TIN TỨC

Chân dung tâm hồn của nhà thơ Nguyên Bình qua “Mật ngữ trắng đen”

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-12-17 08:32:43
mail facebook google pos stwis
1395 lượt xem

Trần Hà Yên

“Mật ngữ trắng đen” (NXB Thuận Hóa, 2025) của nhà thơ Nguyên Bình, hội viên Hội Nhà văn TP.HCM, là một thế giới thi ca đầy suy tưởng, nơi ánh sáng và bóng tối, mộng mị và hiện thực, nỗi đau và niềm yêu thương luôn song hành, soi chiếu vào nhau. Tựa như cái tên Mật ngữ trắng đen, thơ Nguyên Bình gợi cảm giác về sự đối lập, nhưng không phải để phân định ranh giới thiện ác, buồn vui, mà để khai mở một cõi cảm xúc và nhận thức đa chiều về tình yêu, cuộc sống, con người. Ở mỗi bài thơ, tập thơ của anh đều ẩn chứa một lớp nghĩa nhân sinh sâu sắc.

Nếu đọc chậm và nghĩ suy, người đọc sẽ thấy đằng sau mỗi bài thơ là một tâm hồn vừa nhạy cảm, vừa kiên định, một thi sĩ luôn tìm kiếm bản thể của mình giữa muôn nẻo nhân sinh. Những bài thơ như “Mở cửa đi em”, “Sân khấu”, “Buông gió”, “Thằng Bờm” và “Lạc vào mùa đông”…là những mảnh gương soi rọi diện mạo tâm hồn ấy: Vừa trữ tình, vừa triết lý, vừa mong manh mà kiêu hãnh.

Bài thơ “Mở cửa đi em” (Trang 54), như một khúc gọi của ánh sáng và tự do. Bằng một giọng nói dịu dàng, thủ thỉ nhưng chất chứa trong đó là một triết lý sống sâu sắc, nhà thơ viết:

“Nếu hôm nay phiền muộn/ em hãy chạy ra cánh đồng/ lang thang bên những mảng xanh vừa nhú/ hát tình ca cùng gió/ gối đầu lên cỏ vu vơ.”

Nhịp thơ ở đây nhẹ, tự nhiên như hơi thở, nhưng chính sự giản dị ấy lại chứa đựng năng lượng chữa lành. Nhà thơ không khuyên “em” trốn chạy nỗi buồn, mà mời “em” trở về với thiên nhiên, với tự do, nơi có “gió hát tình ca”, nơi “mảng xanh vừa nhú” tượng trưng cho sức sống và niềm hy vọng. Ở đây, “em” không chỉ là một người cụ thể, mà có thể là phần trong sáng, mảnh hồn non nớt trong mỗi con người đã và đang bị cuộc đời xô dạt.

Đoạn thơ sau đó đã mở ra tầng sâu của khát vọng sáng tạo: “Và lần giở những trang thơ/ nơi hẹn hò tuyệt bích/ nơi những cánh buồm xa khơi về đích.”

Thơ được ví như gió: Vô hình - tự do - không biên giới. Những “trang thơ” lăn cùng gió không chỉ là sự giải thoát của ngôn ngữ mà còn là cách thi nhân tìm lại chính mình. Câu kết “Em bắt đầu ngày mới / là mở rộng trái tim yêu thương” như một lời thức tỉnh: Chỉ khi mở lòng ra với đời, con người mới chạm tới niềm hạnh phúc. Nhà thơ đã kết hợp tài tình giữa cảm xúc và chiêm nghiệm, khiến bài thơ không chỉ là lời nhắn gửi dịu dàng mà còn là một triết lý nhân sinh ẩn trong giọng thơ lãng mạn.

Nếu “Mở cửa đi em” là bài thơ của ánh sáng và tự do, thì bài “Sân khấu” (Trang 66) lại như một vở kịch của nhân sinh và định mệnh. Nhà thơ mở đầu bài thơ bằng hình ảnh huyền nhiệm:

“Chủ tế rắc rượu vào tro/ ngọn lửa xanh thoi thóp/ linh hồn lượm lặt ngũ cốc rơi vãi/ các vị thần trầm mặc phán truyền.”

Chỉ trong vài câu, Nguyên Bình đã dựng lên một không gian nghi lễ, nơi con người và thần linh cùng chứng kiến cuộc tái sinh của linh hồn. Hình ảnh “ngọn lửa xanh thoi thóp” là ẩn dụ tuyệt đẹp cho sự sống mong manh của kiếp người; còn“rượu vào tro” là biểu tượng cho sự hòa trộn giữa thiêng liêng và phàm tục. Ở đây, thơ không chỉ là lời, mà còn là nghi lễ, và mỗi câu thơ như một nén hương dâng lên số phận.

“Ta rót mật vào thơ/ trăng non quay mặt/ không ai nếm thứ ngôn từ mê hoặc/ mùa thu ra đi.”

“Rót mật vào thơ”: Một hình ảnh đắt giá, vừa ngọt ngào vừa cay đắng. Người làm thơ dốc cả tinh túy tâm hồn mình, nhưng “trăng non quay mặt”: Thế gian vẫn lạnh lùng, thờ ơ. Giữa hành trình ấy, thi sĩ cô đơn như người hành lễ trong đêm. Nhà thơ tự nhận lấy nỗi đau ấy, khắc nó vào “da thịt”, để rồi chiêm nghiệm:

“Bài luân vũ trần gian/ màn chưa kéo lên/ màn vừa hạ xuống/ ta xem gì với chiếc lá khô.”

Kết thúc bài thơ là một câu thơ mang tính triết lí: “ta xem gì với chiếc lá khô”. Câu thơ như một câu hỏi không chờ và không cần lời đáp. Câu thơ tưởng như đơn giản nhưng lại chạm vào tận cùng cảm giác trống rỗng của kiếp người. Sau bao nhiêu huyên náo, phù hoa, con người còn lại gì? Nguyên Bình đã biến “Sân khấu” thành một ẩn dụ cho toàn bộ kiếp nhân sinh: Nơi mọi vai diễn đều ngắn ngủi, và điều tồn tại lâu nhất chính là ý thức về sự hữu hạn của con người.

Nếu “Sân khấu” là vở kịch của thế giới bên ngoài, thì “Buông gió” (Trang 121) lại là vở độc thoại bên trong tâm hồn nhà thơ. Ta có thể xem đây là màn độc thoại của cô đơn và nỗi nhớ. Mở đầu bài thơ, nhà thơ khẽ hỏi: “Ai đem mùa mưa đến/ trời chở nắng đi đâu/ áo trắng phai tơ tóc/ tà khép dài đêm thâu.”

Chỉ với bốn câu thôi, thi sĩ đã dựng lên một không gian vừa mơ hồ vừa cụ thể. “Áo trắng”, “tơ tóc”, “tà khép” là những chi tiết nhỏ nhưng lại chất chứa nỗi hoài niệm lớn. Cái “Buông gió” ấy là nơi trú ngụ của ký ức, của tình yêu đã qua, của giấc mơ đã mất.

“Cây thở sương đêm lạnh/ lay động một đóa quỳnh/ ta níu trăng hiu quạnh/sưởi ấm trái tim mình.”

Nguyên Bình nhân hóa cảnh vật một cách tự nhiên: “cây thở”, “đóa quỳnh lay động”… Tất cả đều thấm đẫm linh hồn con người. Đặc biệt, câu thơ “ta níu trăng hiu quạnh / sưởi ấm trái tim mình” có những hình ảnh đắt giá. Trăng vốn là ánh sáng lạnh, vô tri, nhưng trong bàn tay thi sĩ, nó trở thành nguồn sưởi ấm tinh thần. Đó chính là sức mạnh của thơ, biến cái cô đơn thành một vẻ đẹp, biến cái mất mát thành một sự hồi sinh.

“Hạt mưa gieo bất trắc/ phơi tình cũ chưa khô.” là hai câu thơ ngắn nhưng sâu như một vết cứa, vừa hiện thực, vừa tượng trưng.“Hạt mưa” là biến cố, là thời gian.“tình cũ chưa khô” là ký ức vẫn còn mới, là kỉ niệm tình yêu vẫn chưa thể nào quên. Có thể nói, “Buông gió” là khúc độc tấu của những hoài niệm. Nỗi buồn ở đây không ồn ào mà thấm dần, khiến người đọc phải lặng im sau mỗi câu chữ.

Nguyên Bình không ngại tự ví mình với hình tượng dân gian: Thằng Bờm. Bài thơ “Thằng Bờm” (Trang 83) được xem là bức tranh tự họa của thi sĩ và thể hiện triết lý về thơ. Nhưng khác với sự ngây ngô trong truyện cổ tích, “Thằng Bờm” của anh là biểu tượng của một người thơ hồn nhiên mà sâu sắc, nhiệt tình và chân thật với cuộc đời.

“Nếu thơ là một dòng sông/ thì tôi xin được đục trong với người.”

Câu thơ như một lời nguyện ước giản dị mà xúc động. “Đục trong” là hai từ đối lập, gợi triết lý về bản chất của thơ. Dòng chảy của sông luôn chở những bụi bặm, rác rều của cuộc đời, và thơ cũng vậy. Bản chất của văn chương nói chung, thơ nói riêng là mang đến cái đẹp cho cuộc sống và con người. Nhưng nếu tác phẩm văn chương chỉ tô vẽ cuộc sống bằng những nét vẽ và những gam màu đẹp đẽ thì đó chưa phải là nghệ thuật chân chính. Tác phẩm văn chương thực sự có giá trị khi nó phản ánh không chỉ cái hay, cái đẹp mà còn phản ánh cả những cái chưa tốt, những mặt trái của cuộc sống và con người, làm cho người đọc nhận thức được vấn đề, thức tỉnh bản thân và làm cho người gần người hơn. Đây chính là cái “đục trong” của thơ mà tác giả đã so sánh ví von. Và chính điều ấy mới làm nên sự chân thật của thơ ca nói riêng và làm nên sức sống của tác phẩm văn chương nói chung trong thời gian.

“Nếu thơ là một chặng đời/ thì tôi xin được khóc cười thế gian.”

Câu thơ như lời tự thú của một kẻ suốt đời yêu thơ bằng cả phần nhân sinh của mình. Thơ, với Nguyên Bình, không phải là nơi để trốn tránh thực tại, mà là chốn để sống trọn vẹn cùng thực tại, để “khóc cười” giữa những điều bình thường nhất.

“Nếu thơ là để đọa đày/ xin em dứt áo tôi ngày... biệt ly.”

Đây là một tuyên ngôn đẹp đẽ và dứt khoát. Với nhà thơ, thơ không phải là thứ ngôn từ phô trương, cũng không phải vỏ bọc của sự kiêu ngạo. Thơ là sự thành thật, là tình yêu, là sự dấn thân. “Thằng Bờm” chính là chân dung của Nguyên Bình, một thi sĩ chọn lối đi chân trần trên đất, giữa bao phồn tạp của đời sống mà vẫn giữ được cái hồn nhiên, trong trẻo của người làm thơ đích thực.

Trong Mật ngữ trắng đen, có thể xem bài thơ “Lạc vào mùa đông” (Trang 95), là một trong những bài thơ tiêu biểu cho giọng điệu thơ của Nguyên Bình: Sâu lắng, nhiều tầng hình ảnh và mang hơi thở của những suy tưởng.

“Mùa đông/ chiều dài thời gian đo bằng ánh lửa/ củi cháy thành tro/ đêm bập bùng nỗi nhớ/ nhúm than hồng tàn lụi/ khuya nay.”

Cách đo thời gian bằng ánh lửa thật độc đáo. Thời gian không được đếm bằng đồng hồ, mà bằng sự hao mòn của cảm xúc, bằng ngọn lửa ký ức đang tàn dần. Hình ảnh “nhúm than hồng tàn lụi” gợi cảm giác vừa ấm vừa buốt, như tình yêu đã từng cháy bỏng, giờ chỉ còn lại kí ức mong manh tự đáy lòng.

“Khối vuông rubic/ xoay mãi chẳng cùng màu/ tôi vụng về/ khâu vá vết thương, sâu.”: Một so sánh hiện đại và đầy tính tượng trưng: Tình yêu được ví như khối rubic, và “tôi”, chủ thể trữ tình, nhà thơ, xoay mãi không tìm thấy trật tự nào cả và không có cách phá bỏ bí mật của nó. Cái “vụng về” của con người trong tình cảm là điều thật nhất, nhân bản nhất. Ở đây, nhà thơ không che giấu sự tổn thương, mà chấp nhận nó như một phần tất yếu của đời sống cảm xúc.

Và bài thơ kết lại bằng hình ảnh ám ảnh và đầy màu sắc: “Thiên sứ lạc mất nhau/ đôi giày đỏ, đồi xanh, cụm hoa thạch thảo.” Đây là cái đẹp của sự chia ly, của những điều dang dở. “Đôi giày đỏ, đồi xanh” là hai sắc màu đối nghịch. Giờ đây đã trở thành biểu tượng cho hai nửa đời không còn gặp lại nhau. Thạch thảo: Loài hoa nở cuối mùa, là dấu chỉ của ký ức, của những gì mong manh mà “tôi” đã gặp trên đường đời.

Có thể nói, qua một số bài thơ trong “Mật ngữ trắng đen”, người đọc cảm nhận rõ bức chân dung tâm hồn của nhà thơ Nguyên Bình, người đi tìm ánh sáng trong bóng tối. Anh là thi sĩ của suy tưởng và lòng nhân ái, thi sĩ của những nỗi cô đơn biết tỏa sáng. Với Nguyên Bình, làm thơ không phải để trốn chạy hiện thực, mà để sống sâu hơn trong nó. Nỗi đau trong thơ anh không bao giờ tuyệt vọng mà luôn ẩn chứa một ngọn lửa lặng lẽ của niềm tin.

Đọc thơ Nguyên Bình, ta nhận thấy một phong cách thơ tự do, hiện đại nhưng vẫn đằm thắm tinh thần truyền thống. Thơ anh có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa những hình ảnh gần gũi và ý tưởng triết học, giữa nhạc tính dân gian và nhịp thở của đời sống đô thị, có sự dung hòa giữa cảm xúc và trí tuệ, giữa đời thường và những trải nghiệm, giữa “trắng” và “đen”, vốn là hai cực biểu tượng cho ánh sáng và bóng tối trong con người.

Ở tầng sâu nhất, “Mật ngữ trắng đen” là hành trình đi tìm ánh sáng trong bóng tối của chính mình. Chỉ khi đối diện với những mảng “đen” của đời sống, ta mới hiểu giá trị của “trắng”, của niềm tin và của lòng nhân hậu. Qua một số bài thơ tiêu biểu nói trên, chân dung tâm hồn của tác giả hiện lên như một người lữ khách của tâm hồn: Lặng lẽ, từng trải, thủy chung với thơ và với chính mình. Anh không tuyên ngôn cho những điều lớn lao, vĩ đại mà bằng từng nhịp thở của ngôn từ, mỗi bài thơ của anh là một “mật ngữ” để con người đối thoại với chính mình một cách nhẹ nhàng, sâu lắng giữa thế giới còn những bộn bề hôm nay.

T.H.Y

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm