TIN TỨC

Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-04-19 08:48:41
mail facebook google pos stwis
300 lượt xem

NGUYỄN VIỆT CHIẾN

Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.

 

Nhà thơ Chế Lan Viên

 

Với tầm vóc tư tưởng lớn và phong cách thơ nghiêng về triết học, Chế Lan Viên không chỉ góp phần đổi mới diện mạo thơ Việt mà còn mở ra những chiều sâu nhận thức mới cho thi ca hiện đại.

Ông là nhà thơ của những câu hỏi triết lý, của khắc khoải suy tư và của sự hòa quyện giữa cá nhân và thời đại. Ông bắt đầu sự nghiệp thơ ca từ rất sớm, năm 17 tuổi đã nổi tiếng ngay từ tập thơ đầu tay Điêu tàn (1937) - một hiện tượng độc đáo của Thơ Mới với âm điệu lạ lùng, đầy mê hoặc, mang đậm màu sắc siêu thực và tâm linh. Tuy chưa mang màu sắc cách mạng, nhưng tập thơ đã cho thấy một nội tâm u uẩn và khát vọng tìm kiếm cái đẹp siêu hình, điều sau này sẽ phát triển thành những chiều sâu tư tưởng trong thơ kháng chiến và thơ triết lý của ông.

Sau Cách mạng Tháng Tám, Chế Lan Viên bước sang một thời kỳ thơ mới, gắn bó với lý tưởng cách mạng, với công cuộc kháng chiến và xây dựng đất nước. Từ một thi sĩ siêu hình chuyển mình thành một chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng nghệ thuật, ông không chỉ viết thơ để phản ánh hiện thực mà còn dùng thơ để lý giải và nâng tầm hiện thực bằng tư duy triết học sắc bén. Điểm nổi bật trong phong cách thơ Chế Lan Viên là tính triết lý sâu sắc, tính chất "tư duy hóa" trong thơ, điều mà không nhiều nhà thơ thời đó dám thể nghiệm đến tận cùng. Ở ông, thơ không chỉ là tiếng lòng mà còn là tiếng nói của trí tuệ, của ý thức dân tộc và nhân loại. Câu chữ trong thơ ông nhiều khi mang dáng dấp của triết luận, của sự truy vấn và phản tư:

"Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở

Khi ta đi, đất bỗng hóa tâm hồn"

Những câu thơ ấy thể hiện sự vận động của cảm xúc cá nhân hòa vào chiều sâu tư tưởng dân tộc, là sự kết tinh giữa cái cụ thể và cái trừu tượng, giữa đất và người, giữa cá nhân và cộng đồng.

Chế Lan Viên cũng nổi bật với ngôn ngữ hàm súc, cô đọng, nhiều tầng nghĩa, tạo nên một trường thơ mang chiều sâu tâm linh và lý tính. Ông là một trong những người tiên phong đưa thơ vào chiều sâu lý luận, làm phong phú thêm cho nền thơ chống Pháp và chống Mỹ bằng cách không chỉ thể hiện tinh thần chiến đấu mà còn là tấm gương phản chiếu những suy ngẫm về giá trị, lý tưởng và hy sinh.

Trong bài Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng, Chế Lan Viên đã nhấn mạnh phong cách thi ca nói trên: Hỡi sông Hồng tiếng hát bốn nghìn năm/Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?/Chưa đâu! Và ngay cả trong những ngày đẹp nhất/Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc/Nguyễn Du viết Kiều, đất nước hóa thành văn/ (…) Những ngày tôi sống đây là ngày đẹp hơn tất cả/Dù mai sau đời muôn vạn lần hơn/Trái cây rơi vào áo người ngắm quả/Đường nhân loại đi qua bóng lá xanh rờn…".

 

Để lại một di sản thi ca quý giá

Nhà thơ Chế Lan Viên tên khai sinh là Phan Ngọc Hoan, sinh năm 1920 tại Diễn Châu, Nghệ An, đảng viên Đảng Công sản VN, hội viên Hội Nhà văn VN (1957). Ông mất năm 1989 tại TP.HCM. Hồi nhỏ ông sống ở Quy Nhơn. Năm 1939 ông ra học ở Hà Nội, sau đó vào làm báo ở Sài Gòn, rồi dạy học ở Thanh Hóa và Huế. Tháng 8.1945 ông tham gia cách mạng tại Quy Nhơn, sau đó ra Huế làm báo Quyết thắng của Việt Minh Trung bộ. Trong kháng chiến chống Pháp, ông làm báo ở Liên khu IV, khi ở Thanh Hóa, khi ở vùng bị chiếm Bình Trị Thiên. Hòa bình lập lại, Chế Lan Viên hoạt động ở Hà Nội, đã đảm nhiệm nhiều công việc: Ủy viên Thường vụ Hội Nhà văn VN; Đại biểu Quốc hội các khóa IV, V, VI, VII; Ủy viên Ban Thống nhất của Quốc hội khóa IV và V.

Bước vào thời kỳ Đổi mới, Chế Lan Viên cũng là một trong những người đầu tiên đặt lại vấn đề về trách nhiệm của người nghệ sĩ thời hậu chiến. Bài thơ Tháp Bay-on bốn mặt viết năm 1988 là một cách nhìn mới chiêm nghiệm lại mình và mọi người trong quá khứ: "Anh là tháp Bay-on bốn mặt/Giấu đi ba, còn lại đấy là anh/Chỉ mặt đó mà nghìn trò cười khóc/Làm đau ba mặt kia trong cõi ẩn hình".

Chế Lan Viên để lại nhiều bài học sâu sắc cho thế hệ làm thơ sau này: Thơ không chỉ là cảm xúc mà còn là trí tuệ. Thơ có thể là phương tiện để truy vấn, để phản tỉnh, để lý giải những vấn đề lớn lao của dân tộc và nhân loại. (còn tiếp)

 

Các tác phẩm đã xuất bản của Chế Lan Viên

Thơ: Điêu tàn (1937); Gửi các anh (1954); Ánh sáng và phù sa (1960); Hoa ngày thường - Chim báo bão (1967); Những bài thơ đánh giặc (1972); Đối thoại mới (1973); Hoa trước lăng Người (1976); Hái theo mùa (1977); Hoa trên đá (1985); Tuyển tập Chế Lan Viên (2 tập, 1985); Di cảo I (1994); Di cảo II (1995).

Các tập ký: Vàng sao (1942); Thăm Trung Quốc (1963); Những ngày nổi giận (1966); Giờ của số thành (1977).

Tiểu luận, phê bình, trao đổi nghề nghiệp: Nói chuyện văn thơ (1960); Phê bình văn học (1962); Vào nghề (1962); Suy nghĩ và bình luận (1971); Bay theo đường dân tộc đang bay (1976); Nghĩ cạnh dòng mở (1981); Từ gác Khuê Văn đến quán Trung Tân (1981).

Các giải thưởng văn họcGiải A giải thưởng Hội Nhà văn VN năm 1994 (Di cảo I và Di cảo II); Giải thưởng của Hội Nhà văn VN năm 1995 (tập thơ Hoa trên đá); Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học - Nghệ thuật đợt I năm 1996.

N.V.C

Nguồn: Báo Thanh Niên

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm