TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh

Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-04-16 02:37:40
mail facebook google pos stwis
16 lượt xem

BÙI HỮU THƯỢC

Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.

Mười năm trong kháng chiến chống Mỹ, sống và chiến đấu giữa túi bom Hàm Rồng – nơi ranh giới sinh tử chỉ cách một nhịp thở. Khẩu hiệu “Thà gục trên mâm pháo, quyết không để cầu gục” không chỉ là ký ức tập thể, mà thành một thứ “thương hiệu” in dấu trong văn ông. Viết trên mâm pháo, ông không thể nhìn chiến tranh bằng con mắt mỹ lệ. Giải thưởng Nhà nước không chỉ ghi nhận một hành trình hơn sáu thập kỷ cầm bút, mà xác tín một tiếng nói đã đi qua lửa đạn. Văn ông thẳng, ít mượt, không né tránh. Đọc Dấu vết chiến tranh, tôi đọc một mạch. Rồi đọc lại. Ám.

 

Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh ở Thanh Hóa

 

Tấm thẻ bài không chỉ là một mắt xích trong hành trình sáng tác đã định hình, mà là một nấc lặng sâu hơn sau vinh dự lớn. Cuốn sách giống một lời tri ân lặng: với bạn đọc, với những trang sách từng nuôi dưỡng nhiều thế hệ, và với chính ký ức chưa chịu yên.

Nó không sinh ra từ một khoảnh khắc ngẫu hứng. Đằng sau là những đêm trắng, là những lần lật lại ký ức như lật trầm tích. Là những chuyến trở về chiến trường cũ, đi qua nhiều phận người. Và cả những chuyến sang Mỹ – không để so sánh, mà để nhìn chiến tranh từ phía bên kia. Bởi ám ảnh lớn nhất của ông là: khi đánh nhau, người ta không nhìn thấy khuôn mặt kẻ thù.

Từ tích lũy âm thầm ấy, Tấm thẻ bài thành hình. Không chỉ là ký ức, mà là day dứt, là nhu cầu đối thoại với lịch sử. Ở đó, viết không còn là kể, mà là xuyên qua sự kiện để chạm vào phần người – mong manh, kiên cường, và cần được hiểu.

Tiểu thuyết không kể lại chiến tranh. Nó dựng một diễn ngôn hậu chiến. Chiến tranh đã dừng trên thực địa, nhưng vẫn kéo dài trong thân thể, ký ức, huyết thống.

“Tấm thẻ bài” – vật nhận dạng của lính Mỹ – trở thành trung tâm biểu tượng. Từ một căn cước quân sự, nó bị kéo ra khỏi chức năng hành chính, đặt vào số phận con người, và biến thành một dị vật luân lý. Nó không còn thuộc về kẻ đeo, mà bắt đầu luồn lách, sắc lạnh, rạch vào đời sống – từ chiến trường đến tha hương, từ vật chứng đến chứng tích của những quan hệ.

Ở đây, tác phẩm không hỏi đúng – sai. Nó hỏi: chiến tranh đã biến dạng con người đến đâu? Và có thể phục hồi không?

Ký ức trong Tấm thẻ bài không vận hành như hồi tưởng thông thường. Nó là một quá trình truy tìm. Nhân vật không chỉ nhớ, mà lần dấu, đối thoại, đối chất, lật lại. Ký ức trở thành hành vi nhận thức – gần với điều tra, thẩm vấn, và cuối cùng là tự phán xét.

Cấu trúc tiểu thuyết vì thế đa tầng: hiện tại (ông Minh hấp hối), quá khứ chiến tranh (mối tình Minh – Thúy – Hạnh), và hậu chiến tha hương. Ba lớp thời gian không xếp tuyến tính, mà va đập, phản chiếu, tạo ra một không gian nơi mỗi chi tiết hiện tại đều có bóng quá khứ đi kèm.

 

Tiểu thuyết trong tập “Dấu vết chiến tranh” của Từ Nguyên Tĩnh – NXB Hội Nhà văn, 2025.

 

Ông Minh là minh chứng: chiến tranh không kết thúc khi rời chiến trường. Ông sống một đời bình thường, giữ phẩm hạnh, có gia đình. Nhưng đến cuối đời, quá khứ trỗi dậy như một lực không cưỡng. “Khối u” trong cơ thể ông là một phát hiện sắc lạnh: chiến tranh không chỉ ở ký ức, mà bám rễ như một thực thể sinh học.

Ở đây, nhà văn đi xa hơn nhiều tác phẩm trước. Không còn là suy tư. Là giải phẫu.

Trục thứ hai – nơi ngòi bút trở nên trần trụi – là thân phận người phụ nữ và đứa con lai.

Bà Hạnh và bà Thúy: hai hướng rẽ. Một người ở lại, giữ mái ấm, chịu đựng. Một người ra đi, lưu lạc, mang theo đứa con và vết thương không tên. Giữa họ là ông Minh – điểm giao của những lựa chọn sai lầm.

Bà Thúy không được nâng đỡ như một biểu tượng. Bà bị dồn ép đến tận cùng. Một cô gái quê, mang tình yêu trong veo với người lính Phú. Anh ngã xuống, mang theo phần sáng nhất của đời bà. Từ đó, mọi thứ trượt dần.

Nỗi đau lớn nhất không phải bom đạn, mà là khi thân thể bị xâm phạm. Đứa con sinh ra không chỉ là một sinh linh, mà là dấu tích sống của một vết cắt. Bà nuôi con trong cô độc, đi qua đời như một sự gắng gượng. Chiến tranh kết thúc – với bà, nó vẫn ở lại, trong từng nhịp thở.

Hành trình sang Mỹ tìm cha cho con không phải là hy vọng. Nó giống một lần nữa bước vào tuyệt vọng.

Hạnh Allen – đứa con – là điểm hội tụ. Hành trình tìm cha bắt đầu từ tấm thẻ bài. Nhưng càng đi, sự thật càng mờ. Người mang tên không phải cha. Người cha thật chối bỏ. Cô mang hai dòng máu, hai lịch sử, nhưng không thuộc về đâu.

Ở bình diện sâu hơn, đây là một dạng tồn tại của chiến tranh trong hậu chiến: sự đứt gãy căn cước. Câu hỏi “tôi là ai” trở thành ám ảnh không lời giải.

Khi nghĩ về nhân vật này, tôi từng nói với tác giả: “Anh đã tạo ra một con ma văn học.” Một dạng “khối u” ẩn dụ – nơi ký ức và đổ vỡ di truyền. Và nghịch lý: cô lại là người viết. Càng xóa, dấu vết càng hiện.

Một chi tiết nhỏ mà không nhỏ: đứa con trong mối quan hệ tay ba lại mang tên của người phụ nữ còn lại. Một “dấu vết lành” hiếm hoi. Một khả năng tái sinh của nhân tính giữa đổ vỡ.

Từ đó, tiểu thuyết không còn là câu chuyện một thế hệ. Nó trở thành bi kịch liên thế hệ.

Hình tượng “giặc lái” cũng được xử lý khác. Không còn là một thực thể đơn giản. Phi công Mỹ được đặt vào một không gian đạo đức phức tạp: bản năng, sợ hãi, chối bỏ, và cả dằn vặt muộn màng. Không phải để hòa giải dễ dãi, mà để chỉ ra một sự thật: chiến tranh tha hóa con người ở nhiều cấp độ – cả kẻ gây ra lẫn người chịu đựng.

Tác phẩm thu hẹp không gian vào gia đình, vào cá nhân. Nhưng đào sâu đến mức mỗi cá nhân thành một “chiến trường” thu nhỏ.

Cuộc hội ngộ cuối không phải hòa giải. Nó giống một phiên tòa không thẩm phán. Mỗi người vừa là bị cáo, vừa là nhân chứng, vừa là nạn nhân. Không ai có thể tha thứ trọn vẹn. Nhưng cũng không ai có thể sống nếu không đối diện sự thật.

Ở tầng sâu nhất, Tấm thẻ bài vận hành như một lưỡi dao phẫu thuật. Nó không chữa lành ngay. Nó làm vết thương lộ ra – đau hơn, trần trụi hơn. Nhưng chính ở đó, khả năng chữa lành mới xuất hiện: không phải bằng quên, mà bằng nhìn thẳng.

Có thể nói, với cuốn tiểu thuyết này, người viết đã đi đến một giới hạn khác: không chỉ viết về chiến tranh như ký ức, mà phơi bày nó như một thực thể sống – tiếp tục tồn tại, vận động trong đời sống con người.

“Tấm thẻ bài” vì thế không còn là vật chứng. Nó là cơ chế của ký ức. Một điểm nút nơi quá khứ – hiện tại – tương lai gặp nhau.

Và văn học, ở đây, làm công việc khắc nghiệt nhất: không an ủi, không ca ngợi, mà buộc con người nhìn vào phần khó chấp nhận nhất của mình.

Hơn tất cả, cuốn sách vẫn giữ lại một điều: một miền thiện tâm. Một niềm tin nhỏ nhưng bền vào điều lành, vào trách nhiệm của người cầm bút trước con người.

Sống gần Từ Nguyên Tĩnh, tôi hiểu thêm cái “tâm” ấy: lặng, giản dị, nghĩ cho người khác trước. Có lẽ từ đó, trang viết của ông mới chạm được sâu và lâu.

Khép sách lại. Nhưng nỗi day dứt thì không. Nó ở lại, âm thầm, như một vết chạm.

Tôi chỉ mong cuốn tiểu thuyết Dấu vết chiến tranh đến được với nhiều bạn đọc hơn, để những điều ông gửi gắm bền lâu như khát vọng hòa bình.

Chúc ông sức khỏe. Để còn viết. Và còn đối thoại với chúng ta – bằng những trang văn không dễ quên.

B.H.T

Nguồn: VanVn

Bài viết liên quan

Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm