TIN TỨC

Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-04-02 17:48:29
mail facebook google pos stwis
288 lượt xem

HIỀN TRANG

Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:

Nhà văn đang sống trong một điểm kì dị của văn chương.

Điểm kì dị, theo đúng thuật ngữ vật lí, the singularity, cái điểm quái gở của lỗ đen bóp méo những định luật thông thường, nơi mật độ trở thành vô hạn và kéo đổ các mô hình vật lí hiện đại, cái điểm điên loạn mà Albert Einstein muốn chối bỏ như đứa con hoang sinh ra từ các phương trình của mình. Nhà văn đang sống trong điểm đó, hoặc chí ít, ta đang vượt qua chân trời sự kiện, ranh giới mà bước qua rồi thì không thể quay đầu trở lại nữa, và lao một mạch tới điểm kì dị.

 

 

Nhà văn, tất nhiên, với toàn bộ truyền thống cách mạng của nghề nghiệp này, không nói đầu hàng bao giờ. Khi bị đe doạ tước đoạt tư cách làm người viết thì chính là lúc nhà văn đã được trao cho một lí do để viết. Ta viết về chính kẻ đang manh nha cướp đoạt niềm kiêu hãnh của ta. The Maniac của Benjamín Labatut là một cuốn tiểu thuyết như thế, một cuốn tiểu thuyết đo đạc cuộc đời nhà toán học người Mĩ gốc Hungary, John von Neumann, người mà khi nằm trên giường bệnh ở tuổi 53, vây quanh ông là “chuẩn đô đốc Lewis Strauss - chủ tịch ủy ban năng lượng nguyên tử; bộ trưởng quốc phòng; thứ trưởng quốc phòng; các bộ trưởng không quân, lục quân và hải quân; cùng các tổng tham mưu trưởng - tất cả đều chờ đợi một tia sáng cuối, thêm một ý tưởng nữa từ con người đã khai sinh ra máy tính hiện đại, đặt nền tảng toán học cho cơ học lượng tử, viết nên phương trình cho cơ chế nổ bên trong của bom nguyên tử, khai sinh lí thuyết trò chơi và hành vi kinh tế, mở ra kỉ nguyên của sự sống kĩ thuật số, máy tự sinh sản, trí tuệ nhân tạo và điểm kì dị công nghệ, người đã hứa hẹn ban cho họ quyền năng thần thánh để kiểm soát khí hậu trái đất - giờ đây đang dần tàn lụi trước mắt họ, gào thét trong đau đớn, mê sảng, hấp hối, như bất kì con người nào khác” (trích đoạn này là do ChatGPT dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt); và thu thập những manh mối về quá trình ra đời đầy những đường vòng, những khúc ngoặt, những gấp khúc, những mê lộ, những ngã rẽ khác thường để rồi khai sinh ra trí tuệ nhân tạo - những thực thể không có cơ thể vật lí, trôi nổi và dập dềnh trong một vùng không gian khác, vậy nhưng vẫn biết học tập, biết suy nghĩ, biết tạo ra thứ mà ta tưởng các nữ thần chỉ ban riêng ta: khả năng kiến tạo cái đẹp.

Và như mọi lịch sử, lịch sử những cỗ máy trí tuệ này cũng không minh định. Đó là một lịch sử đa thanh, với nguồn gốc không rõ ràng, và ngay cả trong một thế kỉ mà quá trình phát minh và khám phá đều được ghi lại cẩn mật và kĩ càng, dường như vẫn có rất nhiều thứ nằm ngoài khả năng ghi chép của con người, như là cơn mất trí, dù là tạm thời hay dài lâu, của những con người đã ngó thấy sự khải huyền về cõi phi lí của công nghệ.

The Maniac gồm ba phần lớn: mở đầu là thời đại tiền Neumann, với nhân vật chính là Paul Ehrenfest, một nhà vật lí lí thuyết với đóng góp vượt bậc cho cơ học lượng tử dù ông không thể nào chấp nhận được thế giới phi lí mà vật lí lượng tử ngự trị, ông phát điên, giết đứa con trai mắc chứng down, và tự sát; phần hai là lời chứng về cuộc đời của Newmann, người được ban phước và bị nguyền bởi số phận một thiên tài, qua giọng kể của người thân, cộng sự, kẻ thù; và khép lại với thời kì hậu Newmann, cụ thể là một mise-en-scène về cuộc đấu cờ vây lịch sử, nơi Lee Sedol vĩ đại chơi năm ván cờ cùng AlphaGo, thua tới bốn, choáng ngợp trước một nước cờ không có trong bất cứ kì phổ nào mà cỗ máy đã chơi, và suốt những ngày thi đấu, anh gầy rộc đi, không thiếu những cơn mê sảng.

Benjamín Labatut sinh năm 1980, người Chile. Cần phải nhắc tới năm sinh, vì có lẽ đã đến lúc những nhà văn của thế hệ 80 hết trẻ. Hết trẻ nên họ bắt đầu bước vào thời đỉnh cao của nghề tiểu thuyết. Họ bắt đầu viết ra những tác phẩm lớn từ quan sát thời đại của mình.

Văn nghiệp của Labatut được xây dựng từ một nền móng, tạm gọi là một “giả thuyết”: những phát kiến quan trọng nhất của toán học - vật lí đã tạo nên khuôn khổ cho công nghệ hiện đại đều ra đời vào thời điểm hỗn loạn của thế giới, một thế giới của Nazi, của bom nguyên tử. Trong hiện thực, sự ổn định suốt hàng thế kỉ tan vỡ, thế vào đó là những cuộc chiến tranh diện rộng, entropy của bạo lực và cái ác vượt qua mọi ngưỡng tưởng tượng, người ta không còn đoán biết được tương lai. Trong khoa học, thế giới quan truyền thống của Euclid, của Newton đã tồn tại hàng trăm năm, ngàn năm, đột nhiên không còn mang tính phổ quát mà chỉ còn là một trường hợp đặc biệt, và rồi cơ học lượng tử giá đáo, đảo ngược mọi thứ ta từng biết về bản chất vũ trụ quanh mình, đồng thời hé lộ những khả thể cho phép ta tạo ra Sáng thế thứ hai, nơi ta là chúa, và sẽ có những sinh vật mới, sinh ra từ những con số.

Một tác phẩm của Labatut đã được dịch sang tiếng Việt, Un Verdor Terrible (bản dịch của Tôm Giang do Nhã Nam ấn hành: Khi ta không còn hiểu thế giới), tập hợp tiểu luận - truyện ngắn - tiểu luận hư cấu - novella được viết với văn phong có mùi vị Sebaldian, nghĩa là như một toàn thể bị vỡ ra thành trăm mảnh, nhưng việc lắp ghép hàng trăm mảnh sẽ không mang lại cho ta một toàn thể vẹn nguyên như cũ. Đó không phải sự rã đám như trong thế giới của Roberto Bolaño, một nhà văn Chile khác, người cũng tạo ra những lỗ đen, những điểm kì dị trong văn chương, chẳng hạn như thành phố Santa Maria của tiểu thuyết 2666, nơi đặc quánh những vụ án giết phụ nữ, một thành phố cũng đổ sụp vào bên trong chính nó vì trọng lượng quá tải của bạo lực dồn trong một diện tích nhỏ; chẳng hạn như người đàn bà đã khai sinh ra một chủ nghĩa văn chương sớm nở tối tàn, phá huỷ hết những quy cách nghệ thuật, một điểm kì dị di động khiến những hậu bối không ngừng tìm kiếm. Tuy vậy, sự rã đám trong thế giới của Bolaño dù đồ sộ hơn lại không rộng khắp bằng, sự rã đám của Bolaño cục bộ, sự rã đám của Sebald hay Labatut thì gọn gàng hơn (các tác phẩm không quá dày) nhưng lại đi một vòng khắp thế giới. Tận thế của Bolaño cũng khác với tận thế của Labatut. Tận thế của Bolaño nằm trong sự tuyệt vọng, tận thế của Labatut nằm trong những hi vọng: giây phút các nhà khoa học tìm ra một khía cạnh nào đó của bản chất vũ trụ, đó là giây phút họ nắm trong tay quyền năng phá huỷ thế giới, họ là những kẻ “bước đều như những kẻ mộng du tiến thẳng tới tận thế” (trích Un Verdor Terrible/ Khi ta không còn hiểu thế giới). Trong văn chương của Labatut mang tinh thần Sebald, ta đã lỡ mất cơ hội được nhìn thấy thế giới thuở còn nguyên vẹn, đây không phải trò xếp hình nơi sự cắt nhỏ chỉ là một thủ thuật, một trò chơi; không, thế giới đã vỡ thật rồi, các mảnh đã phân tán, và entropy (đại lượng đo lường sự mất trật tự của một hệ thống) thì luôn tăng.

Nhân tiện, Boltzmann, nhà vật lí tìm ra công thức về entropy, cũng là một nhân vật trong chuỗi tác phẩm của Labatut về các nhà khoa học. Và Boltzmann cũng có một số phận thảm thiết. Ông trầm cảm, “treo cổ tự vẫn bằng một sợi thừng ngắn trên khung cửa sổ trong một căn phòng ở khách sạn Ples, trong kì nghỉ hè tại Duino, gần Trieste, khi vợ và cô con gái nhỏ của ông đang đi bơi trong làn nước biển Adriatic êm đềm, xanh ngọc” (trích The Maniac). Nhưng Boltzmann cũng không phải nhà vật lí duy nhất trong thế kỉ XX phát điên. Điên loạn có lẽ là dịch bệnh của giới khoa học gia thời kì ấy, mà cũng không thể khác được, với những gì họ tìm ra. Nhà nghệ thuật bị hư cấu mình sáng tác ra vận vào cuộc đời; nhà khoa học bị sự thật mình khám phá thấy vận vào số mệnh.

Trong bộ phim điện ảnh Đức mang tên Die Theorie von Allem (Thuyết vạn vật) của Tim Timm Kröger, một nhà vật lí trẻ tuổi cùng thầy mình tham gia một toạ đàm đặc biệt trên dãy Alps. Anh đang ấp ủ một công trình kì lạ về thời gian. Nhưng cũng chính trên triền núi Alps, những cái chết bí ẩn bắt đầu xảy ra, và anh dần hiểu rằng tất cả những bí ẩn đó có liên quan đến công thức mà anh đang tính toán. Anh đã nhác thấy một sự thật kì dị, méo mó đang vận hành vũ trụ này. Và sự thật vốn là thứ không nên thấy, không nên biết, chừng nào còn muốn sống trong Địa đàng. Một khi đã thấy sự thật, đã để lộ thiên cơ, thì tất yếu, anh đừng mong bước ra còn toàn vẹn - ai cho con người diện nhan chúa? “Ngươi không thể thấy mặt Ta, vì không ai thấy mặt Ta mà còn sống” (Sách Xuất Hành 33:20). Những kẻ nhìn thấy mặt chúa, và tiếc thay, chẳng phải một gương mặt của vẻ đẹp hài hoà, trật tự, tỉ lệ vàng, mà lại là một gương mặt ác mộng, anh ta tất yếu phải trả giá.

Những nhà khoa học cơ bản thế kỉ XX được kể trong các tác phẩm của Labatut (một loạt tên tuổi lừng danh nhất), đều là nạn nhân của sự thật. Họ đều thấy bóng dáng phần quỷ phi lí trí trong vũ trụ, và bị con quỷ ấy ám nguyền, theo nhiều cách khác nhau. Không thể hạnh phúc khi đã trông thấy con quỷ ấy. Schwarzschild, Heisenberg, Schrödinger, Boltzmann, Grothendieck, Neumann, Gödel, Ehrenfest, Barricelli, Turing, Mochizuki, De Brogli... Kẻ nhịn ăn đến chết, kẻ chết vì khí độc, kẻ sống cô lập từ chối dùng điện và nước, kẻ sống trong những cơn sốt thường trực của bệnh lao… Kẻ nào cũng hoặc mê mụ, hoặc ghê tởm, hoặc phát cuồng, hoặc kinh hoàng trước những gì mình tìm thấy. Cách duy nhất để sống an thân, như truyện ngắn Khi ta không còn hiểu thế giới khép lại, một nhà toán học, sau khi tiếp xúc những công trình toán học có tính cách mạng của Grothendieck, đã từ bỏ toán học và trở thành một người làm vườn, tâm đắc với câu chuyện về những cây chanh, rằng khi chúng già đi, chúng sẽ chết vì quá sum suê, chúng sẽ chết sau một vụ mùa bội thu, với hoa trái trĩu cành, trĩu cành đến gãy cành, và sau một tuần mặt đất đầy mùi chanh thối - có lẽ người đó đã hiểu rằng con người cũng như vậy, sự phát triển quá độ sẽ chỉ dẫn tới một phong cảnh tiêu điều xộc mùi hôi thối. Nhưng không mấy ai chặn đứng được cám dỗ của sự tò mò với khoa học và phát triển. Những nhà khoa học vĩ đại nhất đã lao vào khoa học như một người chạy nạn lao vào hầm trú ẩn để chống đỡ sự độc ác của chiến tranh, hay, sự độc ác của con người (theo nghĩa đen), để rồi họ bị bắt sống bởi một thực thể còn độc ác, xảo quyệt hơn gấp nhiều lần: toán học.

Bởi toán học hứa hẹn cho ta trở thành chúa. Toán học là kinh thánh, một thứ kinh thánh ta không cần phải nghi ngờ, một thứ kinh thánh không nằm trong những huyền thoại mập mờ mà nằm ngay trên những con số tính toán được, chứng minh được, phải, rất phức tạp, nhưng chí ít, chứng minh được. Toán học là một vị chúa tể bao dung, nó cho phép ta đặt câu hỏi, tò mò, cho phép ta tìm ra nó, thay vì lẩn tránh như những vị thần tối cao khác trong truyền thống nhân học, luôn bắt ta phải tin, và một đức tin tiên nghiệm, tin dù không có sự bấu víu nào, một bằng chứng nào, như ông Job luôn tin thượng đế của ông. Bi kịch của những nhà khoa học bắt đầu từ đó: từ sự tin tưởng rằng toán học là đấng toàn năng luôn đúng, không bao giờ mâu thuẫn, ngẫu hứng, khó đoán như những vị chúa của tôn giáo hay triết học. “Khi ngày càng có nhiều phát hiện mới được đưa ra, người ta dần nhận ra rằng toán học thực ra không có một nền tảng mà ai cũng có thể đồng thuận. Nỗi nghi ngờ dai dẳng ấy - rằng toàn bộ vương quốc của họ được xây dựng trên hư vô - được gọi là “khủng hoảng về nền tảng của toán học”, và đó là cuộc chất vấn sâu sắc nhất đối với ngành này kể từ thời Hi Lạp cổ đại. Cuộc khủng hoảng ấy là một sự kiện kì lạ, có sự tham gia của những bộ óc nguyên bản và sáng suốt nhất trên thế giới. Nhưng khi nhìn lại, tôi thấy nó chẳng khác nào một cuộc truy tìm kiểu Arthur - nơi lí trí vượt quá giới hạn của chính nó, chỉ để rồi nhận ra trong tay mình là một chiếc chén thánh trống rỗng” (trích The Maniac). Hoá ra vị chúa khoa học cũng có một ván cược với quỷ dữ, hệt như vị chúa trong Sách Job. Khoa học, thứ luôn kiêu mạn về sự chính xác của mình, không bao giờ có một phiên bản nào khác của định lí Pythagore như các kinh điển tôn giáo thường có hằng hà sa số dị bản, cuối cùng cũng rất bất định: những hệ tiên đề tưởng như bất khả xâm phạm cũng hàm chứa những mệnh đề không thể khẳng định mà cũng không thể phủ định, và KHÔNG THỂ loại bỏ những mâu thuẫn và nghịch lí ra khỏi toán học. Tư duy lí trí có đường biên của nó. Nhưng điều đó lại không ngăn những nhà toán học khác muốn đi đến tận rìa mép của đường biên ấy, xem có vực thẳm nào ở đó. Từ khao khát rất trong sáng ấy, những bộ khung toán học quan trọng nhất của máy tính, của internet, của điện thoại thông minh, của trí tuệ nhân tạo, và còn những gì nữa có trời mới biết, ra đời.

Trong phần cuối cùng của The Maniac về cuộc đấu cờ vây giữa Lee Sedol và một cỗ máy, Benjamín Labatut đã bắt đầu bằng một thiên truyện cổ của người Trung Hoa về sự ra đời của cờ vây. Vua Nghiêu có một đứa con ngỗ ngược và hiếu sát, Đan Chu. Đan Chu không thích đọc, chẳng thích viết, thứ duy nhất nó thích là giết, giết tất cả những gì trên đường nó đi qua. Lo sợ về đứa con trai của mình, vua Nghiêu đã cầu xin các vị thần cùng với Bàn Cổ chia vũ trụ thành 19 hàng, 19 cột, và rủ Đan Chu đến chơi một trò chơi xem ai giành được nhiều lãnh thổ hơn. Ai giành được nhiều lãnh thổ hơn, kẻ đó sẽ thống trị vũ trụ.

Sau đó, Labatut mô tả về cuộc đời kì thủ bậc nhất Lee Sedol, đâu đó cũng có nét của một Đan Chu: ngang tàng, kiêu ngạo, trẻ con. Và cả người tạo ra AlphaGo cũng thế, Hassabis - nhà khởi nghiệp, nhà phát minh, một kì thủ - cũng là một kiểu Đan Chu.

Con người đều là những Đan Chu. Rất có thể chúng ta chỉ đang ở trong một ván cờ nơi Đan Chu chơi với Đan Chu, nhưng luật cờ lại không do chúng ta tạo nên. Chúng ta mong muốn trở thành thần thánh của thiên niên kỉ mới, tiếm quyền những thượng đế cổ xưa. Chúng ta đang tạo ra những thứ mà thượng đế cũng không tạo ra được, chúng ta đang tạo ra Sáng thế bằng thần khí của mình, với những cỗ máy biết suy nghĩ, biết chơi cờ, biết làm ra cái đẹp, như đúng tiên tri của John von Neumann, và nếu ông còn tiếp tục đúng, thì một ngày nào đó, những cỗ máy sẽ sinh sản, hệt như chúng ta. Nhưng rất có thể tất cả cũng chỉ nằm trong một hoạch định lớn lao hơn của vũ trụ, rằng con người, rồi cũng như vườn chanh, nếu chúng ta không chết vì chiến tranh toàn cầu, vì dịch bệnh, vì thảm hoạ, thì đến một lúc, ta sẽ chết vì chính hoa trái của mình, và chết không phải vì chúng ta dốt nát, mà chết vì chúng ta quá thông minh.

Thế thì quay lại câu hỏi đầu tiên: Nhà văn biết làm gì đây, trong thế giới đang kề cận một điểm kì dị? Mặc dù có thể không có một câu trả lời thấu đáo và đúng trọng tâm, nhưng có thể, rất có thể thôi, rằng nghề nghiệp ấy sẽ tiếp tục tồn tại, bởi nhà văn thì chưa bao giờ quá thông minh, không bao giờ quá chính xác, không bao giờ có tham vọng về sự chính xác, và vì thế không có một thế giới nào sẽ diệt vong vì văn chương phát triển vô hạn. Khi không có sự vô hạn, thì điểm kì dị sẽ bị vô hiệu hoá. Văn chương là một hi vọng nhỏ của chúng ta.

H.T

Nguồn: Văn Nghệ Quân Đội

Bài viết liên quan

Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm