính tài năng ngôn ngữ bậc thầy của nhà văn.

Qua tác phẩm, Nguyễn Khải đã gửi gắm thông điệp sâu sắc: Trong cơn lốc của kinh tế thị trường, tiền bạc có thể kiếm được, nhà lầu xe hơi có thể mua được, nhưng một “nếp nhà”, một không gian văn hóa thấm đẫm tình người thì phải vun đắp qua nhiều thế hệ mới có được.

Giữ được nếp nhà chính là giữ được cái gốc làm người, là giữ được chất thơ cho cuộc sống vốn dĩ nhiều văn xuôi và bụi bặm này. “Nếp nhà” vì thế sẽ còn mãi giá trị, như một lời nhắc nhở ân cần về hạnh phúc đích thực giữa dòng đời vạn biến. Xuân vui đang gõ cửa, mong sao giữa dòng đời muôn nẻo, nhân gian hãy giữ trọn cho mình “Nếp nhà”, giữ được lối về giữa muôn kiếp nhân sinh.

N.V.L

Nguồn: Báo Giáo dục và Thời đại

Bài viết liên quan

Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm