TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • “Hòa nhập không hòa tan” về văn hóa để vững bước trong kỉ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam

“Hòa nhập không hòa tan” về văn hóa để vững bước trong kỉ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-01-14 23:49:02
mail facebook google pos stwis
599 lượt xem

Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, hòa nhập không hòa tan là yêu cầu khách quan, vừa cấp thiết, vừa cơ bản, lâu dài trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay. Để bước vào kỉ nguyên mới - kỉ nguyên vươn mình của dân tộc, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một nhiệm vụ phải được coi trọng nhằm tạo lập được cơ sở xã hội vững chắc để văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần của xã hội, là nguồn lực nội sinh quan trọng của đất nước để góp phần “quốc tế hóa” các giá trị văn hóa Việt Nam và “Việt Nam hóa” các giá trị văn hóa quốc tế.

 

Việt Nam lan tỏa giá trị nhân văn và phát triển bền vững tại Trụ sở Liên Hợp Quốc. Ảnh: Tư liệu

 

Cách mạng công nghiệp 4.0 và vai trò của văn hóa trong kỉ nguyên vươn mình của dân tộc

Với ưu thế về công nghệ số, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 diễn ra với tốc độ nhanh, phạm vi rộng và tác động mạnh mẽ đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội mà trong lịch chưa từng có tiền lệ. Trên lĩnh vực văn hóa, cách mạng công nghiệp 4.0 lan tỏa đến tận “thôn cùng, ngõ hẻm”, sự kết nối thế giới được số hóa, làm mờ đi ranh giới, đường biên văn hóa giữa các quốc gia. Với nhiều nước trên thế giới, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 có thể sẽ đưa đất nước họ bước vào một “thế giới phẳng” mà ở đó nó đang gây ra tác động to lớn đáng ngạc nhiên và đôi khi đầy mâu thuẫn đối với các nền văn hóa trên thế giới. Trong bối cảnh đó, văn hóa Việt Nam phải nhanh chóng tận dụng, khai thác tối ưu lợi thế của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, tạo cho mình nhiều cơ hội mới để không ngừng quảng bá, tan tỏa và khẳng định bản sắc văn hóa dân tộc. Song bên cạnh đó, văn hóa Việt Nam cũng phải đối diện với nhiều thách thức, nguy cơ mới, trong đó nguy cơ phai nhạt, đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc cũng luôn hiện hữu.

Qua gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu tiêu biểu, tạo lập được nền tảng vững chắc để Việt Nam tiến bước vào kỉ nguyên mới - kỉ nguyên vươn mình. Đây là “kỉ nguyên phát triển, kỉ nguyên giàu mạnh dưới sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, xây dựng thành công nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đích đến của kỉ nguyên vươn mình là dân giàu, nước mạnh, xã hội xã hội chủ nghĩa, sánh vai với các cường quốc năm châu”1. Trong kỉ nguyên mới, văn hóa dân tộc phải vươn lên mạnh mẽ, phấn đấu thực hiện thành công những mục tiêu chiến lược, tạo sự phát triển vượt bậc ở một tầm cao mới, trình độ mới, chất lượng mới, xác lập được vị thế trên trường quốc tế. Do vậy, Việt Nam phải “tranh thủ tối đa thời cơ, thuận lợi, đẩy lùi nguy cơ, thách thức, đưa đất nước phát triển toàn diện, mạnh mẽ, bứt phá và cất cánh”2 như lời của Tổng Bí thư Tô Lâm, để văn hóa thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc.

Một số yêu cầu đặt ra đối với văn hóa trong kỉ nguyên vươn mình

Đảm bảo tính dân tộc và tính quốc tế của văn hóa Việt Nam. Lịch sử mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã tạo dựng được nền văn hóa kết tinh trong đó ý thức, tâm hồn, cốt cách, tinh hoa… riêng. Chính những bản sắc riêng đó đã trở thành sức mạnh mềm giúp văn hóa Việt Nam chống chọi, vượt qua những âm mưu, thủ đoạn đồng hóa của kẻ đô hộ trong lịch sử. Ngày nay, để hòa nhập mà không bị hòa tan, đòi hỏi người Việt cần ứng xử thông minh, sáng tạo, khéo léo hơn để “quốc tế hóa” những giá trị bản sắc của Việt Nam và “Việt Nam hóa” được những giá trị tiêu biểu, tiến bộ ảnh hưởng từ bên ngoài. Như thế, mỗi người dân Việt Nam dù sống ở đâu đều sẽ tự hào về văn hóa của đất nước, quê hương mình. Và chính họ sẽ đảm bảo văn hóa Việt Nam không bị hòa tan trong cơn lốc toàn cầu hóa, trong môi trường công nghệ số, văn hóa số, công dân số hiện nay.

Đảm bảo mọi sáng tạo văn hóa đều vì con người và luôn đặt con người ở vị trí trung tâm trong sáng tạo, phát triển văn hóa. Chưa bao giờ khoa học, công nghệ lại khẳng định sức mạnh ưu trội của nó như hiện nay. Trí tuệ nhân tạo (AI) có khả năng thu thập, sao chép, cắt ghép, mô phỏng những dữ liệu có sẵn để tạo ra sản phẩm văn hóa mới, cộng với sự lan truyền mạnh mẽ của sản phẩm mới trên nền tảng công nghệ số khiến con người rất khó kiểm soát, nhất là khi chưa được trang bị kiến thức, chưa hiểu đúng giá trị gốc. Do vậy cần phải nhận thức đúng con người là trung tâm và chủ thể sáng tạo văn hóa. Chỉ những sản phẩm văn hóa do con người sáng tạo ra mới phản ánh đầy đủ nhất, chân thực nhất, sinh động nhất và phong phú nhất nhu cầu, khát vọng của mình. Nói cách khác, chỉ những sáng tạo văn hóa của con người mới mang hồn cốt của họ, mới là cơ sở để nhận diện khi họ bước vào cộng đồng lớn hơn. Vì lẽ đó, cần “tôn trọng và bảo vệ sự biểu đạt đa dạng của văn hóa, của người dân, các dân tộc, các vùng, miền”3 để khuyến khích sự sáng tạo, phát triển văn hóa. Đồng thời, tận dụng ưu thế của công nghệ số trong sáng tạo văn hóa số để tăng thêm sức mạnh tổng hợp, xây dựng được nền văn hóa mang đậm yếu tố truyền thống và hiện đại, dân tộc và quốc tế, tự tin hội nhập với thế giới.

Cùng với đó, phải khơi dậy truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy được tài năng, trí tuệ, phẩm chất… để xây dựng con người Việt Nam thời đại mới, gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại. Để từ đó khơi dậy, khuyến khích khả năng sáng tạo vô tận của nhân dân bởi nhân dân chính là người sáng tạo, thụ hưởng và lưu truyền văn hóa tốt đẹp của dân tộc mình.

Luôn chủ động dự báo, ứng phó với những nguy cơ, thách thức. Có một thực tế khách quan là khi tham gia vào quá trình toàn cầu hóa, nhiều yếu tố văn hóa dân tộc sẽ phải đi từ những bộ phận riêng biệt, khép kín để hình thành những mối liên kết, tác động qua lại, ảnh hưởng và chi phối lẫn nhau nhằm xác lập những giá trị và chuẩn giá trị mới. Các giá trị hiện đại sẽ dùng những ưu thế về khoa học, công nghệ để tấn công mạnh mẽ, làm suy yếu giá trị truyền thống. Ngược lại, các giá trị truyền thống sẽ tìm mọi cách để tự vệ, phản kháng nhằm giữ lại bản sắc riêng. Sự xung đột này có thể diễn ra âm thầm nhưng cũng có khi rất mạnh mẽ, gay gắt và đó cũng là cơ hội để các thế lực thù địch lợi dụng hòng thực hiện âm mưu phá hoại văn hóa, tư tưởng, nhất là tấn công vào giới trẻ. Nhân cơ hội “tranh tối, tranh sáng”, các thế lực thù địch tăng cường truyền bá, du nhập quan điểm, tư tưởng, văn hoá, lối sống “phi nhân tính” của phương Tây, thương mại hoá các hoạt động văn hoá một cách thái quá, gặm nhấm các giá trị văn hóa xã hội chủ nghĩa và bản sắc văn hóa dân tộc, làm cho người ta quên đi nghĩa vụ, quên đi bản quán, gốc rễ, cội nguồn. Vì thế, cần phải nhận diện, dự báo, ứng phó với những nguy cơ, thách thức và phải đặc biệt chú trọng tới việc “chấn hưng và phát triển nền văn hoá Việt Nam trong thời gian tới”4 để phát triển nhanh, bền vững trong kỉ nguyên vươn mình.

Để văn hóa “hòa nhập không hòa tan” trong kỉ nguyên vươn mình

Do hoàn cảnh lịch sử, văn hóa Việt Nam đã trải qua nhiều thử thách mà không bị đồng hóa. Đó là cơ sở, là kinh nghiệm quý để Đảng ta kế thừa, phát triển và vận dụng sáng tạo vào quá trình lãnh đạo đất nước về văn hóa trong kỉ nguyên mới. Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng luôn là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của Việt Nam, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nguồn lực vô tận từ nhân dân để xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Đồng thời, để văn hóa dân tộc không bị hòa tan trong quá trình toàn cầu hóa, tự tin vững bước trong kỉ nguyên vươn mình, cần thực hiện tốt một số biện pháp sau:

Một là, đổi mới tư duy về văn hóa

Kỉ nguyên vươn mình của dân tộc sẽ diễn ra đồng thời với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ. Đó là quá trình phát triển không ngừng theo quy mô, mức độ ngày càng rộng lớn, làm thay đổi phương thức sáng tạo, quảng bá, lưu truyền, thụ hưởng, nhận thức, tư duy, thế ứng xử của con người, văn hóa Việt Nam. Do đó, cùng với đầu tư cơ sở hạ tầng, hoàn thiện thể chế, chính sách, điều tất yếu là phải tiếp tục hoàn thiện, đổi mới tư duy về văn hóa theo tinh thần: “tiếp thu, bổ sung một cách có chọn lọc trên tinh thần phê phán và sáng tạo những thành tựu mới nhất về tư tưởng và khoa học để chủ nghĩa, học thuyết của chúng ta luôn luôn tươi mới, luôn luôn được tiếp thêm sinh lực mới, mang hơi thở của thời đại, không rơi vào xơ cứng, trì trệ, lạc hậu so với cuộc sống”5.

Việc đổi mới tư duy để chỉ dẫn cho hành động là đòi hỏi tất yếu khách quan. Việt Nam phải chủ động nắm bắt, tận dụng hiệu quả các cơ hội của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0… song phải trên tinh thần mọi sự đổi mới đều không được đi ngược lại quan điểm của Đảng về xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, với các đặc trưng dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học.

Hai là, chú trọng đào tạo, phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của kỉ nguyên số, tạo nền tảng vững chắc cho văn hóa phát triển

Phát triển nguồn nhân lực ngành văn hóa, văn nghệ, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao để họ chủ động, tự tin, sáng tạo, đi đầu ứng dụng công nghệ số trong lĩnh vực văn hóa như: xây dựng di sản văn hóa số, phát triển ngành công nghiệp văn hóa… Kết nối chặt chẽ văn hóa số với kinh tế số để sáng tạo nhiều sản phẩm văn hóa đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của con người, đồng thời biến văn hóa số thành nguồn lực trực tiếp thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội nhanh và bền vững. Để làm được điều đó, lực lượng này phải thực sự am hiểu, thực hành được và có đủ bản lĩnh, tự tin, tự hào giới thiệu những nét văn hóa đặc sắc ra thế giới, biết cách làm mới những giá trị truyền thống mà không đánh mất bản sắc của mình; biết học cái hay, cái tốt và biết định hướng giá trị cho nhân dân trong nước.

Kỉ nguyên vươn mình đòi hỏi phải phát huy, khai thác hiệu quả mạng lưới công dân số để phát triển văn hóa số, đặc biệt là phát huy cao nhất tinh thần ý chí, sức mạnh của toàn dân. Do đó, cần phải khơi dậy được tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý chí tự lực, tự chủ, tự cường, khát vọng sáng tạo và cống hiến của toàn dân bởi nhân dân là chủ thể, đóng vai trò trung tâm kiến tạo kỉ nguyên mới của dân tộc. Phải làm sao để mỗi người dân đều tham gia tích cực, chủ động vào việc gìn giữ, phát triển, lan tỏa những giá trị văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc.

Ba là, quan tâm phát triển ngành công nghiệp văn hóa

Sự phát triển của ngành công nghiệp văn hóa là một tất yếu khách quan của thời đại ngày nay. Việt Nam đã xây dựng được Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, đó là cơ sở quan trọng để ngành công nghiệp văn hóa trở thành ngành kinh tế quan trọng và thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia. Do đó, cần bổ sung và hoàn thiện các cơ chế, chính sách có tính đột phá để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho ngành công nghiệp văn hóa phát triển, từ điều kiện kinh doanh, dịch vụ văn hóa, vấn đề sở hữu trí tuệ, vấn đề đầu tư nguồn lực vật chất, tinh thần, vấn đề đào tạo nguồn lực… nhằm tháo gỡ được các rào cản, nút thắt để phát huy tiềm năng, lợi thế của nền văn hóa đậm đà bản sắc của Việt Nam.

Trong quá trình phát triển ngành công nghiệp văn hóa, bên cạnh việc tiếp tục học hỏi kinh nghiệm thành công của các nước trong khu vực và trên thế giới, Việt Nam cần coi trọng việc tạo ra được các sản phẩm, dịch vụ văn hóa hấp dẫn, đáp ứng được nhu cầu thụ hưởng văn hóa của nhân dân và gợi được sự tò mò, muốn tìm hiểu, khám phá, trải nghiệm của bạn bè thế giới. Thông qua đó, góp phần quảng bá, lan tỏa văn hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế, tiến tới sản phẩm của ngành công nghiệp văn hóa phải chiếm lĩnh được thị trường quốc tế.

Bốn là, đa dạng hóa các hình thức quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới

Để bản sắc văn hóa dân tộc không bị phai mờ, bên cạnh giữ gìn, phát triển sáng tạo, chúng ta cần tăng cường tuyên truyền, quảng bá, đưa nét đẹp văn hóa Việt Nam đến với thế giới bằng nhiều cách thức, con đường khác nhau. Bên cạnh việc xây dựng và phát triển thị trường sản phẩm dịch vụ văn hóa của Việt Nam ở nước ngoài, cần chủ động mở rộng hợp tác văn hóa với các nước, thực hiện đa dạng hóa các hình thức văn hóa đối ngoại, đưa các quan hệ quốc tế về văn hóa đi vào chiều sâu. Đồng thời, chú trọng truyền bá văn hóa Việt Nam, dạy tiếng Việt Nam cho người Việt Nam ở nước ngoài và người nước ngoài ở Việt Nam.

Đẩy mạnh xây dựng một số trung tâm văn hóa Việt Nam ở nước ngoài và trung tâm dịch thuật, quảng bá văn hóa Việt Nam ra nước ngoài. Coi trọng xây dựng cơ chế, chính sách phát triển văn hóa đối ngoại, hỗ trợ quảng bá nghệ thuật quốc gia và xuất khẩu các sản phẩm văn hóa ra nước ngoài. Chẳng hạn trong lĩnh vực âm nhạc, nhiều MV âm nhạc của những nghệ sĩ trẻ như See Tình của Hoàng Thùy Linh, Bắc Bling của Hòa Minzy… đã khai thác âm hưởng, chất liệu dân gian, kết hợp với âm nhạc, vũ điệu, tiết tấu hiện đại, tạo nên những sản phẩm âm nhạc mới vừa mang giá trị truyền thống, vừa bắt nhịp với hơi thở của thời đại, có sức lan tỏa trên phạm vi toàn cầu.

Vững vàng về tâm thế, chủ động đón nhận thời cơ, dự báo những khó khăn thách thức, có chiến lược phát triển văn hóa rõ ràng, có sự đồng lòng, chung tay, chung sức của mỗi người dân đất Việt, chúng ta có niềm tin văn hóa Việt “hòa nhập không hòa tan”, đạt được nhiều thành tựu rực rỡ trong quá trình toàn cầu hóa và kỉ nguyên vươn mình của dân tộc.

Lê Thị Huyền/VNQĐ

Nguồn tham khảo:

1. GS, TS Tô Lâm: “Cơ sở định vị mục tiêu phát triển và định hướng chiến lược đưa đất nước bước vào kỉ nguyên mới”, báo Nhân dân, số 25193, ngày 1-11-2024, tr.2, https://image.nhandan.vn/Uploaded/2024/tmuivppi/2024_11_01/docbao-ndhangngay-01112024-8657.pdf

2. GS, TS Tô Lâm: “Cơ sở định vị mục tiêu phát triển và định hướng chiến lược đưa đất nước bước vào kỉ nguyên mới”, báo Nhân dân, số 25193, ngày 1-11-2024, tr. 2, https://image.nhandan.vn/Uploaded/2024/tmuivppi/2024_11_01/docbao-ndhangngay-01112024-8657.pdf

3. Nguyễn Phú Trọng (2022), Một số vấn đề lí luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.171.

4. Nguyễn Phú Trọng (2022), Một số vấn đề lí luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.168.

5. Nguyễn Phú Trọng (2022), Một số vấn đề lí luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 37 - 38.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm