TIN TỨC

Những câu thơ biết thức

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-01-08 23:04:53
mail facebook google pos stwis
286 lượt xem

BÙI VIỆT MỸ

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Anh bạn cùng học ngành luật hẹn gặp, vui vẻ khoe vừa mới nghỉ hưu và đưa tôi tập thơ anh cũng kịp cho xuất bản. Nhìn qua đã thấy đẹp và trang nhã như cái tít của nó:  Thái Hưng - ĐI QUA MÙA THU - Nxb Hội Nhà văn 2024. Tôi có cảm giác nhẹ nhàng, đây là tập thơ tình chăng?

 

Nhà thơ Thái Hưng

Tối đến mở xem thì bất ngờ bị nó cuốn hút. Sức cuốn hút của “vật thể nặng” nên đêm trằn trọc mãi không ngủ được. Mùa thu bỗng trở nên nặng nề đến thế! Mùa thu này là sự dịu nhẹ của cọng gió thẳm xanh hay là dáng cương thường của cây sấu già trắng bão đây? Có lẽ nó có cả (!). Và, Đất sẽ là cái kết, trả lời cho những nghi vấn bắt buộc ấy. Năm bốn lăm làng chết trăm người

Bố tôi một mình ra tỉnh

Nửa đời trở về, tay trắng

Ông đứng lặng trước ngôi nhà xưa

Phóng chiếc mai xuống đất mà thề:

- Không đi nữa!

Như một tuyên ngôn về cái sự đời. Nửa đời long đong nơi đất khách quê người để ông đủ nhận ra canh bạc của lòng người. Ở đâu cũng thế cả, chuyện lam làm, giành giật kiếm sống; đồng bạc buột ra rơi tõm vào đám chợ. Nửa đời mà đâu đã nên người, đâu làm đã nên ăn. Cái chí lớn đeo đuổi suốt từ khi ấy chẳng thành. Và rồi người ta thấy ông đột ngột trở về, hai bàn tay trắng! Cái hình ảnh vốn cương thường kia, đứng lặng trước ngôi nhà của mình, cay đắng, nghiệt ngã, nuốt hận mà ngước con mắt lên “phóng” mạnh cái mai xuống. Không đâu bằng đất nhà mình, đất của chính ông cha nhà mình để lại. Ở đó nó có tất cả, không cần phải đi tìm ở đâu cả. Bây giờ ông đã nhận ra nó như vậy đấy!

Gần như là một tuyên ngôn thứ hai, nó có mối liên kết chặt chẽ với câu chuyện trên kia. Thơ tìm ta trú ngụ, ta nghèo xót xa trắng ngọn cỏ, ta chết còn thơ thì không. Điều này cũng chỉ được rút ra, cô đặc lại từ kinh nghiệm xương máu của người cha:

Con ơi!

Thơ không tắt thở

Thơ không cần vuốt mắt như bố

Thơ hóa thạch ở lòng người!

Thơ vận người. Nhưng người - đến lúc nào đó - nhất định rồi sẽ nhắm mắt, ngừng thở, còn thơ thì vẫn thức. Câu chuyện lại còn ẩn khuất điều kỳ lạ là: Từ nhát phóng mai xuống đất khi trở về sau mấy chục năm trời, ông thờ chữ Nhẫn. Vậy trước khi nhắm mắt xuôi tay, ở con người cả quyết ấy đã dặn lại con cháu điều gì và hành động gì của ông là sau chót? Thật chẳng ai ngờ, ông lại bảo lấy vôi xóa sạch cái chữ Nhẫn kia đi!...Vậy chẳng lẽ từ thế hệ sau ông thì không cần đến, không chọn đến chữ Nhẫn ấy nữa.Trớ trêu vậy chăng?

Đấy là câu chuyện hay về cái nhẽ ở đời. Nhưng, đây là thơ. Thái Hưng viết thơ như thế sao? Nặng về bố cục một nội dung mà thiếu đi độ bóng bảy cần thiết? Không, với dụng ý mà tác giả cần truyền tải, anh cứ viết sao cho nó hàm xúc, nó đầy một tâm trạng chân thành. Rõ ràng, chúng ta đọc đã thực sự thấy có một sức hấp dẫn tự nhiên - như thơ tự bản năng vậy. Chợt nhớ, khi còn đi học, chúng tôi đã rất thích kiểu thơ “thời sự” của Владимирович Маяковский, (1893 - 1930), nó thức, ví như một đoạn trong bài Những người loạn họp,(cái cách diễn đạt hợp tạng, Thái Hưng dễ bị lây):

…Kích động quá, không tài nào chợp mắt

Trời đã sáng tờ mờ

Tôi đón ban mai với một ước mơ:

“Ôi ước sao

Được họp thêm một cuộc.

Để tìm phương thanh toán

Các cuộc họp trên đời”

(Gs. Hoàng Ngọc Hiến dịch)

Cứ mạch thơ theo kiểu cách ấy kéo dài suốt trong tập. Mỗi bài là một vấn đề được cấu tứ theo một lập luận có trình tự, song buông bỏ bằng cách đưa ra minh chứng đang tồn tại thực tế để mặc bạn đọc đi tìm cái nghĩa đích thực. Trong bài Anh tôi, với một cấu tứ rằng:

Dưới trưa nắng xoay trần

Vét bùn đổ lên

mặt ruộng

Mồ hôi bám lưng bóng mật

Ròng ròng trên ngực chẳng khô

Chân bấm lún đá ngõ làng chuyển lúa

Vai cuộn lằn thoi gỗ

Gánh vơi cả đồng suốt tháng suốt năm…để hình ảnh người nông dân lam làm ấy:

Bóng đổ lặng im trên vách

Lưng cong sao Thần Nông trên trời.

Còn nếu muốn nghỉ thì anh ấy mượn ngày giỗ bố mà nghỉ, nghỉ xen lẫn cả giải trí nữa:

Hôm nay

Tôi về giỗ Bố

Ngồi bên vò rượu nếp thơm

Nghe anh tôi đọc bài thơ tự làm…Thật vậy, cái vò rượu nếp thơm kia là thành quả của sự lao động vất vả, nhọc nhằn, đối mặt với nắng, mưa, bão tố, với cả chính những thói tham lam của con người nữa. Song đêm đêm, ngước sương sao, ông vẫn còn cảm tác thành thơ. Buông bỏ mấy câu, đọc chơi như Lý Bạch (!). Đấy chính là con người.

Bài Về vùng than có những câu như thế này:

Về vùng than tìm bạn

Than đen - người đen

nụ cười - chớp trắng

Ngồn ngột nóng…

Dưới sâu trăm mét đất...

Than như máu chảy vọt lên.

Một đời người than

Một ngàn đời than

Sừng sững một góc bể

Những thứ lờ mờ không thể lẫn vào than.

Vậy ở cái khoảng trời bể sừng sững, mênh mang kia có những cái thứ gì lờ mờ nhỉ? Thì hãy một lần thả mắt mà nhìn trong đám mây nước mà xem, quả nhiên, nhiều vệt, nhiều hình và nhiều màu nhằng nhịt lắm. Chừng ấy nó sắm vai đại diện cho tất cả chứ không phải là cái khối màu đen xì, hé ra cái miệng chớp trắng sâu tít trong lòng đất kia! Phải rồi, ở đây, Thái Hưng lại không cho phép những cái thứ đại diện ấy được lẫn với màu riêng có của bạn mình, bởi anh coi hình ảnh đó mới là giá trị đích thực của mọi thành quả.

 

Tập thơ Đi qua mùa thu của nhà thơ Thái Hưng

 

Trước những năm 2000, cái nghèo như con ma ngay ở sau lưng, ta sợ, vùng chạy mà nó cứ khư khư bám riết. Cái nghèo trùm lên những mối tình, đòi gây khó dễ bởi nhiều lý do khác nhau. Có những đêm đông, cha run rẩy đội mưa về bên mẹ, cứ như người đi trộm vặt về. Còn với chị vợ liệt sĩ thì:

…Trái tim thương chín cả trời

Khát khao như lửa mà đời biết đâu

Một mình cằm cặm đêm thâu

Câu thơ như tượng Mị Châu cụt đầu

Bây giờ, người chị mà cả đời cặm cụi, lam lũ, lẩn quất ở góc cái đồng làng chua mặn ấy đã khuất xa mãi, có lẽ chỉ còn có mỗi tác giả nhớ. Cái nhớ cũng chết cứng, bất lực như tượng đá, nơi thỉnh thoảng có gió, cát và chú chim sâu đơn độc:

Mà sao giờ tiếng chim

Vọng về côi cút thế

Vòm cây hoa vẫn nở

Người đi rồi….lắng im.

Còn với cả người mình yêu nữa, rốt cuộc cũng chỉ để lại cho anh một bi kịch suốt chặng đường đời còn lại. Bây giờ là sau năm 2000, với bao nhiêu những hình ảnh, những âm thanh và những gợi cảm đủ đầy quến rũ, nhưng sao tác giả cứ da diết nhớ về cái tình xưa cũ ấy. Phải chăng, ý nghĩ của năm tháng đã qua đã tạo thành lối mòn trong tâm tư, rồi mặc đời, cứ thêu hoa dệt gấm cho mối tình riêng của mình:

Nhưng sao khi mùa thu đi qua

Lối mòn tình yêu trổ chùm nấm dại

Em vần vũ cơn mưa huyền thoại

Giũ rối đời anh - lá khô rơi…

Và lại nữa, những vần thơ viết sau 2000, nghĩa là sau Truyện kể năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn, khi mà người ta có thể bộc bạch về một sự thật từng bị ẩn khuất bằng cái đầu của mình. Thái Hưng có một lối suy nghĩ khác về sự kiện

Nhà văn hóa Nguyễn Trãi (1380 -1442), quân sư của vua Lê Lợi, với vụ oan khuất Lệ Chi Viên - vụ án đã dẫn đến cả ba đời gia tộc Nguyễn Trãi bị triều đình hành quyết, mãi 22 năm sau mới được minh oan. Điều mà Nguyễn Thái Hưng nhìn đến là ở chỗ hình như người đời đã thật sự cảm thấy thỏa đáng?! Âu cũng là lẽ thường tình. Nhưng chính sự hiện diện của hình ảnh Nguyễn Trãi ở Côn Sơn thì có phải lại thêm một “oan khuất” nữa?! Rằng, Người ngồi đó, hưởng lộc trời, còn mọi người trong dòng họ của Người thì đâu rôi?. Rằng, đã vô tình có một sự tương phản ở đây!

Hai mươi hai năm máu đỏ lại rồi

Nhân dân tôn thờ, nhân dân kính vọng

Một mình ông một ngôi đền,

còn gia tộc thì đâu?!

Nước suối chảy hoài mềm lại thương đau

Mây trắng, trời xanh, gió về vi vút

Lỗi lầm xưa đất nước này đã chuộc

Sao ông vẫn ưu tư…

không siêu thoát chốn tiên bồng?

(bài: Viếng đền Côn Sơn)

Vâng, hầu như các bài thơ trong tập của Thái Hưng đều để lại hoặc khơi dậy một vấn đề mà hình như tác giả đã tự va chạm, tự hành, tự đối diện với nó trong một thời gian dài. Từ một tâm trạng nặng trịch được nhào nặn cho nó nhuần nhuyễn tới mức buột ra thành một cấu trúc thơ. Cái hàm ý về sự hiện diện của Nguyễn Trãi như nói trên được diễn tả bằng thơ thì thật phải khéo lựa lắm mới thành thơ được. Về ý nghĩa tư tưởng của bài, tác giả cũng dừng lại ở mức độ ấy là hợp lẽ, còn lại gì nữa thì thuộc về bạn đọc chúng ta.

Dẫu là Thơ của một Luật sư rồi một Kiểm sát viên thì không chỉ viết chơi. Song để cho suy tư đau đáu, ngồn ngộn trăm chiều luôn bị đánh thức kia được dịu vợi đi, tôi mượn mấy câu dạng tự tình của anh để khép lại đôi lời của mình:

MUỘN

Cây đã quên không gọi

Mùa hè vội đi không nói

Để quả chín cuối cành

Một mình ngơ ngẩn mãi.

Là tôi đấy, quả ơi! đừng nghi ngại

Chót muộn cùng, xin hãy rụng về nhau….

Nguyên tiêu, 2025.

B.V.M

Chú thich:

* Nhà thơ Bùi Việt Mỹ – Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội

* Nguyễn Thái Hưng

- Nhà văn Hà Nội

- Luật sư - TW Hội luật gia Việt Nam

- Tác phẩm đã xuất bản:

+ Đi qua mùa thu- NXB Hội Nhà văn -2024

+ Lá thay mùa- NXB Hội Nhà văn -2025

+ Bằng lăng tím lối Mễ Trì -NXB Hội Nhà văn-2024 (In chung nhiều tác giả).

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm