TIN TỨC

Cảm thức thời gian mang hình hài kim cương

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-09-12 08:01:20
mail facebook google pos stwis
1526 lượt xem

VÕ TẤN CƯỜNG

Con đường sáng tạo thơ ca của nhà thơ chính là hành trình tâm linh trở về với chính mình để khám phá bí ẩn của nội tại đồng thời chiếu rọi cái nhìn, khám phá vẻ đẹp đa chiều kích của sự vật, thiên nhiên và con người ở thế giới thực tại. Nhà thơ là người tự thắp ngọn lửa sưởi ấm hồn mình và hồn người trong thế giới ngôn từ, hình tượng thơ ca.

Đọc tập thơ: “Ngày kim cương” của Vũ Tuấn (Nhà xuất bản Hội Nhà Văn, năm 2023), tôi nhận biết, trên hành trình sáng tạo, nhà thơ Vũ Tuấn đã khơi mở thế giới tiềm thức và bộc lộ cảm thức về thời gian, thể hiện sự suy tưởng về sự sống, về cái đẹp, tình yêu và sự biến động của lịch sử… Vũ Tuấn chịu ám ảnh bằng cảm quan về sự tồn tại, tác động của thời gian đối với tâm thức. Theo cái nhìn của anh, thời gian vừa mang tính tượng trưng vừa hiện hữu bằng hình hài cụ thể. Cảm thức của nhà thơ về thời gian được biểu hiện bằng đơn vị một ngày để sống và sáng tạo, vừa mang tính bền vững, vừa mang giá trị vĩnh hằng như kim cương. Không chỉ có vậy, thời gian còn là món quà vô giá mà tạo hóa dành tặng cho con người.

“Ngày như viên kim cương

Lăn vào tay ban tặng

Ngày

Như giọt mật đầy

Ta giang tay đón nhận”

(Ngày kim cương)

Con người khác với thế giới loài vật không chỉ ở khả năng tư duy, trí tuệ mà còn ở cảm thức về thời gian. Đối với nhà thơ Vũ Tuấn, thời gian như một giá trị ẩn chứa sự sống, sự tồn tại mà con người cần nâng niu, tận hưởng.

 

Theo cái nhìn, nhận thức bằng cảm quan của Vũ Tuấn, thời gian không chỉ trôi chảy, diễn biến theo chiều của vật lý mà luôn ám ảnh, thôi thúc như những đợt sóng liên hồi vỗ vào tâm tưởng khiến con người thao thức khôn nguôi.

“Thời gian dồn đuổi bất tận

Biết có gặp nhau ở cuối đường

Cột mốc số không lằn ranh giả định

Ta lấy mình làm điểm tựa yêu thương”

(Cột mốc số không)

Vũ Tuấn là kiểu nhà thơ coi trọng sự tạo tác về ngôn từ trong việc khắc họa hình tượng thơ ca. Giống như họa sĩ phối màu, nhạc sĩ phối âm, nhà thơ phải là người phối chữ hay là tạo tác chữ. Nhà thơ Vũ Tuấn coi trọng ý ở ngoài lời, độ âm vang và lan tỏa của ý tứ, ngôn từ trong từng câu thơ.

“Cơn gió mang đi hết

Những hương hoa của đồng

Xác hoa người cũng nhặt

Tôi đem về trống không”

(Trống không)

Bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt: “Trống không” bộc lộ cảm thức của nhà thơ về sự kiệt cùng của cái đẹp giữa thế giới thực tại, đồng thời khắc họa tâm thế của nhà thơ trong việc tiếp nhận, hóa giải thế giới thực tại trong tâm thức của chủ thể sáng tạo.

 

Vũ Tuấn có nhiều câu thơ nhảy vọt, đột biến về ý tứ, tạo sự bất ngờ, thú vị trong quá trình tiếp nhận, liên tưởng của người đọc.

“Đêm thanh khiết

Chân nhang quỳ xuống

Thả lời nguyện

Bay lên…

(Lời nguyện trong đêm)

“Bưng bát trăng sứt mẻ

Lang thang khắp nẻo đường

Người ăn mày tiền bạc

Ta ăn mày gió sương”

(Khất thực)

 

Thơ lục bát của Vũ Tuấn vừa tuân thủ chuẩn mực của thơ lục bát truyền thống, vừa phá cách về cách gieo vần, cấu trúc câu thơ và mạch cảm xúc. Ngôn ngữ thơ lục bát của Vũ Tuấn biến ảo, cảm xúc tinh tế và thăng hoa, tạo nhiều dư vị trong tâm hồn người đọc.

“Chắt từ bầu sữa thiên nhiên

Giọt sương nuôi lớn trăm miền đất đai

Vườn hoang chim chóc gọi bầy

Nắng mai lay thức tháng ngày ngủ mơ”

(Tháng giêng trẩy hội đa tình)

 

“Người về chăn chiếu bơ vơ

Từng đêm lạc vận câu thơ thất tình

Bóng trăng đáy nước hữu tình

Mà không vớt được bóng mình bóng ta”

(Em ơi có nhớ)

So với hai tập thơ đã xuất bản: “Giai điệu phù sa” và “Mật ngữ đồi thông kim” với hình tượng thơ giàu tính biểu cảm, ngôn ngữ dồn nén, hàm súc, tập thơ: “Ngày kim cương” có nhiều bài thơ mang tính suy tưởng, mở rộng chiều kích tư duy và bộc lộ cảm thức của nhà thơ trong việc khám phá, khắc họa tính đa diện, đa chiều sự bí ẩn của con người, sự vật trong thế giới thực tại.

“Tiếng võng nhai mòn cột gỗ suốt mùa thi

Câu thơ mất ngủ

Anh đuổi theo chân trời mộng tưởng…”

(Bài thơ dang dở)

“Đất nước tôi không vạn lý trường thành

Nhưng vạn lý lòng dân từ thuở ấy…”

(Đất)

Hai câu thơ tạo nên sự tương phản về ý nghĩa giữa cái hữu hình và cái vô hình, gây ấn tượng mạnh đối với người đọc về sức mạnh của lòng dân theo suốt chiều dài lịch sử của dân tộc Việt Nam.

Hơn ba mươi năm đeo đuổi đam mê sáng tạo, nhà thơ Vũ Tuấn vừa quyết liệt, vừa cẩn mật tìm kiếm, định hình một phong cách thơ, giọng điệu thơ độc đáo và riêng biệt. Đối với nhà thơ Vũ Tuấn, hạnh phúc của người sáng tạo không phải là sự thừa nhận, tôn vinh của người đọc mà chính là sự giao hòa, tri âm của những tâm hồn trong thế giới hình tượng thơ ca và giữa cuộc đời luôn biến động, đổi thay.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm
Triết lý nhân sinh trong tập thơ “Nghe mùa thay lá” của Hoàng Thân
Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa ra mắt tập thơ “Nghe mùa thay lá” của nhà thơ, bác sĩ Hoàng Thân (Trịnh Quang Thân), Hội viên Hội VHNT Quảng Ngãi, Bác sĩ CK II Nội tim mạch, đúng vào dịp kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/2026). Tập thơ là kết quả của một quá trình chiêm nghiệm về thời gian, ký ức và thân phận con người trong dòng chảy biến thiên của đời sống.
Xem thêm
Những con chữ đối thoại của Trương Văn Dân
Đọc những trang viết của Trương Văn Dân, cảm giác như được nghe cuộc đối thoại bất tận của nhà văn với con người và cuộc đời này. Đối thoại là khát vọng được sẻ chia, được thấu hiểu; đồng thời, đó còn là khát vọng tự vấn, tự nhìn lại chính mình của người viết. Từ đối thoại, những ngổn ngang của đời sống, những day dứt của lòng người được mở ra… hun hút cảm xúc nhưng có khi khô khốc “như viên sỏi rơi vào lòng giếng cạn”. Chúng ta đang ở đâu? Chúng ta đã làm gì chính mình? Chúng ta sẽ trở nên thế nào? Chúng ta để lại gì cho mai sau?... Những trăn trở đó uốn vặn trong từng con chữ với vô số câu hỏi khó bề giải đáp. Đó chính là tâm tình, tâm tưởng của Trương Văn Dân gửi gắm với đời.
Xem thêm
Khi lương tri không thể ngủ yên trước thiên nhiên
“Thơ mất ngủ”, bài thơ của TS, nhà thơ, nhạc sĩ Ngọc Lê Ninh, không đến như một tác phẩm mang tính thời sự nhất thời, mà như một nỗi niềm đã được ấp ủ âm thầm suốt nhiều năm, nay trở lại với sức nặng của một lời cảnh tỉnh.
Xem thêm
Thông điệp của nhà văn Vũ Quốc Khánh qua tiểu thuyết Seo Sơn
Quyền lực nếu được trao cho những người có đức có tài sẽ tạo lập nên biết bao điều tốt đẹp. Ngược lại nó lọt vào tay kẻ xấu, thì sẽ gây ra biết bao tội ác và thảm hoạ cho con người.
Xem thêm
“Những ngọn gió biên cương” vọng thức tiền nhân gửi người chiến sĩ
Bài viết của nhà văn Đỗ Viết Nghiệm đăng Văn nghệ TPHCM số mới nhất, ra ngày 29/1/2
Xem thêm
Vì có em nên đã sinh ra...
Bài viết của nhà thơ Đặng Huy Giang về tập thơ “Khói bụi và cỏ” của Đinh Nho Tuấn, NXB Hội Nhà văn 2026
Xem thêm
Những con chữ cháy đỏ tỏa hương
Bài đăng báo Văn nghệ số 4, ngày 24/1/2026.
Xem thêm
Nghe sóng giữa trùng khơi
Nhắc đến Trương Anh Quốc, những ai quan tâm đến văn chương biển đảo hẳn không còn xa lạ bởi anh đã sớm tạo dấu ấn với đề tài này và nhiều lần được vinh danh ở các cuộc thi.Suốt hơn hai mươi năm bôn ba theo tàu khắp các đại dương, Trương Anh Quốc có được trải nghiệm, nguồn sống và kho tư liệu biển đảo đồ sộ. Điều đó không phải ai đi nhiều như anh cũng viết được nếu không nặng lòng với biển và yêu mến con chữ. Không dừng lại ở những trang viết về những con tàu lênh đênh trên các đại dương, anh quyết thâm nhập thực tế để khai thác đề tài giàn khoan dầu khí. Anh từng thổ lộ rằng đã dành gần bảy năm làm việc trên giàn khoan để ấp ủ chất liệu cho hướng đi mới. Và rồi mới đây, trong quý III năm nay, anh ra mắt tiểu thuyết Trùng khơi nghe sóng, một lần nữa khẳng định sở trường kể chuyện về biển hóm hỉnh, tươi vui, đôi khi nghịch ngợm, tạo sắc thái riêng biệt và cuốn hút.
Xem thêm
Đọc truyện ngắn “Rừng Mắm” của Bình Nguyên Lộc, nhớ thuở cha ông đi mở cõi
Bình Nguyên Lộc (1914 - 1987) là người con của Tân Uyên, vùng đất giàu truyền thống cách mạng của tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ông là nhà văn lớn, nhà văn hóa Nam Bộ trong giai đoạn 1945 - 1975. Ông viết hàng trăm cuốn sách, có 30 cuốn đã được xuất bản. Trong gia tài văn chương đồ sộ của ông, truyện ngắn Rừng Mắm là một trong những tác phẩm đặc sắc.
Xem thêm
“Lời đồng vọng” với những áng văn hay
Lời đồng vọng 2 là tập sách mới nhất của nhà phê bình Lê Xuân trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của anh. Có thể nói Lê Xuân là một cây bút đa năng, nhưng thế mạnh của anh vẫn là lĩnh vực phê bình.
Xem thêm
“Bàn tay nhỏ dưới mưa” và “Trò chuyện với thiên thần”
Rất may mắn và được tin cậy khi Trương Văn Dân giao quyển sách đầu tiên cho tôi đề tựa, đó là quyển “Bàn tay nhỏ dưới mưa”. Khi tôi đọc tôi có cảm giác hạnh phúc vì nhận được một điều xứng đáng. Một quyển đáng để cho mình đề tựa.
Xem thêm