TIN TỨC
  • Góc nhìn văn học
  • Chiến tranh và thân phận của tuổi trẻ miền Nam trong thơ Nguyên Sa 1954 – 1975

Chiến tranh và thân phận của tuổi trẻ miền Nam trong thơ Nguyên Sa 1954 – 1975

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-04-30 17:36:29
mail facebook google pos stwis
2910 lượt xem

Nguyên Sa (1932-1998) là một nhà thơ nổi tiếng của thi đàn miền Nam giai đoạn 1954-1975. Đương thời, ông được xem là một “hậu Xuân Diệu” của thơ tình miền Nam, được đông đảo tuổi trẻ học sinh, sinh viên yêu thích. Cũng vì quá nổi tiếng ở mảng thơ tình mà người ta ít để ý đến mảng thơ mang ý thức phản chiến của ông trong thời kỳ đó, nhất là mối quan hệ giữa tình yêu của tuổi trẻ trong quan hệ với hiện thực chiến tranh. Đọc thơ Nguyên Sa, nhất là tập thơ “Những Năm Sáu Mươi” (Tập thơ không được chính quyền miền Nam cấp phép xuất bản, phải tự in lậu trên giấy ronéo lưu hành nội bộ). 

Tuổi trẻ miền Nam giai đoạn 1954-1975 sống trong bối cảnh đất nước cắt chia dưới gót giày xâm lược. Sự bắt bớ tham chiến cho một cuộc chiến tranh phi nghĩa, đau lòng, cùng sự nô dịch văn hóa của ngoại bang, sự “lai căng”, “bội tình” (chữ dùng của Trịnh Công Sơn) của những kẻ bán nước, tiếp tay cho giặc… đã khiến tuổi trẻ miền Nam sống trong nỗi đau thân phận trước sự bạo tàn của chiến cuộc. Cả tuổi trẻ và tình yêu đều chao đảo, bế tắc trong vòng xoáy của thời cuộc lúc bấy giờ. Là một trí thức, một thầy giáo có trách nhiệm cùng dân tộc và tuổi trẻ, lại có cả một quãng đời tuổi trẻ bị bắt sung vào lính đánh thuê, thơ Nguyên Sa thể hiện rất rõ thân phận của tuổi trẻ và tình yêu trước nỗi đau hiện thực chiến tranh.

1. Tuổi trẻ của đời người luôn gắn liền với mùa xuân và tình yêu. Nhưng theo Nguyên Sa, mùa xuân thì “đã rơi mất”: Năm ngón tay có bốn mùa trái đất/ Chúng tôi cầm rơi mất một mùa xuân” (Bây giờ). Còn tình yêu? Tình yêu thì muôn đời vẫn thế! Vẫn mang đến cho con người những nhung nhớ, an ủi dù phải đang trằn mình trong cuộc chiến phi nghĩa nơi “những miền núi xa”: Buổi chiều và mái tóc em/ Bắt đầu phủ xuống những miền núi xa./ Anh nằm khi tóc bay qua/ Đám mây tình tự thịt da nhẹ nhàng/ Giống như trời lấy áo choàng/ Đắp lên thân thể võ vàng từ lâu (Buổi chiều và mái tóc). Cảm ơn nụ cười và đôi mắt tình yêu đã giữ hộ bình minh trong đêm tối, đã thắp xuân giữa “những cánh rừng quên mất mặt xuân” cùng “những chân nai lạc cỏ”, “những mắt sóng vỡ”, “những đảo buồn chìm” “những thuyền sao chạy lạc”: Hỡi mặt trời hãy cám ơn đôi mắt/ Trong đêm khuya vẫn giữ hộ bình minh/ Những cánh rừng quên mất mặt xuân/ Những chân nai đi tìm tay cỏ biếc/ Những mắt sóng vỡ trên thung lũng biển/ Những đảo buồn chìm trong im lặng xanh/ Những thuyền sao chạy lạc trong đêm/ Hãy cám ơn nụ cười và đôi mắt (Cảm tạ). Nhưng rồi trong niềm “cảm tạ” ấy, tình yêu vẫn không giấu được nỗi đắng cay trước hiện thực đau buồn:

Dù quanh chúng mình chỉ là những hàng rào

đố kỵ

Giữa một đêm không trăng

Giữa một lòng chiều không đáy

Em đừng khóc làm gì

Cho nước mắt vu vơ (Bài thơ ngắn).

Tự mình chất vấn với chính mình trước những mâu thuẫn giữa tình yêu và chiến tranh; giữa “trời xanh và gió mát” do tình yêu mang đến và sự dịu dàng của bóng dáng giai nhân với những “mù mịt” đạn bom, giăng giăng “đồn phòng ngự” và sự “thô bạo của một gã lính canh đi giày đinh giẫm nát tâm hồn” ở ngay tuổi “hai mươi”: Các em/ Những Kiều, những Thu, những Loan, những Ðạm/ Các em đã đem cho tôi trời xanh/Và gió mát// Tại sao?/ Tôi chẳng hiểu tại sao/ Cũng chẳng cần tìm hiểu/ Có thể đời đã để sau lưng tôi chiến tranh mù mịt/ Cuộc sống đổi màu trong nước mắt phế binh/ Hay ở quanh tôi những đồn phòng ngự/ Ðã biến tôi thành một gã lính canh thô bạo/ Ði giầy đinh dẫm nát tâm hồn (Hai mươi). Tình yêu của tuổi “hai mươi” đã thế thì tình yêu của thằng lính “ba mươi tuổi” lại càng chao đảo bởi “gió lốc”, “cuồng phong” của chiến sự: Hỡi người yêu có bàn tay anh buông ra như tàn thuốc lá/ Hãy tha cho đốm hồng thân thể này trong ngày tháng thành than/ Dây thép gai đã buộc vào mắt anh gió lốc/ Cuồng phong đau thương mang tàn lụi vai buồn. Cả xót xa và tuyệt vọng khi tình yêu phải trao nhau không phải bằng ánh mắt yêu thương và là “mắt huyệt chôn nhau”, phải hấp hối vĩnh biệt nhau bằng những nắm đất tiễn đưa ném trên huyệt lạnh bởi những “ngón tay sầu”:

Hỡi người yêu có bàn tay anh buông ra như

tàn thuốc lá

Vẫn nhìn nhau bằng mắt huyệt chôn nhau

 

Những hòn đất ném lên hòn đất

Những ngón tay vẫn gọi ngón tay sầu

(Tình yêu đàn ông ba mươi tuổi).

Chính vì thế, thơ tình Nguyên Sa ở giai đoạn sau khi trở về nước đối diện với hiện thực chiến tranh đã không đơn thuần nói chuyện tình yêu mà luôn luôn đặt tình yêu trong sự lo âu, khắc khoải của hiện thực chiến tranh trong mối quan hệ với thân phận con người. “Bài giã biệt”, anh nói với người yêu nhưng cũng chính là nói với cuộc đời. Nhân danh những nghĩ suy và tình yêu của người đàn ông tuổi ba mươi cùng với “bấy nhiêu lần lũy thừa đau khổ”, Nguyên Sa tuyên bố trả lại tất cả những kỷ niệm tình yêu, những ước mơ tuổi trẻ, những nụ hôn, những lá thư xanh của một thời, đành chấp nhận dở dang, “chẳng còn nguyên vẹn” đúng “như lễ vật trong ngày lại quả gửi về”:

Tuổi ba mươi và bấy nhiêu lần luỹ thừa đau khổ./ Nhân danh cành tay mọc trái nghi ngờ./ Nhân danh vầng trán quê hương lo ngại./ Nhân danh mái tóc chờ mưa trong sa mạc./ Như lễ vật trong ngày lại quả gửi về chẳng còn nguyên vẹn, anh trả lại em những mùa thu lá vàng, những xứ ước mơ, những lâu đài kỷ niệm./ Anh trả lại em cả cặp môi trên gò má, lá thư xanh và ngón tay tuổi trẻ (Bài giã biệt).

“Giã biệt” tất cả để hoang mang, bế tắc, mệt mỏi, chán chường lê thân “vào ngôi nhà nguyện tâm hồn” cùng “những tiếng chuông khởi đầu Thánh lễ”: Vỗ mạn thuyền xô động, với nếp trán phế binh, với đôi mắt dã tràng mệt mỏi, anh đi vào ngôi nhà nguyện tâm hồn./ Gửi đến cho em âm thanh của những tiếng chuông khởi đầu Thánh lễ (Bài giã biệt).

2. Là một tiến sĩ Triết học tu nghiệp ở nước ngoài, một giáo sư trung học đệ nhị cấp (tức giáo viên cấp 3, ở miền Nam gọi là Giáo sư) và giảng dạy triết ở bậc đại học, hơn ai hết Nguyên Sa là người nhận ra rõ nhất thân phận của một trí thức trước thời cuộc, trước dân tộc và trước học sinh. Đó là thân phận của một thế hệ tuổi trẻ mà cặp mắt xanh không đủ để che giấu nỗi buồn, nụ cười không xóa được nỗi ưu tư; quờ quạng, mất phương hướng với vài tiếng hát lạc lỏng: Thế kỷ chúng tôi chót buồn trong mắt/ Dăm bảy nụ cười không đủ xóa ưu tư/ Tay quờ quạng cầm tay vài tiếng hát/ Lúc xòe ra chẳng có một âm thừa. Là tuổi trẻ mà suốt một năm trời, theo quy luật tự nhiên, mùa xuân lại không hiện diện; trên tay có đủ “bốn mùa trái đất” lại tự mình đánh “rơi mất mùa xuân”, nên có “cất tiếng” kêu đòi thì cũng tự mình kêu lấy, tự mình nghe lấy, tiếng kêu rơi rụng xuống chính lòng mình tụ thành vết sẹo đớn đau:

Năm ngón tay có bốn mùa trái đất

Chúng tôi cầm rơi mất một mùa xuân

Có cất tiếng đòi to. Tiếng đòi rơi rụng

Những âm thanh làm sẹo ở trong hồn

(Bây giờ).

Nam nhi phải nặng gánh tang bồng, tuổi trẻ phải gánh trách nhiệm đất nước trên vai, nhưng tuổi hai mươi của thanh niên miền Nam lúc bấy giờ là cả “hai mươi thế kỷ lao tù”, đày đọa, nên “chưa đến đã bay vèo”: Tôi mang trên vai/ Tuổi hai mươi/ Như đời hai mươi thế kỷ/ Ðời để quanh tôi những lao tù cơ cực/ Tuổi hai mươi chưa đến đã bay vèo (Hai mươi). Nguyên Sa thừa “biết rằng”, đây là giai đoạn trộn lẫn khóc-cười, mừng-tủi, ước hẹn-phôi pha, nhưng rồi cũng đành bất lực vì chẳng “biết nói làm sao”: Anh biết rằng:/ Có người khóc vì mừng vui ước hẹn/ Có người cười vì tủi cực phôi pha/ Anh biết nói làm sao/ Nhưng chắc chắn ngàn thu ly rượu quan hà/ Sẽ phải chua men vì thiếu người sưởi lạnh/ Anh biết nói làm sao/ Khi họ gặp nhau (Anh đã bảo em). Nỗi buồn đau, bất lực thấm sâu và chảy tràn trong thơ-văn-xuôi của Nguyên Sa tưởng như không một phút nào ngừng, trùm lên “những chuyện quê hương”:

Anh không dám kể lể dài dòng như một người giang hồ nói với người giang hồ về những chuyện quê hương. Anh chỉ dám dâng em chút ít đớn đau với nỗi niềm sám hối. Nỗi niềm của một kiếp người đã nhiều tháng ngày ngồi trong ngõ tối.

Anh đã ngồi im không nói: anh chỉ còn là gã kép già quanh năm khát nước vì suốt cả đời người hò hét một bản xàng xê (Sám hối).

Tuổi trẻ miền Nam cũng đã từng chờ đợi, tin yêu, nhưng rồi “từng hi vọng bay theo từng hi vọng” để rồi ngồi đếm thời gian tự “sám hối” với chính mình: Suốt cả đời người anh đã chờ đợi tin yêu: lửa đến từ những cửa ngõ cuộc đời đã đốt cháy mười đầu ngón tay bằng những khối nhựa đường nóng bỏng/ Từng hy vọng đã bay theo từng hy vọng. Không biết có phải vì nhát cuốc tháng ngày đã phạt cỏ đùa chơi? (Sám hối). Đó là những thân phận tù đày, lao công khổ ải, tan tác, lang thang: Thằng Chúc bây giờ nằm trong nhà tù/ Thằng Thịnh bị mang đi làm nông trường/ Thằng Văn lang thang những bờ biển xa/ Em nó ở nhà bán báo vỉa hè… Canh cánh bên lòng nỗi đau vì đất nước chiến tranh, thân phận tuổi trẻ bị bạc đãi, bị vu oan, chụp mũ… sống trong muôn nỗi chán chường:

Niềm đau đất nước mỗi ngày một đau

Câu hỏi đã lớn mỗi ngày một lớn

Những đứa sát nhân, vu oan giá họa

 

Những đứa chụp mũ, chụp mũ, chụp mũ

Mỗi ngày một tăng theo cấp số nhân

Bạn bè dần hết theo tỷ lệ nghịch

Chán cả làm thơ, chán cả ngâm thơ

(Bao giờ).

Kết thúc bài thơ Bao giờ là liên tiếp những câu hỏi lớn chứa đựng tâm trạng bế tắc tưởng chừng không lối thoát: Bao giờ, bao giờ, bao giờ, bao giờ?

Toàn bộ bài thơ Cắt tóc ăn tết cũng nằm trong tâm trạng chán chường ấy. Đây cũng chính là nỗi đau thân phận của tuổi trẻ miền Nam thông qua nhìn nhận của Nguyên Sa về hiện thực xã hội miền Nam lúc ấy: Cắt cái sợi ăn gian/ Cắt cái sợi nói dối/ Sợi ăn cắp trên đầu/ Sợi vu oan dưới gáy/ Sợi bè phái đâm ngang/ Sợi ghen tuông đứng dọc/ Sợi xích chiến xa, sợi dây thòng lọng/ Sợi hưu chiến mỏng manh, sợi hận thù buộc chặt/ Sợi nấp trong hầm/ Sợi ngồi trong hố/ Sợi đau xót như dây dù chẳng mở/ Sợi treo cổ tình yêu, sợi trói tay hy vọng/ Cắt cho ta,// Cắt cho ta, hãy cắt cho ta… Cứ liên tục như thế, từng sợi tóc trên đầu đều chứa đựng những sầu lo của thế hệ: “Sợi mệt mỏi”, “Sợi cháy đen”, “Sợi thở dài”, “Sợi đánh nhau”, “Sợi chia cắt non sông thành Nam Bắc”, vân vân và vân vân các thứ sợi: Sợi mệt mỏi sau những tháng ngày hoan hô đả đảo/ Sợi cháy đen như rừng núi Chu-prong/ Sợi thở dài trong đêm cúp điện tối om/ Sợi sát vào nhau đánh sáp lá cà/ Sợi cắt non sông thành Bắc Nam, thành khu chiến/ Sợi lên thẳng trực thăng/ Sợi xuống ngầm địa hạ/ Sợi đặt chông/ Sợi gài mìn/ Sợi bóp cò liên thanh/ Sợi kéo xe đại bác/ Sợi xót xa trên mặt nhăn tuổi trẻ/ Sợi trên trán thơ ngây nằm im phục kích… Tác giả cứ mãi đồng thanh hô “Cắt” để hi vọng có một ngày nhìn rõ mặt sự “đổi mới” của quê hương: Hãy cắt tóc/ Hãy cắt tóc và nhìn/ Mặt quê hương đổi mới (Cắt tóc ăn tết). Dù hi vọng, nhưng nỗi chán chường, bất lực vẫn hiện lên như một “thế giới buồn” đen kịt một màu “tống biệt” cùng những “điệp khúc giã biệt”:

Cánh cửa ngang qua thế giới buồn

Tống biệt hồng sang tống biệt đen

Em mang điệp khúc về đâu đó

Ta tưởng chừng như giã biệt em

(A Tỳ).

Và những sầu đau, thương nhớ, cách chia giữa “mịt mù thế nhân” như một A tỳ địa ngục: Chết một ngàn năm chắc phải sầu/ Nhưng này thương nhớ lúc xa nhau/ Mịt mù nhân thế trôi biền biệt/ Giữa vị sầu nghe có vị đau (A Tỳ). Rồi như một tất nhiên, cái chết đã hiện hình: Anh cúi mặt hôn lên lòng đất/ Sáng ngày mai giường ngủ lạnh côn trùng/ Mười ngón tay sờ soạng giữa hư không/ Ðôi mắt đã trũng sâu buồn ảo ảnh (Lúc chết). Đớn đau thay! Tuổi trẻ tươi đẹp lại phải đồng hành cùng cái chết:

Nằm ở đấy, hai bàn tay thấm mệt

Ngón buông xuôi cho nhẹ bớt hình hài

Những bài thơ anh đã viết trên môi

Lửa trái đất sẽ nung thành ảo ảnh

(Lúc chết)

Và đau đớn nhất là tuổi trẻ miền Nam xem cái chết là một sự giải thoát khỏi hiện thực đớn đau: Chúng tôi nhảy múa hò reo/ Thế là nó thoát, thế là nó thoát/ Thế là nó thoát, đúng rồi, thế là nó thoát/ Thoát khỏi ngủ, thoát khỏi ăn, khỏi thở/ Khỏi đêm, khỏi ngày, khỏi tháng, khỏi năm/ Khỏi chờ, khỏi đợi/ Khỏi nhìn tình ái đội nón ra đi/ Khỏi hy vọng ban mai, khỏi buồn thiu buổi tối (Đám tang Nguyễn Duy Diễn)1.

Đọc đoạn thơ này, ta càng hiểu thêm ý nghĩa phản chiến trong “Hãy sống giùm tôi, hãy nói giùm tôi, hãy thở giùm tôi” của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã từng viết vào những năm tháng ấy…

***

Chào đời cùng với năm ra đời của Thơ Mới, năm nay cũng là kỷ niệm 90 năm sinh Nguyên Sa (1.3.1932 – 2022), tôi xin trích một đoạn ngẫm suy của Tuy Hòa cùng khát vọng thơ của Nguyên Sa thay cho lời kết: “Vậy là Nguyên Sa đã yên nghỉ mười năm ở California. Mọi vui buồn và được mất cũng đã lắng dịu đi, đủ để những người bây giờ bình tâm phác thảo một chân dung thơ Nguyên Sa. Ông đã đến với chúng ta, đã sống với chúng ta, đã rời xa chúng ta, và đã gửi lại những câu thơ dâng hiến cả cuộc đời. Gần nửa thế kỷ miệt mài với thơ, Nguyên Sa canh cánh “luôn luôn làm sao để không giống mình, để trở thành một người khác mình, thì đó chính là cách thức, cách thế để trở thành chính mình”.

Mai Bá Ấn/Văn Nghệ số 17/2022

________

1. Thơ sử dụng trong bài viết được trích dẫn từ ba nguồn chính: Tạ Tỵ, Mười khuôn mặt văn nghệ, Nam Chi xuất bản, 1970; Thơ Nguyên Sa, Tổ hợp gió xuất bản, 1971 (trích theo thivien.net) và Thơ Nguyên Sa, Nxb Đồng Nai, 1999

2. Tuy Hòa, “Những bài thơ cuối cùng của Nguyên Sa”, VNExpress, 16.7.2008

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Trang sách và mái trường” mang ý nghĩa vượt ra ngoài khuôn khổ của một sân chơi sáng tác
Bài phát biểu tại buổi lễ phát động cuộc thi viết về “ Trang sách & Mái trường”do Nhà xuất bảo Giáo dục Việt Nam và Hội nhà văn Việt Nam phối hợp tổ chức tại Tp. Hồ Chí Minh vào sáng ngày 12/6/2026
Xem thêm
Nhà văn Phố Giang với tác phẩm “Một dòng họ học hành đỗ đạt và giàu lòng nhân ái”
Tôi sinh hoạt cùng anh ở Hội thơ Nghệ Tĩnh tại TP.HCM & Hội viên Hội Nhà văn TP.HCM, đã được anh tặng hai tác phẩm thơ: Hoa trái cuối mùa, 99 Khúc tình thơ và tác phẩm văn Một dòng họ Học hành đỗ đạt và giàu lòng nhân ái. Kể từ năm 2004 đến nay, anh đã xuất bản 8 tác phẩm thơ và 4 tác phẩm văn. Thật đáng khâm phục và tự hào với bút lực phi thường và sự cần cù sáng tạo của anh.
Xem thêm
Hành trình đi, suy ngẫm và viết
Một hôm, nhà báo Tô Đình Tuân gửi cho tôi tập bản thảo khá dày. Tôi đọc và viết không chỉ vì tình cảm đồng nghiệp quen biết nhiều năm trong nghề báo, mà còn bởi tôi hiểu khá rõ con người và hành trình nghề nghiệp của tác giả. Đặc biệt, trong giai đoạn tôi được phân công làm Tổng Biên tập Báo Sài Gòn Giải Phóng, Tô Đình Tuân là một cộng sự đắc lực, luôn tận tâm, trách nhiệm và đầy nhiệt huyết với công việc.
Xem thêm
Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc: Từ người yêu nước đến “Đường kách mệnh”
Từ hành trình ra đi tìm đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành đến sự ra đời của Đường Kách mệnh, bài viết của PGS.TS Nguyễn Thế Kỷ giúp người đọc nhìn lại một chặng đường lịch sử đặc biệt – nơi chủ nghĩa yêu nước gặp gỡ chủ nghĩa Mác – Lênin để hình thành tư tưởng cách mạng Hồ Chí Minh và mở lối cho dân tộc Việt Nam đi tới độc lập, tự do.
Xem thêm
Lại thêm một cuốn sách ồn ào
Những ồn ào quanh Chuyện với Thanh rồi sẽ qua đi. Nhưng câu chuyện về cách ứng xử với lịch sử, với văn học và với những khác biệt trong quan điểm tiếp nhận sẽ còn tiếp tục đặt ra. Một xã hội văn minh cần có những cuộc tranh luận văn hóa nghiêm túc. Và điều kiện đầu tiên của mọi cuộc tranh luận nghiêm túc là đọc trước khi phán xét, hiểu trước khi kết luận. Đó chính là thông điệp của người viết bài này. Chỉ khi đó, tiếng nói của lý trí mới không bị lấn át bởi sự ồn ào của đám đông.
Xem thêm
Văn học, nghệ thuật Việt Nam không ngừng phát triển, đồng hành cùng dân tộc
Trong suốt 50 năm sau ngày đất nước thống nhất (1975-2025), văn học, nghệ thuật Việt Nam đã không ngừng phát triển, đồng hành cùng công cuộc bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước. Trên nền tảng tư tưởng, văn hóa của Đảng và truyền thống dân tộc, văn học, nghệ thuật đã thực sự trở thành một bộ phận cấu thành quan trọng của nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; góp phần bồi đắp bản sắc văn hóa, xây dựng nhân cách con người Việt Nam, phản ánh hiện thực đời sống xã hội, đồng thời lan tỏa giá trị văn hóa Việt Nam ra thế giới.
Xem thêm
Có một sự đồng điệu giữa văn hoá và nghệ thuật Việt-Pháp
Thierry kể về Paris những năm tuổi trẻ. Nhà của Thierry cách trường Sư phạm ENS Paris chừng mười lăm phút đi bộ. Ông nói về các quán cà phê nơi giới trí thức Pháp từng tranh luận thâu đêm, về những phòng tranh nhỏ ở Saint-Germain-des-Prés, về Foucault với những suy tư sâu thẳm về con người và tự do. Khi nhắc đến Foucault, giọng ông chậm lại như đang nhớ về một người bạn cũ đã ra đi rất xa. Sau đó Thierry hỏi Tú rằng tại sao anh lại đến ven sông Sài Gòn để làm mỹ thuật.
Xem thêm
Văn học trong kỷ nguyên số
Với sự phát triển của các phương tiện truyền thông mới và công nghệ mới, những thay đổi lớn đã diễn ra trong cách sáng tác và đọc văn học. Đặc biệt là sự phổ biến của văn học trực tuyến và đọc điện tử, đã làm thay đổi rất nhiều cấu trúc và hệ sinh thái văn học truyền thống. Trong cuộc cách mạng thông tin và truyền thông sâu rộng này, văn học thời đại số sẽ đứng trước những cơ hội và thách thức mới.
Xem thêm
Người trẻ và văn chương tìm đường gặp nhau
Trong thời đại số, chỉ với một cú chạm màn hình, giới trẻ có thể tiếp cận vô vàn nội dung giải trí và tri thức, khiến những trang văn cần đọc chậm, chiêm nghiệm dần đánh mất vị trí trung tâm trong thói quen tiếp nhận.
Xem thêm
Văn học có thực sự chữa được cô đơn?
Ngày nay, thông qua mạng xã hội và các phương tiện công nghệ, con người kết nối với nhau nhiều hơn bao giờ hết. Nhưng một thực tại lại xảy ra: Dường như con người đang cô đơn hơn bao giờ hết. Trong bối cảnh ấy, văn học nghệ thuật được kỳ vọng là sợi dây hàn gắn liên kết giữa người với người. Liệu một cuốn sách có thể mang tới sự gắn kết? Từ những cuộc đối thoại trong chuỗi sự kiện Những ngày Văn học châu Âu 2026, câu hỏi ấy đang trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
Xem thêm
Nhà văn làm báo ở chiến trường - Trên tuyến đầu chống Mỹ - Tất cả cho ngày thống nhất non sông
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, văn nghệ sĩ vào chiến trường rất sớm. Đã sớm hình thành một “binh chủng văn nghệ sĩ” tại chiến trường vừa cầm trực tiếp cầm súng vừa trực tiếp sáng tác, đây là một điều đặc biệt của cuộc chiến tranh, một dấu ấn đặc sắc, để sau này nhìn lại chúng ta càng nhận thức rõ nét hơn, ý thức sâu sắc hơn về chiến tranh, để từ đó xây dựng vững chắc nền hòa bình với sự hiểu biết và trưởng thành của con người Việt Nam thời đại mới.
Xem thêm
Giữ trẻ em ở lại với văn chương
Áp lực học hành, nhịp sống gấp gáp và sức hút của giải trí số khiến trẻ em đang dần xa những trang sách. Để văn học thiếu nhi tìm lại vị trí trong đời sống hôm nay, điều quan trọng không nằm ở tác phẩm hay, mà ở môi trường đọc được nuôi dưỡng bền bỉ từ gia đình, nhà trường, người viết, nhà xuất bản và toàn xã hội. Từ đó, trẻ có thêm những khoảng lặng để mơ mộng, tưởng tượng và lớn lên cùng văn chương.
Xem thêm
AI “lên ngôi” văn đàn sẽ làm méo mó văn chương
Thuật toán AI khi được huấn luyện để “sáng tác” văn học thực chất là hành vi bóc lột sức lao động vốn hết sức vất vả, lao tâm khổ tứ của nhà văn, “cướp công” sáng tạo của họ. Trong khi đó, các ông chủ AI lại nghiễm nhiên hưởng lợi không chính đáng từ trí tuệ, mồ hôi, tâm sức lao động của nhà văn. Không chỉ vậy, khi những thuật toán AI lạnh lùng, vô cảm “sáng tạo” văn chương có thể sinh ra những đứa con tinh thần có hình hài nhưng không lành lặn sẽ dẫn đến sự dễ dãi, lệch lạc trong tiếp nhận tác phẩm của công chúng. Nguy hại nhất là AI có thể “giết chết” lý tưởng, khát vọng, động cơ, cảm hứng sáng tạo nghệ thuật chân chính của nhà văn. Nói mỉa mai, chua chát như một nhà văn, nếu để AI “lên ngôi” văn đàn thì nó không chỉ cướp “chiếc cần câu cơm” của nhà văn mà còn hủy hoại tương lai sự nghiệp sáng tác của họ.
Xem thêm
Cho ngày 30 tháng 4: Chuyện bây giờ mới kể
Thời gian là cỗ máy mài vô tình và tàn nhẫn đối với ký ức cá nhân. Trong biển thông tin hỗn loạn và nhiều kênh hôm nay, ký ức lại càng gặp nhiều thách thức thường trực và dữ dội. Một cách cổ sơ và thủ công cưỡng chống lại sự bào mòn vô tình và tàn nhẫn ấy là tìm dịp nhắc lại, thường xuyên nhắc lại.
Xem thêm
Cần chấm dứt việc truy đuổi người vi phạm giao thông
Tết Bính Ngọ về thăm quê, mình chứng kiến một vụ tai nạn giao thông hơi vô lý. Một lão nông điều khiển xe máy đang chạy trên đường, chợt lão nghe tiếng còi hụ của xe CSGT phía sau, ngỡ là cảnh sát đuổi mình nên lão tăng tốc chạy nhanh hơn. Đến đoạn km 108, QL 20 thì bị lạc tay lái, xe lao vào lề đường té bổ nhào, khiến mặt mày và tay chân lão bê bết máu. Hai anh CSGT dừng xe đỡ lão dậy cùng với người dân mang dầu, băng cad sơ cứu. Trong lúc băng lại vết thương, hai anh cảnh sát nói với lão nông và mọi người rằng, các anh chỉ truy đuổi xe của nam thanh niên vi phạm chứ không phải đuổi xe lão nông này. Do lão hoảng quá, cố chạy nhanh nên gây ra tai nạn. Sau đó ông lão được đưa vào bệnh viện chữa trị. Rất may là ông già này chỉ bị thương nhẹ nên xuất viện một ngày sau đó.
Xem thêm
Biến ý chí thành hành động, biến quyết sách thành hiệu quả
Mọi thắng lợi vẻ vang của cách mạng Việt Nam từ trước đến nay đều khởi nguồn từ sự giao thoa tất yếu giữa ý chí của Đảng và khát vọng của nhân dân. Ý chí tại Đại hội XIV không chỉ đơn thuần là hệ thống văn kiện chính trị, mà là sự kết tinh cao độ giữa bản lĩnh chính trị vững vàng, năng lực dự báo chiến lược tài tình và khát vọng cháy bóng về một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng. Quyết sách của Đảng là thành quả của một quá trình tổng kết thực tiễn sâu sắc, dưới ánh sáng của lý luận khoa học và tinh hoa trí tuệ của toàn dân tộc.
Xem thêm
Biết không hay sao vẫn lao vào?
Trong lĩnh vực văn học, đã có trường hợp sử dụng AI để sáng tác đăng báo, thậm chí in thành sách. Dẫu biết, khi sử dụng AI, tác phẩm sẽ thiếu cảm xúc, khó tạo nên giọng điệu riêng, nhưng vì lợi nhuận, vì sốt ruột nổi tiếng, người ta vẫn lao vào.
Xem thêm
Chuyên đề: Chống AI lũng đoạn văn chương
Không còn là chuyện có nên hay không sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong sáng tác văn học nữa, mà thực tế đang đặt ra yêu cầu ứng phó với việc lợi dụng, lạm dụng AI để tạo nên những sản phẩm mang tên tác giả cụ thể nhưng không thấm mồ hôi của lao động nghề nghiệp, không “đóng dấu” được bản sắc của người viết.
Xem thêm
Thời cơ mới cho sáng tạo văn học - nghệ thuật
Năm 2025 là một năm in dấu đậm trong lịch sử phát triển của đất nước, không chỉ bởi kỉ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9, mà còn là năm diễn ra nhiều sự kiện chính trị - xã hội quan trọng; kịp thời nhìn lại những tác động xã hội nhiều mặt, đồng thời rút ra nhiều vấn đề đáng và cần để tổ chức tốt hơn cho hoạt động kỉ niệm 100 năm ra đời của Đảng (1930 - 2030), 100 năm ra đời của chế độ mới (1945 - 2045) với nội dung thiết thực, nhiều hình thức mới mẻ, hiện đại, đậm đà bản sắc dân tộc.
Xem thêm