TIN TỨC

Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-04-02 17:48:29
mail facebook google pos stwis
14 lượt xem

HIỀN TRANG

Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:

Nhà văn đang sống trong một điểm kì dị của văn chương.

Điểm kì dị, theo đúng thuật ngữ vật lí, the singularity, cái điểm quái gở của lỗ đen bóp méo những định luật thông thường, nơi mật độ trở thành vô hạn và kéo đổ các mô hình vật lí hiện đại, cái điểm điên loạn mà Albert Einstein muốn chối bỏ như đứa con hoang sinh ra từ các phương trình của mình. Nhà văn đang sống trong điểm đó, hoặc chí ít, ta đang vượt qua chân trời sự kiện, ranh giới mà bước qua rồi thì không thể quay đầu trở lại nữa, và lao một mạch tới điểm kì dị.

 

 

Nhà văn, tất nhiên, với toàn bộ truyền thống cách mạng của nghề nghiệp này, không nói đầu hàng bao giờ. Khi bị đe doạ tước đoạt tư cách làm người viết thì chính là lúc nhà văn đã được trao cho một lí do để viết. Ta viết về chính kẻ đang manh nha cướp đoạt niềm kiêu hãnh của ta. The Maniac của Benjamín Labatut là một cuốn tiểu thuyết như thế, một cuốn tiểu thuyết đo đạc cuộc đời nhà toán học người Mĩ gốc Hungary, John von Neumann, người mà khi nằm trên giường bệnh ở tuổi 53, vây quanh ông là “chuẩn đô đốc Lewis Strauss - chủ tịch ủy ban năng lượng nguyên tử; bộ trưởng quốc phòng; thứ trưởng quốc phòng; các bộ trưởng không quân, lục quân và hải quân; cùng các tổng tham mưu trưởng - tất cả đều chờ đợi một tia sáng cuối, thêm một ý tưởng nữa từ con người đã khai sinh ra máy tính hiện đại, đặt nền tảng toán học cho cơ học lượng tử, viết nên phương trình cho cơ chế nổ bên trong của bom nguyên tử, khai sinh lí thuyết trò chơi và hành vi kinh tế, mở ra kỉ nguyên của sự sống kĩ thuật số, máy tự sinh sản, trí tuệ nhân tạo và điểm kì dị công nghệ, người đã hứa hẹn ban cho họ quyền năng thần thánh để kiểm soát khí hậu trái đất - giờ đây đang dần tàn lụi trước mắt họ, gào thét trong đau đớn, mê sảng, hấp hối, như bất kì con người nào khác” (trích đoạn này là do ChatGPT dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt); và thu thập những manh mối về quá trình ra đời đầy những đường vòng, những khúc ngoặt, những gấp khúc, những mê lộ, những ngã rẽ khác thường để rồi khai sinh ra trí tuệ nhân tạo - những thực thể không có cơ thể vật lí, trôi nổi và dập dềnh trong một vùng không gian khác, vậy nhưng vẫn biết học tập, biết suy nghĩ, biết tạo ra thứ mà ta tưởng các nữ thần chỉ ban riêng ta: khả năng kiến tạo cái đẹp.

Và như mọi lịch sử, lịch sử những cỗ máy trí tuệ này cũng không minh định. Đó là một lịch sử đa thanh, với nguồn gốc không rõ ràng, và ngay cả trong một thế kỉ mà quá trình phát minh và khám phá đều được ghi lại cẩn mật và kĩ càng, dường như vẫn có rất nhiều thứ nằm ngoài khả năng ghi chép của con người, như là cơn mất trí, dù là tạm thời hay dài lâu, của những con người đã ngó thấy sự khải huyền về cõi phi lí của công nghệ.

The Maniac gồm ba phần lớn: mở đầu là thời đại tiền Neumann, với nhân vật chính là Paul Ehrenfest, một nhà vật lí lí thuyết với đóng góp vượt bậc cho cơ học lượng tử dù ông không thể nào chấp nhận được thế giới phi lí mà vật lí lượng tử ngự trị, ông phát điên, giết đứa con trai mắc chứng down, và tự sát; phần hai là lời chứng về cuộc đời của Newmann, người được ban phước và bị nguyền bởi số phận một thiên tài, qua giọng kể của người thân, cộng sự, kẻ thù; và khép lại với thời kì hậu Newmann, cụ thể là một mise-en-scène về cuộc đấu cờ vây lịch sử, nơi Lee Sedol vĩ đại chơi năm ván cờ cùng AlphaGo, thua tới bốn, choáng ngợp trước một nước cờ không có trong bất cứ kì phổ nào mà cỗ máy đã chơi, và suốt những ngày thi đấu, anh gầy rộc đi, không thiếu những cơn mê sảng.

Benjamín Labatut sinh năm 1980, người Chile. Cần phải nhắc tới năm sinh, vì có lẽ đã đến lúc những nhà văn của thế hệ 80 hết trẻ. Hết trẻ nên họ bắt đầu bước vào thời đỉnh cao của nghề tiểu thuyết. Họ bắt đầu viết ra những tác phẩm lớn từ quan sát thời đại của mình.

Văn nghiệp của Labatut được xây dựng từ một nền móng, tạm gọi là một “giả thuyết”: những phát kiến quan trọng nhất của toán học - vật lí đã tạo nên khuôn khổ cho công nghệ hiện đại đều ra đời vào thời điểm hỗn loạn của thế giới, một thế giới của Nazi, của bom nguyên tử. Trong hiện thực, sự ổn định suốt hàng thế kỉ tan vỡ, thế vào đó là những cuộc chiến tranh diện rộng, entropy của bạo lực và cái ác vượt qua mọi ngưỡng tưởng tượng, người ta không còn đoán biết được tương lai. Trong khoa học, thế giới quan truyền thống của Euclid, của Newton đã tồn tại hàng trăm năm, ngàn năm, đột nhiên không còn mang tính phổ quát mà chỉ còn là một trường hợp đặc biệt, và rồi cơ học lượng tử giá đáo, đảo ngược mọi thứ ta từng biết về bản chất vũ trụ quanh mình, đồng thời hé lộ những khả thể cho phép ta tạo ra Sáng thế thứ hai, nơi ta là chúa, và sẽ có những sinh vật mới, sinh ra từ những con số.

Một tác phẩm của Labatut đã được dịch sang tiếng Việt, Un Verdor Terrible (bản dịch của Tôm Giang do Nhã Nam ấn hành: Khi ta không còn hiểu thế giới), tập hợp tiểu luận - truyện ngắn - tiểu luận hư cấu - novella được viết với văn phong có mùi vị Sebaldian, nghĩa là như một toàn thể bị vỡ ra thành trăm mảnh, nhưng việc lắp ghép hàng trăm mảnh sẽ không mang lại cho ta một toàn thể vẹn nguyên như cũ. Đó không phải sự rã đám như trong thế giới của Roberto Bolaño, một nhà văn Chile khác, người cũng tạo ra những lỗ đen, những điểm kì dị trong văn chương, chẳng hạn như thành phố Santa Maria của tiểu thuyết 2666, nơi đặc quánh những vụ án giết phụ nữ, một thành phố cũng đổ sụp vào bên trong chính nó vì trọng lượng quá tải của bạo lực dồn trong một diện tích nhỏ; chẳng hạn như người đàn bà đã khai sinh ra một chủ nghĩa văn chương sớm nở tối tàn, phá huỷ hết những quy cách nghệ thuật, một điểm kì dị di động khiến những hậu bối không ngừng tìm kiếm. Tuy vậy, sự rã đám trong thế giới của Bolaño dù đồ sộ hơn lại không rộng khắp bằng, sự rã đám của Bolaño cục bộ, sự rã đám của Sebald hay Labatut thì gọn gàng hơn (các tác phẩm không quá dày) nhưng lại đi một vòng khắp thế giới. Tận thế của Bolaño cũng khác với tận thế của Labatut. Tận thế của Bolaño nằm trong sự tuyệt vọng, tận thế của Labatut nằm trong những hi vọng: giây phút các nhà khoa học tìm ra một khía cạnh nào đó của bản chất vũ trụ, đó là giây phút họ nắm trong tay quyền năng phá huỷ thế giới, họ là những kẻ “bước đều như những kẻ mộng du tiến thẳng tới tận thế” (trích Un Verdor Terrible/ Khi ta không còn hiểu thế giới). Trong văn chương của Labatut mang tinh thần Sebald, ta đã lỡ mất cơ hội được nhìn thấy thế giới thuở còn nguyên vẹn, đây không phải trò xếp hình nơi sự cắt nhỏ chỉ là một thủ thuật, một trò chơi; không, thế giới đã vỡ thật rồi, các mảnh đã phân tán, và entropy (đại lượng đo lường sự mất trật tự của một hệ thống) thì luôn tăng.

Nhân tiện, Boltzmann, nhà vật lí tìm ra công thức về entropy, cũng là một nhân vật trong chuỗi tác phẩm của Labatut về các nhà khoa học. Và Boltzmann cũng có một số phận thảm thiết. Ông trầm cảm, “treo cổ tự vẫn bằng một sợi thừng ngắn trên khung cửa sổ trong một căn phòng ở khách sạn Ples, trong kì nghỉ hè tại Duino, gần Trieste, khi vợ và cô con gái nhỏ của ông đang đi bơi trong làn nước biển Adriatic êm đềm, xanh ngọc” (trích The Maniac). Nhưng Boltzmann cũng không phải nhà vật lí duy nhất trong thế kỉ XX phát điên. Điên loạn có lẽ là dịch bệnh của giới khoa học gia thời kì ấy, mà cũng không thể khác được, với những gì họ tìm ra. Nhà nghệ thuật bị hư cấu mình sáng tác ra vận vào cuộc đời; nhà khoa học bị sự thật mình khám phá thấy vận vào số mệnh.

Trong bộ phim điện ảnh Đức mang tên Die Theorie von Allem (Thuyết vạn vật) của Tim Timm Kröger, một nhà vật lí trẻ tuổi cùng thầy mình tham gia một toạ đàm đặc biệt trên dãy Alps. Anh đang ấp ủ một công trình kì lạ về thời gian. Nhưng cũng chính trên triền núi Alps, những cái chết bí ẩn bắt đầu xảy ra, và anh dần hiểu rằng tất cả những bí ẩn đó có liên quan đến công thức mà anh đang tính toán. Anh đã nhác thấy một sự thật kì dị, méo mó đang vận hành vũ trụ này. Và sự thật vốn là thứ không nên thấy, không nên biết, chừng nào còn muốn sống trong Địa đàng. Một khi đã thấy sự thật, đã để lộ thiên cơ, thì tất yếu, anh đừng mong bước ra còn toàn vẹn - ai cho con người diện nhan chúa? “Ngươi không thể thấy mặt Ta, vì không ai thấy mặt Ta mà còn sống” (Sách Xuất Hành 33:20). Những kẻ nhìn thấy mặt chúa, và tiếc thay, chẳng phải một gương mặt của vẻ đẹp hài hoà, trật tự, tỉ lệ vàng, mà lại là một gương mặt ác mộng, anh ta tất yếu phải trả giá.

Những nhà khoa học cơ bản thế kỉ XX được kể trong các tác phẩm của Labatut (một loạt tên tuổi lừng danh nhất), đều là nạn nhân của sự thật. Họ đều thấy bóng dáng phần quỷ phi lí trí trong vũ trụ, và bị con quỷ ấy ám nguyền, theo nhiều cách khác nhau. Không thể hạnh phúc khi đã trông thấy con quỷ ấy. Schwarzschild, Heisenberg, Schrödinger, Boltzmann, Grothendieck, Neumann, Gödel, Ehrenfest, Barricelli, Turing, Mochizuki, De Brogli... Kẻ nhịn ăn đến chết, kẻ chết vì khí độc, kẻ sống cô lập từ chối dùng điện và nước, kẻ sống trong những cơn sốt thường trực của bệnh lao… Kẻ nào cũng hoặc mê mụ, hoặc ghê tởm, hoặc phát cuồng, hoặc kinh hoàng trước những gì mình tìm thấy. Cách duy nhất để sống an thân, như truyện ngắn Khi ta không còn hiểu thế giới khép lại, một nhà toán học, sau khi tiếp xúc những công trình toán học có tính cách mạng của Grothendieck, đã từ bỏ toán học và trở thành một người làm vườn, tâm đắc với câu chuyện về những cây chanh, rằng khi chúng già đi, chúng sẽ chết vì quá sum suê, chúng sẽ chết sau một vụ mùa bội thu, với hoa trái trĩu cành, trĩu cành đến gãy cành, và sau một tuần mặt đất đầy mùi chanh thối - có lẽ người đó đã hiểu rằng con người cũng như vậy, sự phát triển quá độ sẽ chỉ dẫn tới một phong cảnh tiêu điều xộc mùi hôi thối. Nhưng không mấy ai chặn đứng được cám dỗ của sự tò mò với khoa học và phát triển. Những nhà khoa học vĩ đại nhất đã lao vào khoa học như một người chạy nạn lao vào hầm trú ẩn để chống đỡ sự độc ác của chiến tranh, hay, sự độc ác của con người (theo nghĩa đen), để rồi họ bị bắt sống bởi một thực thể còn độc ác, xảo quyệt hơn gấp nhiều lần: toán học.

Bởi toán học hứa hẹn cho ta trở thành chúa. Toán học là kinh thánh, một thứ kinh thánh ta không cần phải nghi ngờ, một thứ kinh thánh không nằm trong những huyền thoại mập mờ mà nằm ngay trên những con số tính toán được, chứng minh được, phải, rất phức tạp, nhưng chí ít, chứng minh được. Toán học là một vị chúa tể bao dung, nó cho phép ta đặt câu hỏi, tò mò, cho phép ta tìm ra nó, thay vì lẩn tránh như những vị thần tối cao khác trong truyền thống nhân học, luôn bắt ta phải tin, và một đức tin tiên nghiệm, tin dù không có sự bấu víu nào, một bằng chứng nào, như ông Job luôn tin thượng đế của ông. Bi kịch của những nhà khoa học bắt đầu từ đó: từ sự tin tưởng rằng toán học là đấng toàn năng luôn đúng, không bao giờ mâu thuẫn, ngẫu hứng, khó đoán như những vị chúa của tôn giáo hay triết học. “Khi ngày càng có nhiều phát hiện mới được đưa ra, người ta dần nhận ra rằng toán học thực ra không có một nền tảng mà ai cũng có thể đồng thuận. Nỗi nghi ngờ dai dẳng ấy - rằng toàn bộ vương quốc của họ được xây dựng trên hư vô - được gọi là “khủng hoảng về nền tảng của toán học”, và đó là cuộc chất vấn sâu sắc nhất đối với ngành này kể từ thời Hi Lạp cổ đại. Cuộc khủng hoảng ấy là một sự kiện kì lạ, có sự tham gia của những bộ óc nguyên bản và sáng suốt nhất trên thế giới. Nhưng khi nhìn lại, tôi thấy nó chẳng khác nào một cuộc truy tìm kiểu Arthur - nơi lí trí vượt quá giới hạn của chính nó, chỉ để rồi nhận ra trong tay mình là một chiếc chén thánh trống rỗng” (trích The Maniac). Hoá ra vị chúa khoa học cũng có một ván cược với quỷ dữ, hệt như vị chúa trong Sách Job. Khoa học, thứ luôn kiêu mạn về sự chính xác của mình, không bao giờ có một phiên bản nào khác của định lí Pythagore như các kinh điển tôn giáo thường có hằng hà sa số dị bản, cuối cùng cũng rất bất định: những hệ tiên đề tưởng như bất khả xâm phạm cũng hàm chứa những mệnh đề không thể khẳng định mà cũng không thể phủ định, và KHÔNG THỂ loại bỏ những mâu thuẫn và nghịch lí ra khỏi toán học. Tư duy lí trí có đường biên của nó. Nhưng điều đó lại không ngăn những nhà toán học khác muốn đi đến tận rìa mép của đường biên ấy, xem có vực thẳm nào ở đó. Từ khao khát rất trong sáng ấy, những bộ khung toán học quan trọng nhất của máy tính, của internet, của điện thoại thông minh, của trí tuệ nhân tạo, và còn những gì nữa có trời mới biết, ra đời.

Trong phần cuối cùng của The Maniac về cuộc đấu cờ vây giữa Lee Sedol và một cỗ máy, Benjamín Labatut đã bắt đầu bằng một thiên truyện cổ của người Trung Hoa về sự ra đời của cờ vây. Vua Nghiêu có một đứa con ngỗ ngược và hiếu sát, Đan Chu. Đan Chu không thích đọc, chẳng thích viết, thứ duy nhất nó thích là giết, giết tất cả những gì trên đường nó đi qua. Lo sợ về đứa con trai của mình, vua Nghiêu đã cầu xin các vị thần cùng với Bàn Cổ chia vũ trụ thành 19 hàng, 19 cột, và rủ Đan Chu đến chơi một trò chơi xem ai giành được nhiều lãnh thổ hơn. Ai giành được nhiều lãnh thổ hơn, kẻ đó sẽ thống trị vũ trụ.

Sau đó, Labatut mô tả về cuộc đời kì thủ bậc nhất Lee Sedol, đâu đó cũng có nét của một Đan Chu: ngang tàng, kiêu ngạo, trẻ con. Và cả người tạo ra AlphaGo cũng thế, Hassabis - nhà khởi nghiệp, nhà phát minh, một kì thủ - cũng là một kiểu Đan Chu.

Con người đều là những Đan Chu. Rất có thể chúng ta chỉ đang ở trong một ván cờ nơi Đan Chu chơi với Đan Chu, nhưng luật cờ lại không do chúng ta tạo nên. Chúng ta mong muốn trở thành thần thánh của thiên niên kỉ mới, tiếm quyền những thượng đế cổ xưa. Chúng ta đang tạo ra những thứ mà thượng đế cũng không tạo ra được, chúng ta đang tạo ra Sáng thế bằng thần khí của mình, với những cỗ máy biết suy nghĩ, biết chơi cờ, biết làm ra cái đẹp, như đúng tiên tri của John von Neumann, và nếu ông còn tiếp tục đúng, thì một ngày nào đó, những cỗ máy sẽ sinh sản, hệt như chúng ta. Nhưng rất có thể tất cả cũng chỉ nằm trong một hoạch định lớn lao hơn của vũ trụ, rằng con người, rồi cũng như vườn chanh, nếu chúng ta không chết vì chiến tranh toàn cầu, vì dịch bệnh, vì thảm hoạ, thì đến một lúc, ta sẽ chết vì chính hoa trái của mình, và chết không phải vì chúng ta dốt nát, mà chết vì chúng ta quá thông minh.

Thế thì quay lại câu hỏi đầu tiên: Nhà văn biết làm gì đây, trong thế giới đang kề cận một điểm kì dị? Mặc dù có thể không có một câu trả lời thấu đáo và đúng trọng tâm, nhưng có thể, rất có thể thôi, rằng nghề nghiệp ấy sẽ tiếp tục tồn tại, bởi nhà văn thì chưa bao giờ quá thông minh, không bao giờ quá chính xác, không bao giờ có tham vọng về sự chính xác, và vì thế không có một thế giới nào sẽ diệt vong vì văn chương phát triển vô hạn. Khi không có sự vô hạn, thì điểm kì dị sẽ bị vô hiệu hoá. Văn chương là một hi vọng nhỏ của chúng ta.

H.T

Nguồn: Văn Nghệ Quân Đội

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm