TIN TỨC

Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-04-08 12:54:35
mail facebook google pos stwis
427 lượt xem

Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình "Những miền quê trong thơ Việt" - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.

Tất nhiên cầu kỳ thế không có nghĩa nội dung bị xem nhẹ. Sau này tôi thêm một lần đồng cảm với nữ nhà thơ Lữ Mai trong tập thơ "Dắt nhau về cũ" cũng viết về các tỉnh thành trong cả nước…

Tất nhiên đó chỉ là cái cớ! Tập bình thơ về các vùng miền này cũng vậy, các bài thơ được chọn để bình đã vượt khỏi ranh giới hành chính.

 

Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình - ảnh 1

Bìa sách “Những miền quê trong thơ Việt” - nơi các địa danh đất nước được “vẽ lại” bằng thơ và lời bình, tạo nên một bản đồ cảm xúc giàu chiều sâu

 

Hành trình cảm xúc trên đất Việt

Xứ mình dài - rộng - dọc - ngang - núi - sông - trời - biển đâu đâu cũng có các nhà thơ, các bài thơ ngâm ngợi thù tạc kiểu Bà Huyện Thanh Quan tức cảnh sinh tình nơi con đèo lãng mạn bậc nhất nước Việt… Các miền quê vào thơ với đủ sắc thái chung - riêng: Viết vì một ai đó; viết sau một lần lang bạt đến; viết để lưu dấu, để ngỏ lời… 36 bài thơ đợt này, hai nhà phê bình văn học Nguyễn Hoài Nam và Đỗ Anh Vũ chọn bình, gắn với nhiều địa danh viết theo “đơn đặt hàng” từ trái tim. Viết bằng cảm xúc mới quý; không chạy theo các chuyến cơ sở đón mời, các trại sáng tác…, nghe đọc báo cáo, đi thăm đây đó, tiệc tùng…, rồi viết ào nhiều bài na ná nhau: Anh đưa em thăm quê anh, có tiềm năng này, tiềm năng kia, địa danh này, thắng cảnh nọ…, liệt kê như ngành du lịch khoe thế mạnh.

Có một giai thoại về nhạc sĩ Trần Chung, sinh thời, một bận ông và đoàn nhạc sĩ được Vườn Quốc gia Cúc Phương mời về sáng tác. Trong lúc lãnh đạo tiếp đoàn, cung cấp thông tin khái quát về Vườn, Trần Chung trốn đi đâu không ai biết. Mọi người chia nhau vào sâu trong Vườn tìm, thấy nhạc sĩ nằm ngủ dưới gốc “cây chò ngàn năm”, ngay cạnh chai rượu uống dở… Sau chuyến ấy, Trần Chung có ca khúc Nhớ về Cúc Phương để đời với giọng ca Trung Đức.

34 tác giả trong tập sách phần lớn là các tên tuổi trong làng thơ Việt: Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Tế Hanh, Nguyễn Bính, Hoàng Cầm, Nguyễn Duy, Thu Bồn, Phan Thị Thanh Nhàn… và một vài gương mặt trẻ. 36 bài thơ đủ các thể: Lục bát, 5 chữ, 6 chữ, thơ tự do… cũng chiếm tối đa là các bài nổi tiếng. Thơ và tác giả đã sống trong trí nhớ người yêu thơ, có thể kể ra đây theo chiều dài đất nước và chiều dọc thời gian - ý tưởng lựa chọn của hai đồng chủ biên.

Những Tiếng hát con tàu (Chế Lan Viên); Khau Vai (Trần Hòa Bình); Mưa Thuận Thành (Hoàng Cầm); Đêm sông Cầu (Đỗ Trung Lai); Áo lụa Hà Đông (Nguyên Sa); Hà Nội vắng em (Tế Hanh); Đò Lèn (Nguyễn Duy); Miền Trung (Hoàng Trần Cương); Giời mưa ở Huế (Nguyễn Bính); Tạm biệt Huế (Thu Bồn); Còn chút gì để nhớ (Vũ Hữu Định); Đèo Cả (Hữu Loan); Mũi Cà Mau (Xuân Diệu)… là những “cột mốc” thơ neo trên bản đồ địa danh đất Việt. Mới trích nhanh như thế đã đủ thấy sự hấp dẫn của tập sách với độ sắc và tinh của nhóm chủ biên.

Cách dàn trận chữ nghĩa cơ bản thống nhất giữa hai chủ biên từ dung lượng cho đến kết cấu bài bình. Ta có thể thấy sự đồng điệu trong cách mở tung vài nét lý lịch bài thơ, tác giả, rồi tỉa vào từng chi tiết, làm bật tứ bài thơ và găm chặt ý chốt. Công thức vậy nhưng vẫn có những nét “óng ánh” riêng của mỗi người; sự đa sắc của chính các bài thơ với nhiều thi ảnh, cấu tứ khác nhau khiến các “shot” bình cũng nhờ thế không chệch hướng rơi vào đơn điệu.

 

Chạm vào “huyệt đạo” của thi ca

Thơ hay ắt có đất để bình, tất nhiên bình sao để tạo được một văn bản liên thông lại là một chuyện khác, với “đề bài” lời bình phải gọn, sắc, tối đa 300 chữ, để chỉ dẫn những ai chưa biết sẽ tìm đến bài thơ hoặc gói lại “lời bạt” tối giản trong mối đồng cảm với những người đã đọc; và cung cấp cho các thầy cô giáo, các học sinh, sinh viên học Ngữ Văn như một dạng ngữ liệu tham khảo…

Viết cực ngắn - cực khó, nói như nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm, đó phải là thứ “văn bia”, chốt câu nào “chết cứng” câu đó. Thơ hay, nhiều ý tại ngôn ngoại, bài bình ngắn phải “điểm” chuẩn những “huyệt đạo” quan trọng trên cơ thể bài thơ. Xin “điểm” vài “huyệt đạo” mà Đỗ Anh Vũ và Nguyễn Hoài Nam đã “điểm” để thấy sự dụng công của hai tác giả.

Đỗ Anh Vũ chốt về Khau Vai (Trần Hòa Bình): “Câu thơ như một nhận định phổ quát cho mọi kiếp người: Ai trong đời chẳng có một Khau Vai”; về Phố Phái (Nguyễn Việt Chiến): “Thi sĩ giống như bước từ những bức tranh ra cõi người, đã tạm khép lại một cơn mộng du để đón những tia nắng ấm áp, những tiếng chim líu lo ríu rít”.

Trong khi đó, Nguyễn Hoài Nam cũng tối giản không kém khi kết bài bình về Đò Lèn (Nguyễn Duy) bằng câu ngắn mà nặng: “Có thể đọc và xem bài thơ Đò Lèn như lời sám hối của Nguyễn Duy trước vong linh bà, một lời sám hối thành thực và cảm động về tất cả những gì mà tuổi thơ ông đã vô tư được hưởng trên sự cơ cực của bà”; và đây nữa: “Nhà thơ Trần Mạnh Hảo vốn không xuất thân xứ Nghệ, nhưng với bài thơ Sông Lam, có thể nói rằng ông đã để lại cho xứ Nghệ một bài tỉnh thi”. Có lời bình sắc lẹm: “Hoa đỏ cứa vào rừng là một câu thơ tài hoa, như nhát chém thật ngọt cho một sự chia lìa” (Đỗ Anh Vũ); và trong trẻo như thơ: “Còn một chút gì để nhớ, bài thơ ra đời trong bối cảnh chiến tranh khốc liệt, nhưng lại dịu mát như một giọt sương chiều nơi phố núi Tây Nguyên” (Nguyễn Hoài Nam)…

Còn nhiều vùng đất và thi phẩm, hai tác giả đồng chủ biên chưa chạm tới, không phải do bàn chân thấm mỏi mà chỉ vì giới hạn khuôn khổ “chuyến đi”. Khi “tấm bản đồ” đất Việt bằng thơ và bình đã được phác thảo, cũng phải nhắc đến vai trò thiết kế mỹ thuật của họa sĩ Trần Thắng, 36 bức minh họa đẹp một cách thăng hoa và hợp lý của họa sĩ Lê Cường, giờ là lúc chúng ta lật giở trang sách và tự điền thêm cho riêng mình những “cột mốc” thơ trong suốt chiều dài miền chữ S và lịch sử thơ ca đất Việt.

Trần Nhật Minh

Nguồn: Báo Văn Hóa

Bài viết liên quan

Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm