TIN TỨC

Cảm thức thời gian mang hình hài kim cương

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-09-12 08:01:20
mail facebook google pos stwis
1584 lượt xem

VÕ TẤN CƯỜNG

Con đường sáng tạo thơ ca của nhà thơ chính là hành trình tâm linh trở về với chính mình để khám phá bí ẩn của nội tại đồng thời chiếu rọi cái nhìn, khám phá vẻ đẹp đa chiều kích của sự vật, thiên nhiên và con người ở thế giới thực tại. Nhà thơ là người tự thắp ngọn lửa sưởi ấm hồn mình và hồn người trong thế giới ngôn từ, hình tượng thơ ca.

Đọc tập thơ: “Ngày kim cương” của Vũ Tuấn (Nhà xuất bản Hội Nhà Văn, năm 2023), tôi nhận biết, trên hành trình sáng tạo, nhà thơ Vũ Tuấn đã khơi mở thế giới tiềm thức và bộc lộ cảm thức về thời gian, thể hiện sự suy tưởng về sự sống, về cái đẹp, tình yêu và sự biến động của lịch sử… Vũ Tuấn chịu ám ảnh bằng cảm quan về sự tồn tại, tác động của thời gian đối với tâm thức. Theo cái nhìn của anh, thời gian vừa mang tính tượng trưng vừa hiện hữu bằng hình hài cụ thể. Cảm thức của nhà thơ về thời gian được biểu hiện bằng đơn vị một ngày để sống và sáng tạo, vừa mang tính bền vững, vừa mang giá trị vĩnh hằng như kim cương. Không chỉ có vậy, thời gian còn là món quà vô giá mà tạo hóa dành tặng cho con người.

“Ngày như viên kim cương

Lăn vào tay ban tặng

Ngày

Như giọt mật đầy

Ta giang tay đón nhận”

(Ngày kim cương)

Con người khác với thế giới loài vật không chỉ ở khả năng tư duy, trí tuệ mà còn ở cảm thức về thời gian. Đối với nhà thơ Vũ Tuấn, thời gian như một giá trị ẩn chứa sự sống, sự tồn tại mà con người cần nâng niu, tận hưởng.

 

Theo cái nhìn, nhận thức bằng cảm quan của Vũ Tuấn, thời gian không chỉ trôi chảy, diễn biến theo chiều của vật lý mà luôn ám ảnh, thôi thúc như những đợt sóng liên hồi vỗ vào tâm tưởng khiến con người thao thức khôn nguôi.

“Thời gian dồn đuổi bất tận

Biết có gặp nhau ở cuối đường

Cột mốc số không lằn ranh giả định

Ta lấy mình làm điểm tựa yêu thương”

(Cột mốc số không)

Vũ Tuấn là kiểu nhà thơ coi trọng sự tạo tác về ngôn từ trong việc khắc họa hình tượng thơ ca. Giống như họa sĩ phối màu, nhạc sĩ phối âm, nhà thơ phải là người phối chữ hay là tạo tác chữ. Nhà thơ Vũ Tuấn coi trọng ý ở ngoài lời, độ âm vang và lan tỏa của ý tứ, ngôn từ trong từng câu thơ.

“Cơn gió mang đi hết

Những hương hoa của đồng

Xác hoa người cũng nhặt

Tôi đem về trống không”

(Trống không)

Bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt: “Trống không” bộc lộ cảm thức của nhà thơ về sự kiệt cùng của cái đẹp giữa thế giới thực tại, đồng thời khắc họa tâm thế của nhà thơ trong việc tiếp nhận, hóa giải thế giới thực tại trong tâm thức của chủ thể sáng tạo.

 

Vũ Tuấn có nhiều câu thơ nhảy vọt, đột biến về ý tứ, tạo sự bất ngờ, thú vị trong quá trình tiếp nhận, liên tưởng của người đọc.

“Đêm thanh khiết

Chân nhang quỳ xuống

Thả lời nguyện

Bay lên…

(Lời nguyện trong đêm)

“Bưng bát trăng sứt mẻ

Lang thang khắp nẻo đường

Người ăn mày tiền bạc

Ta ăn mày gió sương”

(Khất thực)

 

Thơ lục bát của Vũ Tuấn vừa tuân thủ chuẩn mực của thơ lục bát truyền thống, vừa phá cách về cách gieo vần, cấu trúc câu thơ và mạch cảm xúc. Ngôn ngữ thơ lục bát của Vũ Tuấn biến ảo, cảm xúc tinh tế và thăng hoa, tạo nhiều dư vị trong tâm hồn người đọc.

“Chắt từ bầu sữa thiên nhiên

Giọt sương nuôi lớn trăm miền đất đai

Vườn hoang chim chóc gọi bầy

Nắng mai lay thức tháng ngày ngủ mơ”

(Tháng giêng trẩy hội đa tình)

 

“Người về chăn chiếu bơ vơ

Từng đêm lạc vận câu thơ thất tình

Bóng trăng đáy nước hữu tình

Mà không vớt được bóng mình bóng ta”

(Em ơi có nhớ)

So với hai tập thơ đã xuất bản: “Giai điệu phù sa” và “Mật ngữ đồi thông kim” với hình tượng thơ giàu tính biểu cảm, ngôn ngữ dồn nén, hàm súc, tập thơ: “Ngày kim cương” có nhiều bài thơ mang tính suy tưởng, mở rộng chiều kích tư duy và bộc lộ cảm thức của nhà thơ trong việc khám phá, khắc họa tính đa diện, đa chiều sự bí ẩn của con người, sự vật trong thế giới thực tại.

“Tiếng võng nhai mòn cột gỗ suốt mùa thi

Câu thơ mất ngủ

Anh đuổi theo chân trời mộng tưởng…”

(Bài thơ dang dở)

“Đất nước tôi không vạn lý trường thành

Nhưng vạn lý lòng dân từ thuở ấy…”

(Đất)

Hai câu thơ tạo nên sự tương phản về ý nghĩa giữa cái hữu hình và cái vô hình, gây ấn tượng mạnh đối với người đọc về sức mạnh của lòng dân theo suốt chiều dài lịch sử của dân tộc Việt Nam.

Hơn ba mươi năm đeo đuổi đam mê sáng tạo, nhà thơ Vũ Tuấn vừa quyết liệt, vừa cẩn mật tìm kiếm, định hình một phong cách thơ, giọng điệu thơ độc đáo và riêng biệt. Đối với nhà thơ Vũ Tuấn, hạnh phúc của người sáng tạo không phải là sự thừa nhận, tôn vinh của người đọc mà chính là sự giao hòa, tri âm của những tâm hồn trong thế giới hình tượng thơ ca và giữa cuộc đời luôn biến động, đổi thay.

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm