TIN TỨC

Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-04-08 12:54:35
mail facebook google pos stwis
290 lượt xem

Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình "Những miền quê trong thơ Việt" - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.

Tất nhiên cầu kỳ thế không có nghĩa nội dung bị xem nhẹ. Sau này tôi thêm một lần đồng cảm với nữ nhà thơ Lữ Mai trong tập thơ "Dắt nhau về cũ" cũng viết về các tỉnh thành trong cả nước…

Tất nhiên đó chỉ là cái cớ! Tập bình thơ về các vùng miền này cũng vậy, các bài thơ được chọn để bình đã vượt khỏi ranh giới hành chính.

 

Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình - ảnh 1

Bìa sách “Những miền quê trong thơ Việt” - nơi các địa danh đất nước được “vẽ lại” bằng thơ và lời bình, tạo nên một bản đồ cảm xúc giàu chiều sâu

 

Hành trình cảm xúc trên đất Việt

Xứ mình dài - rộng - dọc - ngang - núi - sông - trời - biển đâu đâu cũng có các nhà thơ, các bài thơ ngâm ngợi thù tạc kiểu Bà Huyện Thanh Quan tức cảnh sinh tình nơi con đèo lãng mạn bậc nhất nước Việt… Các miền quê vào thơ với đủ sắc thái chung - riêng: Viết vì một ai đó; viết sau một lần lang bạt đến; viết để lưu dấu, để ngỏ lời… 36 bài thơ đợt này, hai nhà phê bình văn học Nguyễn Hoài Nam và Đỗ Anh Vũ chọn bình, gắn với nhiều địa danh viết theo “đơn đặt hàng” từ trái tim. Viết bằng cảm xúc mới quý; không chạy theo các chuyến cơ sở đón mời, các trại sáng tác…, nghe đọc báo cáo, đi thăm đây đó, tiệc tùng…, rồi viết ào nhiều bài na ná nhau: Anh đưa em thăm quê anh, có tiềm năng này, tiềm năng kia, địa danh này, thắng cảnh nọ…, liệt kê như ngành du lịch khoe thế mạnh.

Có một giai thoại về nhạc sĩ Trần Chung, sinh thời, một bận ông và đoàn nhạc sĩ được Vườn Quốc gia Cúc Phương mời về sáng tác. Trong lúc lãnh đạo tiếp đoàn, cung cấp thông tin khái quát về Vườn, Trần Chung trốn đi đâu không ai biết. Mọi người chia nhau vào sâu trong Vườn tìm, thấy nhạc sĩ nằm ngủ dưới gốc “cây chò ngàn năm”, ngay cạnh chai rượu uống dở… Sau chuyến ấy, Trần Chung có ca khúc Nhớ về Cúc Phương để đời với giọng ca Trung Đức.

34 tác giả trong tập sách phần lớn là các tên tuổi trong làng thơ Việt: Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Tế Hanh, Nguyễn Bính, Hoàng Cầm, Nguyễn Duy, Thu Bồn, Phan Thị Thanh Nhàn… và một vài gương mặt trẻ. 36 bài thơ đủ các thể: Lục bát, 5 chữ, 6 chữ, thơ tự do… cũng chiếm tối đa là các bài nổi tiếng. Thơ và tác giả đã sống trong trí nhớ người yêu thơ, có thể kể ra đây theo chiều dài đất nước và chiều dọc thời gian - ý tưởng lựa chọn của hai đồng chủ biên.

Những Tiếng hát con tàu (Chế Lan Viên); Khau Vai (Trần Hòa Bình); Mưa Thuận Thành (Hoàng Cầm); Đêm sông Cầu (Đỗ Trung Lai); Áo lụa Hà Đông (Nguyên Sa); Hà Nội vắng em (Tế Hanh); Đò Lèn (Nguyễn Duy); Miền Trung (Hoàng Trần Cương); Giời mưa ở Huế (Nguyễn Bính); Tạm biệt Huế (Thu Bồn); Còn chút gì để nhớ (Vũ Hữu Định); Đèo Cả (Hữu Loan); Mũi Cà Mau (Xuân Diệu)… là những “cột mốc” thơ neo trên bản đồ địa danh đất Việt. Mới trích nhanh như thế đã đủ thấy sự hấp dẫn của tập sách với độ sắc và tinh của nhóm chủ biên.

Cách dàn trận chữ nghĩa cơ bản thống nhất giữa hai chủ biên từ dung lượng cho đến kết cấu bài bình. Ta có thể thấy sự đồng điệu trong cách mở tung vài nét lý lịch bài thơ, tác giả, rồi tỉa vào từng chi tiết, làm bật tứ bài thơ và găm chặt ý chốt. Công thức vậy nhưng vẫn có những nét “óng ánh” riêng của mỗi người; sự đa sắc của chính các bài thơ với nhiều thi ảnh, cấu tứ khác nhau khiến các “shot” bình cũng nhờ thế không chệch hướng rơi vào đơn điệu.

 

Chạm vào “huyệt đạo” của thi ca

Thơ hay ắt có đất để bình, tất nhiên bình sao để tạo được một văn bản liên thông lại là một chuyện khác, với “đề bài” lời bình phải gọn, sắc, tối đa 300 chữ, để chỉ dẫn những ai chưa biết sẽ tìm đến bài thơ hoặc gói lại “lời bạt” tối giản trong mối đồng cảm với những người đã đọc; và cung cấp cho các thầy cô giáo, các học sinh, sinh viên học Ngữ Văn như một dạng ngữ liệu tham khảo…

Viết cực ngắn - cực khó, nói như nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm, đó phải là thứ “văn bia”, chốt câu nào “chết cứng” câu đó. Thơ hay, nhiều ý tại ngôn ngoại, bài bình ngắn phải “điểm” chuẩn những “huyệt đạo” quan trọng trên cơ thể bài thơ. Xin “điểm” vài “huyệt đạo” mà Đỗ Anh Vũ và Nguyễn Hoài Nam đã “điểm” để thấy sự dụng công của hai tác giả.

Đỗ Anh Vũ chốt về Khau Vai (Trần Hòa Bình): “Câu thơ như một nhận định phổ quát cho mọi kiếp người: Ai trong đời chẳng có một Khau Vai”; về Phố Phái (Nguyễn Việt Chiến): “Thi sĩ giống như bước từ những bức tranh ra cõi người, đã tạm khép lại một cơn mộng du để đón những tia nắng ấm áp, những tiếng chim líu lo ríu rít”.

Trong khi đó, Nguyễn Hoài Nam cũng tối giản không kém khi kết bài bình về Đò Lèn (Nguyễn Duy) bằng câu ngắn mà nặng: “Có thể đọc và xem bài thơ Đò Lèn như lời sám hối của Nguyễn Duy trước vong linh bà, một lời sám hối thành thực và cảm động về tất cả những gì mà tuổi thơ ông đã vô tư được hưởng trên sự cơ cực của bà”; và đây nữa: “Nhà thơ Trần Mạnh Hảo vốn không xuất thân xứ Nghệ, nhưng với bài thơ Sông Lam, có thể nói rằng ông đã để lại cho xứ Nghệ một bài tỉnh thi”. Có lời bình sắc lẹm: “Hoa đỏ cứa vào rừng là một câu thơ tài hoa, như nhát chém thật ngọt cho một sự chia lìa” (Đỗ Anh Vũ); và trong trẻo như thơ: “Còn một chút gì để nhớ, bài thơ ra đời trong bối cảnh chiến tranh khốc liệt, nhưng lại dịu mát như một giọt sương chiều nơi phố núi Tây Nguyên” (Nguyễn Hoài Nam)…

Còn nhiều vùng đất và thi phẩm, hai tác giả đồng chủ biên chưa chạm tới, không phải do bàn chân thấm mỏi mà chỉ vì giới hạn khuôn khổ “chuyến đi”. Khi “tấm bản đồ” đất Việt bằng thơ và bình đã được phác thảo, cũng phải nhắc đến vai trò thiết kế mỹ thuật của họa sĩ Trần Thắng, 36 bức minh họa đẹp một cách thăng hoa và hợp lý của họa sĩ Lê Cường, giờ là lúc chúng ta lật giở trang sách và tự điền thêm cho riêng mình những “cột mốc” thơ trong suốt chiều dài miền chữ S và lịch sử thơ ca đất Việt.

Trần Nhật Minh

Nguồn: Báo Văn Hóa

Bài viết liên quan

Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm