TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • “Hòa nhập không hòa tan” về văn hóa để vững bước trong kỉ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam

“Hòa nhập không hòa tan” về văn hóa để vững bước trong kỉ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-01-14 23:49:02
mail facebook google pos stwis
412 lượt xem

Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, hòa nhập không hòa tan là yêu cầu khách quan, vừa cấp thiết, vừa cơ bản, lâu dài trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay. Để bước vào kỉ nguyên mới - kỉ nguyên vươn mình của dân tộc, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một nhiệm vụ phải được coi trọng nhằm tạo lập được cơ sở xã hội vững chắc để văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần của xã hội, là nguồn lực nội sinh quan trọng của đất nước để góp phần “quốc tế hóa” các giá trị văn hóa Việt Nam và “Việt Nam hóa” các giá trị văn hóa quốc tế.

 

Việt Nam lan tỏa giá trị nhân văn và phát triển bền vững tại Trụ sở Liên Hợp Quốc. Ảnh: Tư liệu

 

Cách mạng công nghiệp 4.0 và vai trò của văn hóa trong kỉ nguyên vươn mình của dân tộc

Với ưu thế về công nghệ số, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 diễn ra với tốc độ nhanh, phạm vi rộng và tác động mạnh mẽ đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội mà trong lịch chưa từng có tiền lệ. Trên lĩnh vực văn hóa, cách mạng công nghiệp 4.0 lan tỏa đến tận “thôn cùng, ngõ hẻm”, sự kết nối thế giới được số hóa, làm mờ đi ranh giới, đường biên văn hóa giữa các quốc gia. Với nhiều nước trên thế giới, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 có thể sẽ đưa đất nước họ bước vào một “thế giới phẳng” mà ở đó nó đang gây ra tác động to lớn đáng ngạc nhiên và đôi khi đầy mâu thuẫn đối với các nền văn hóa trên thế giới. Trong bối cảnh đó, văn hóa Việt Nam phải nhanh chóng tận dụng, khai thác tối ưu lợi thế của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, tạo cho mình nhiều cơ hội mới để không ngừng quảng bá, tan tỏa và khẳng định bản sắc văn hóa dân tộc. Song bên cạnh đó, văn hóa Việt Nam cũng phải đối diện với nhiều thách thức, nguy cơ mới, trong đó nguy cơ phai nhạt, đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc cũng luôn hiện hữu.

Qua gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu tiêu biểu, tạo lập được nền tảng vững chắc để Việt Nam tiến bước vào kỉ nguyên mới - kỉ nguyên vươn mình. Đây là “kỉ nguyên phát triển, kỉ nguyên giàu mạnh dưới sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, xây dựng thành công nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đích đến của kỉ nguyên vươn mình là dân giàu, nước mạnh, xã hội xã hội chủ nghĩa, sánh vai với các cường quốc năm châu”1. Trong kỉ nguyên mới, văn hóa dân tộc phải vươn lên mạnh mẽ, phấn đấu thực hiện thành công những mục tiêu chiến lược, tạo sự phát triển vượt bậc ở một tầm cao mới, trình độ mới, chất lượng mới, xác lập được vị thế trên trường quốc tế. Do vậy, Việt Nam phải “tranh thủ tối đa thời cơ, thuận lợi, đẩy lùi nguy cơ, thách thức, đưa đất nước phát triển toàn diện, mạnh mẽ, bứt phá và cất cánh”2 như lời của Tổng Bí thư Tô Lâm, để văn hóa thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc.

Một số yêu cầu đặt ra đối với văn hóa trong kỉ nguyên vươn mình

Đảm bảo tính dân tộc và tính quốc tế của văn hóa Việt Nam. Lịch sử mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã tạo dựng được nền văn hóa kết tinh trong đó ý thức, tâm hồn, cốt cách, tinh hoa… riêng. Chính những bản sắc riêng đó đã trở thành sức mạnh mềm giúp văn hóa Việt Nam chống chọi, vượt qua những âm mưu, thủ đoạn đồng hóa của kẻ đô hộ trong lịch sử. Ngày nay, để hòa nhập mà không bị hòa tan, đòi hỏi người Việt cần ứng xử thông minh, sáng tạo, khéo léo hơn để “quốc tế hóa” những giá trị bản sắc của Việt Nam và “Việt Nam hóa” được những giá trị tiêu biểu, tiến bộ ảnh hưởng từ bên ngoài. Như thế, mỗi người dân Việt Nam dù sống ở đâu đều sẽ tự hào về văn hóa của đất nước, quê hương mình. Và chính họ sẽ đảm bảo văn hóa Việt Nam không bị hòa tan trong cơn lốc toàn cầu hóa, trong môi trường công nghệ số, văn hóa số, công dân số hiện nay.

Đảm bảo mọi sáng tạo văn hóa đều vì con người và luôn đặt con người ở vị trí trung tâm trong sáng tạo, phát triển văn hóa. Chưa bao giờ khoa học, công nghệ lại khẳng định sức mạnh ưu trội của nó như hiện nay. Trí tuệ nhân tạo (AI) có khả năng thu thập, sao chép, cắt ghép, mô phỏng những dữ liệu có sẵn để tạo ra sản phẩm văn hóa mới, cộng với sự lan truyền mạnh mẽ của sản phẩm mới trên nền tảng công nghệ số khiến con người rất khó kiểm soát, nhất là khi chưa được trang bị kiến thức, chưa hiểu đúng giá trị gốc. Do vậy cần phải nhận thức đúng con người là trung tâm và chủ thể sáng tạo văn hóa. Chỉ những sản phẩm văn hóa do con người sáng tạo ra mới phản ánh đầy đủ nhất, chân thực nhất, sinh động nhất và phong phú nhất nhu cầu, khát vọng của mình. Nói cách khác, chỉ những sáng tạo văn hóa của con người mới mang hồn cốt của họ, mới là cơ sở để nhận diện khi họ bước vào cộng đồng lớn hơn. Vì lẽ đó, cần “tôn trọng và bảo vệ sự biểu đạt đa dạng của văn hóa, của người dân, các dân tộc, các vùng, miền”3 để khuyến khích sự sáng tạo, phát triển văn hóa. Đồng thời, tận dụng ưu thế của công nghệ số trong sáng tạo văn hóa số để tăng thêm sức mạnh tổng hợp, xây dựng được nền văn hóa mang đậm yếu tố truyền thống và hiện đại, dân tộc và quốc tế, tự tin hội nhập với thế giới.

Cùng với đó, phải khơi dậy truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy được tài năng, trí tuệ, phẩm chất… để xây dựng con người Việt Nam thời đại mới, gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại. Để từ đó khơi dậy, khuyến khích khả năng sáng tạo vô tận của nhân dân bởi nhân dân chính là người sáng tạo, thụ hưởng và lưu truyền văn hóa tốt đẹp của dân tộc mình.

Luôn chủ động dự báo, ứng phó với những nguy cơ, thách thức. Có một thực tế khách quan là khi tham gia vào quá trình toàn cầu hóa, nhiều yếu tố văn hóa dân tộc sẽ phải đi từ những bộ phận riêng biệt, khép kín để hình thành những mối liên kết, tác động qua lại, ảnh hưởng và chi phối lẫn nhau nhằm xác lập những giá trị và chuẩn giá trị mới. Các giá trị hiện đại sẽ dùng những ưu thế về khoa học, công nghệ để tấn công mạnh mẽ, làm suy yếu giá trị truyền thống. Ngược lại, các giá trị truyền thống sẽ tìm mọi cách để tự vệ, phản kháng nhằm giữ lại bản sắc riêng. Sự xung đột này có thể diễn ra âm thầm nhưng cũng có khi rất mạnh mẽ, gay gắt và đó cũng là cơ hội để các thế lực thù địch lợi dụng hòng thực hiện âm mưu phá hoại văn hóa, tư tưởng, nhất là tấn công vào giới trẻ. Nhân cơ hội “tranh tối, tranh sáng”, các thế lực thù địch tăng cường truyền bá, du nhập quan điểm, tư tưởng, văn hoá, lối sống “phi nhân tính” của phương Tây, thương mại hoá các hoạt động văn hoá một cách thái quá, gặm nhấm các giá trị văn hóa xã hội chủ nghĩa và bản sắc văn hóa dân tộc, làm cho người ta quên đi nghĩa vụ, quên đi bản quán, gốc rễ, cội nguồn. Vì thế, cần phải nhận diện, dự báo, ứng phó với những nguy cơ, thách thức và phải đặc biệt chú trọng tới việc “chấn hưng và phát triển nền văn hoá Việt Nam trong thời gian tới”4 để phát triển nhanh, bền vững trong kỉ nguyên vươn mình.

Để văn hóa “hòa nhập không hòa tan” trong kỉ nguyên vươn mình

Do hoàn cảnh lịch sử, văn hóa Việt Nam đã trải qua nhiều thử thách mà không bị đồng hóa. Đó là cơ sở, là kinh nghiệm quý để Đảng ta kế thừa, phát triển và vận dụng sáng tạo vào quá trình lãnh đạo đất nước về văn hóa trong kỉ nguyên mới. Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng luôn là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của Việt Nam, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nguồn lực vô tận từ nhân dân để xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Đồng thời, để văn hóa dân tộc không bị hòa tan trong quá trình toàn cầu hóa, tự tin vững bước trong kỉ nguyên vươn mình, cần thực hiện tốt một số biện pháp sau:

Một là, đổi mới tư duy về văn hóa

Kỉ nguyên vươn mình của dân tộc sẽ diễn ra đồng thời với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ. Đó là quá trình phát triển không ngừng theo quy mô, mức độ ngày càng rộng lớn, làm thay đổi phương thức sáng tạo, quảng bá, lưu truyền, thụ hưởng, nhận thức, tư duy, thế ứng xử của con người, văn hóa Việt Nam. Do đó, cùng với đầu tư cơ sở hạ tầng, hoàn thiện thể chế, chính sách, điều tất yếu là phải tiếp tục hoàn thiện, đổi mới tư duy về văn hóa theo tinh thần: “tiếp thu, bổ sung một cách có chọn lọc trên tinh thần phê phán và sáng tạo những thành tựu mới nhất về tư tưởng và khoa học để chủ nghĩa, học thuyết của chúng ta luôn luôn tươi mới, luôn luôn được tiếp thêm sinh lực mới, mang hơi thở của thời đại, không rơi vào xơ cứng, trì trệ, lạc hậu so với cuộc sống”5.

Việc đổi mới tư duy để chỉ dẫn cho hành động là đòi hỏi tất yếu khách quan. Việt Nam phải chủ động nắm bắt, tận dụng hiệu quả các cơ hội của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0… song phải trên tinh thần mọi sự đổi mới đều không được đi ngược lại quan điểm của Đảng về xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, với các đặc trưng dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học.

Hai là, chú trọng đào tạo, phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của kỉ nguyên số, tạo nền tảng vững chắc cho văn hóa phát triển

Phát triển nguồn nhân lực ngành văn hóa, văn nghệ, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao để họ chủ động, tự tin, sáng tạo, đi đầu ứng dụng công nghệ số trong lĩnh vực văn hóa như: xây dựng di sản văn hóa số, phát triển ngành công nghiệp văn hóa… Kết nối chặt chẽ văn hóa số với kinh tế số để sáng tạo nhiều sản phẩm văn hóa đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của con người, đồng thời biến văn hóa số thành nguồn lực trực tiếp thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội nhanh và bền vững. Để làm được điều đó, lực lượng này phải thực sự am hiểu, thực hành được và có đủ bản lĩnh, tự tin, tự hào giới thiệu những nét văn hóa đặc sắc ra thế giới, biết cách làm mới những giá trị truyền thống mà không đánh mất bản sắc của mình; biết học cái hay, cái tốt và biết định hướng giá trị cho nhân dân trong nước.

Kỉ nguyên vươn mình đòi hỏi phải phát huy, khai thác hiệu quả mạng lưới công dân số để phát triển văn hóa số, đặc biệt là phát huy cao nhất tinh thần ý chí, sức mạnh của toàn dân. Do đó, cần phải khơi dậy được tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý chí tự lực, tự chủ, tự cường, khát vọng sáng tạo và cống hiến của toàn dân bởi nhân dân là chủ thể, đóng vai trò trung tâm kiến tạo kỉ nguyên mới của dân tộc. Phải làm sao để mỗi người dân đều tham gia tích cực, chủ động vào việc gìn giữ, phát triển, lan tỏa những giá trị văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc.

Ba là, quan tâm phát triển ngành công nghiệp văn hóa

Sự phát triển của ngành công nghiệp văn hóa là một tất yếu khách quan của thời đại ngày nay. Việt Nam đã xây dựng được Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, đó là cơ sở quan trọng để ngành công nghiệp văn hóa trở thành ngành kinh tế quan trọng và thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia. Do đó, cần bổ sung và hoàn thiện các cơ chế, chính sách có tính đột phá để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho ngành công nghiệp văn hóa phát triển, từ điều kiện kinh doanh, dịch vụ văn hóa, vấn đề sở hữu trí tuệ, vấn đề đầu tư nguồn lực vật chất, tinh thần, vấn đề đào tạo nguồn lực… nhằm tháo gỡ được các rào cản, nút thắt để phát huy tiềm năng, lợi thế của nền văn hóa đậm đà bản sắc của Việt Nam.

Trong quá trình phát triển ngành công nghiệp văn hóa, bên cạnh việc tiếp tục học hỏi kinh nghiệm thành công của các nước trong khu vực và trên thế giới, Việt Nam cần coi trọng việc tạo ra được các sản phẩm, dịch vụ văn hóa hấp dẫn, đáp ứng được nhu cầu thụ hưởng văn hóa của nhân dân và gợi được sự tò mò, muốn tìm hiểu, khám phá, trải nghiệm của bạn bè thế giới. Thông qua đó, góp phần quảng bá, lan tỏa văn hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế, tiến tới sản phẩm của ngành công nghiệp văn hóa phải chiếm lĩnh được thị trường quốc tế.

Bốn là, đa dạng hóa các hình thức quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới

Để bản sắc văn hóa dân tộc không bị phai mờ, bên cạnh giữ gìn, phát triển sáng tạo, chúng ta cần tăng cường tuyên truyền, quảng bá, đưa nét đẹp văn hóa Việt Nam đến với thế giới bằng nhiều cách thức, con đường khác nhau. Bên cạnh việc xây dựng và phát triển thị trường sản phẩm dịch vụ văn hóa của Việt Nam ở nước ngoài, cần chủ động mở rộng hợp tác văn hóa với các nước, thực hiện đa dạng hóa các hình thức văn hóa đối ngoại, đưa các quan hệ quốc tế về văn hóa đi vào chiều sâu. Đồng thời, chú trọng truyền bá văn hóa Việt Nam, dạy tiếng Việt Nam cho người Việt Nam ở nước ngoài và người nước ngoài ở Việt Nam.

Đẩy mạnh xây dựng một số trung tâm văn hóa Việt Nam ở nước ngoài và trung tâm dịch thuật, quảng bá văn hóa Việt Nam ra nước ngoài. Coi trọng xây dựng cơ chế, chính sách phát triển văn hóa đối ngoại, hỗ trợ quảng bá nghệ thuật quốc gia và xuất khẩu các sản phẩm văn hóa ra nước ngoài. Chẳng hạn trong lĩnh vực âm nhạc, nhiều MV âm nhạc của những nghệ sĩ trẻ như See Tình của Hoàng Thùy Linh, Bắc Bling của Hòa Minzy… đã khai thác âm hưởng, chất liệu dân gian, kết hợp với âm nhạc, vũ điệu, tiết tấu hiện đại, tạo nên những sản phẩm âm nhạc mới vừa mang giá trị truyền thống, vừa bắt nhịp với hơi thở của thời đại, có sức lan tỏa trên phạm vi toàn cầu.

Vững vàng về tâm thế, chủ động đón nhận thời cơ, dự báo những khó khăn thách thức, có chiến lược phát triển văn hóa rõ ràng, có sự đồng lòng, chung tay, chung sức của mỗi người dân đất Việt, chúng ta có niềm tin văn hóa Việt “hòa nhập không hòa tan”, đạt được nhiều thành tựu rực rỡ trong quá trình toàn cầu hóa và kỉ nguyên vươn mình của dân tộc.

Lê Thị Huyền/VNQĐ

Nguồn tham khảo:

1. GS, TS Tô Lâm: “Cơ sở định vị mục tiêu phát triển và định hướng chiến lược đưa đất nước bước vào kỉ nguyên mới”, báo Nhân dân, số 25193, ngày 1-11-2024, tr.2, https://image.nhandan.vn/Uploaded/2024/tmuivppi/2024_11_01/docbao-ndhangngay-01112024-8657.pdf

2. GS, TS Tô Lâm: “Cơ sở định vị mục tiêu phát triển và định hướng chiến lược đưa đất nước bước vào kỉ nguyên mới”, báo Nhân dân, số 25193, ngày 1-11-2024, tr. 2, https://image.nhandan.vn/Uploaded/2024/tmuivppi/2024_11_01/docbao-ndhangngay-01112024-8657.pdf

3. Nguyễn Phú Trọng (2022), Một số vấn đề lí luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.171.

4. Nguyễn Phú Trọng (2022), Một số vấn đề lí luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.168.

5. Nguyễn Phú Trọng (2022), Một số vấn đề lí luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 37 - 38.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm