TIN TỨC

Chân dung tâm hồn của nhà thơ Nguyên Bình qua “Mật ngữ trắng đen”

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-12-17 08:32:43
mail facebook google pos stwis
971 lượt xem

Trần Hà Yên

“Mật ngữ trắng đen” (NXB Thuận Hóa, 2025) của nhà thơ Nguyên Bình, hội viên Hội Nhà văn TP.HCM, là một thế giới thi ca đầy suy tưởng, nơi ánh sáng và bóng tối, mộng mị và hiện thực, nỗi đau và niềm yêu thương luôn song hành, soi chiếu vào nhau. Tựa như cái tên Mật ngữ trắng đen, thơ Nguyên Bình gợi cảm giác về sự đối lập, nhưng không phải để phân định ranh giới thiện ác, buồn vui, mà để khai mở một cõi cảm xúc và nhận thức đa chiều về tình yêu, cuộc sống, con người. Ở mỗi bài thơ, tập thơ của anh đều ẩn chứa một lớp nghĩa nhân sinh sâu sắc.

Nếu đọc chậm và nghĩ suy, người đọc sẽ thấy đằng sau mỗi bài thơ là một tâm hồn vừa nhạy cảm, vừa kiên định, một thi sĩ luôn tìm kiếm bản thể của mình giữa muôn nẻo nhân sinh. Những bài thơ như “Mở cửa đi em”, “Sân khấu”, “Buông gió”, “Thằng Bờm” và “Lạc vào mùa đông”…là những mảnh gương soi rọi diện mạo tâm hồn ấy: Vừa trữ tình, vừa triết lý, vừa mong manh mà kiêu hãnh.

Bài thơ “Mở cửa đi em” (Trang 54), như một khúc gọi của ánh sáng và tự do. Bằng một giọng nói dịu dàng, thủ thỉ nhưng chất chứa trong đó là một triết lý sống sâu sắc, nhà thơ viết:

“Nếu hôm nay phiền muộn/ em hãy chạy ra cánh đồng/ lang thang bên những mảng xanh vừa nhú/ hát tình ca cùng gió/ gối đầu lên cỏ vu vơ.”

Nhịp thơ ở đây nhẹ, tự nhiên như hơi thở, nhưng chính sự giản dị ấy lại chứa đựng năng lượng chữa lành. Nhà thơ không khuyên “em” trốn chạy nỗi buồn, mà mời “em” trở về với thiên nhiên, với tự do, nơi có “gió hát tình ca”, nơi “mảng xanh vừa nhú” tượng trưng cho sức sống và niềm hy vọng. Ở đây, “em” không chỉ là một người cụ thể, mà có thể là phần trong sáng, mảnh hồn non nớt trong mỗi con người đã và đang bị cuộc đời xô dạt.

Đoạn thơ sau đó đã mở ra tầng sâu của khát vọng sáng tạo: “Và lần giở những trang thơ/ nơi hẹn hò tuyệt bích/ nơi những cánh buồm xa khơi về đích.”

Thơ được ví như gió: Vô hình - tự do - không biên giới. Những “trang thơ” lăn cùng gió không chỉ là sự giải thoát của ngôn ngữ mà còn là cách thi nhân tìm lại chính mình. Câu kết “Em bắt đầu ngày mới / là mở rộng trái tim yêu thương” như một lời thức tỉnh: Chỉ khi mở lòng ra với đời, con người mới chạm tới niềm hạnh phúc. Nhà thơ đã kết hợp tài tình giữa cảm xúc và chiêm nghiệm, khiến bài thơ không chỉ là lời nhắn gửi dịu dàng mà còn là một triết lý nhân sinh ẩn trong giọng thơ lãng mạn.

Nếu “Mở cửa đi em” là bài thơ của ánh sáng và tự do, thì bài “Sân khấu” (Trang 66) lại như một vở kịch của nhân sinh và định mệnh. Nhà thơ mở đầu bài thơ bằng hình ảnh huyền nhiệm:

“Chủ tế rắc rượu vào tro/ ngọn lửa xanh thoi thóp/ linh hồn lượm lặt ngũ cốc rơi vãi/ các vị thần trầm mặc phán truyền.”

Chỉ trong vài câu, Nguyên Bình đã dựng lên một không gian nghi lễ, nơi con người và thần linh cùng chứng kiến cuộc tái sinh của linh hồn. Hình ảnh “ngọn lửa xanh thoi thóp” là ẩn dụ tuyệt đẹp cho sự sống mong manh của kiếp người; còn“rượu vào tro” là biểu tượng cho sự hòa trộn giữa thiêng liêng và phàm tục. Ở đây, thơ không chỉ là lời, mà còn là nghi lễ, và mỗi câu thơ như một nén hương dâng lên số phận.

“Ta rót mật vào thơ/ trăng non quay mặt/ không ai nếm thứ ngôn từ mê hoặc/ mùa thu ra đi.”

“Rót mật vào thơ”: Một hình ảnh đắt giá, vừa ngọt ngào vừa cay đắng. Người làm thơ dốc cả tinh túy tâm hồn mình, nhưng “trăng non quay mặt”: Thế gian vẫn lạnh lùng, thờ ơ. Giữa hành trình ấy, thi sĩ cô đơn như người hành lễ trong đêm. Nhà thơ tự nhận lấy nỗi đau ấy, khắc nó vào “da thịt”, để rồi chiêm nghiệm:

“Bài luân vũ trần gian/ màn chưa kéo lên/ màn vừa hạ xuống/ ta xem gì với chiếc lá khô.”

Kết thúc bài thơ là một câu thơ mang tính triết lí: “ta xem gì với chiếc lá khô”. Câu thơ như một câu hỏi không chờ và không cần lời đáp. Câu thơ tưởng như đơn giản nhưng lại chạm vào tận cùng cảm giác trống rỗng của kiếp người. Sau bao nhiêu huyên náo, phù hoa, con người còn lại gì? Nguyên Bình đã biến “Sân khấu” thành một ẩn dụ cho toàn bộ kiếp nhân sinh: Nơi mọi vai diễn đều ngắn ngủi, và điều tồn tại lâu nhất chính là ý thức về sự hữu hạn của con người.

Nếu “Sân khấu” là vở kịch của thế giới bên ngoài, thì “Buông gió” (Trang 121) lại là vở độc thoại bên trong tâm hồn nhà thơ. Ta có thể xem đây là màn độc thoại của cô đơn và nỗi nhớ. Mở đầu bài thơ, nhà thơ khẽ hỏi: “Ai đem mùa mưa đến/ trời chở nắng đi đâu/ áo trắng phai tơ tóc/ tà khép dài đêm thâu.”

Chỉ với bốn câu thôi, thi sĩ đã dựng lên một không gian vừa mơ hồ vừa cụ thể. “Áo trắng”, “tơ tóc”, “tà khép” là những chi tiết nhỏ nhưng lại chất chứa nỗi hoài niệm lớn. Cái “Buông gió” ấy là nơi trú ngụ của ký ức, của tình yêu đã qua, của giấc mơ đã mất.

“Cây thở sương đêm lạnh/ lay động một đóa quỳnh/ ta níu trăng hiu quạnh/sưởi ấm trái tim mình.”

Nguyên Bình nhân hóa cảnh vật một cách tự nhiên: “cây thở”, “đóa quỳnh lay động”… Tất cả đều thấm đẫm linh hồn con người. Đặc biệt, câu thơ “ta níu trăng hiu quạnh / sưởi ấm trái tim mình” có những hình ảnh đắt giá. Trăng vốn là ánh sáng lạnh, vô tri, nhưng trong bàn tay thi sĩ, nó trở thành nguồn sưởi ấm tinh thần. Đó chính là sức mạnh của thơ, biến cái cô đơn thành một vẻ đẹp, biến cái mất mát thành một sự hồi sinh.

“Hạt mưa gieo bất trắc/ phơi tình cũ chưa khô.” là hai câu thơ ngắn nhưng sâu như một vết cứa, vừa hiện thực, vừa tượng trưng.“Hạt mưa” là biến cố, là thời gian.“tình cũ chưa khô” là ký ức vẫn còn mới, là kỉ niệm tình yêu vẫn chưa thể nào quên. Có thể nói, “Buông gió” là khúc độc tấu của những hoài niệm. Nỗi buồn ở đây không ồn ào mà thấm dần, khiến người đọc phải lặng im sau mỗi câu chữ.

Nguyên Bình không ngại tự ví mình với hình tượng dân gian: Thằng Bờm. Bài thơ “Thằng Bờm” (Trang 83) được xem là bức tranh tự họa của thi sĩ và thể hiện triết lý về thơ. Nhưng khác với sự ngây ngô trong truyện cổ tích, “Thằng Bờm” của anh là biểu tượng của một người thơ hồn nhiên mà sâu sắc, nhiệt tình và chân thật với cuộc đời.

“Nếu thơ là một dòng sông/ thì tôi xin được đục trong với người.”

Câu thơ như một lời nguyện ước giản dị mà xúc động. “Đục trong” là hai từ đối lập, gợi triết lý về bản chất của thơ. Dòng chảy của sông luôn chở những bụi bặm, rác rều của cuộc đời, và thơ cũng vậy. Bản chất của văn chương nói chung, thơ nói riêng là mang đến cái đẹp cho cuộc sống và con người. Nhưng nếu tác phẩm văn chương chỉ tô vẽ cuộc sống bằng những nét vẽ và những gam màu đẹp đẽ thì đó chưa phải là nghệ thuật chân chính. Tác phẩm văn chương thực sự có giá trị khi nó phản ánh không chỉ cái hay, cái đẹp mà còn phản ánh cả những cái chưa tốt, những mặt trái của cuộc sống và con người, làm cho người đọc nhận thức được vấn đề, thức tỉnh bản thân và làm cho người gần người hơn. Đây chính là cái “đục trong” của thơ mà tác giả đã so sánh ví von. Và chính điều ấy mới làm nên sự chân thật của thơ ca nói riêng và làm nên sức sống của tác phẩm văn chương nói chung trong thời gian.

“Nếu thơ là một chặng đời/ thì tôi xin được khóc cười thế gian.”

Câu thơ như lời tự thú của một kẻ suốt đời yêu thơ bằng cả phần nhân sinh của mình. Thơ, với Nguyên Bình, không phải là nơi để trốn tránh thực tại, mà là chốn để sống trọn vẹn cùng thực tại, để “khóc cười” giữa những điều bình thường nhất.

“Nếu thơ là để đọa đày/ xin em dứt áo tôi ngày... biệt ly.”

Đây là một tuyên ngôn đẹp đẽ và dứt khoát. Với nhà thơ, thơ không phải là thứ ngôn từ phô trương, cũng không phải vỏ bọc của sự kiêu ngạo. Thơ là sự thành thật, là tình yêu, là sự dấn thân. “Thằng Bờm” chính là chân dung của Nguyên Bình, một thi sĩ chọn lối đi chân trần trên đất, giữa bao phồn tạp của đời sống mà vẫn giữ được cái hồn nhiên, trong trẻo của người làm thơ đích thực.

Trong Mật ngữ trắng đen, có thể xem bài thơ “Lạc vào mùa đông” (Trang 95), là một trong những bài thơ tiêu biểu cho giọng điệu thơ của Nguyên Bình: Sâu lắng, nhiều tầng hình ảnh và mang hơi thở của những suy tưởng.

“Mùa đông/ chiều dài thời gian đo bằng ánh lửa/ củi cháy thành tro/ đêm bập bùng nỗi nhớ/ nhúm than hồng tàn lụi/ khuya nay.”

Cách đo thời gian bằng ánh lửa thật độc đáo. Thời gian không được đếm bằng đồng hồ, mà bằng sự hao mòn của cảm xúc, bằng ngọn lửa ký ức đang tàn dần. Hình ảnh “nhúm than hồng tàn lụi” gợi cảm giác vừa ấm vừa buốt, như tình yêu đã từng cháy bỏng, giờ chỉ còn lại kí ức mong manh tự đáy lòng.

“Khối vuông rubic/ xoay mãi chẳng cùng màu/ tôi vụng về/ khâu vá vết thương, sâu.”: Một so sánh hiện đại và đầy tính tượng trưng: Tình yêu được ví như khối rubic, và “tôi”, chủ thể trữ tình, nhà thơ, xoay mãi không tìm thấy trật tự nào cả và không có cách phá bỏ bí mật của nó. Cái “vụng về” của con người trong tình cảm là điều thật nhất, nhân bản nhất. Ở đây, nhà thơ không che giấu sự tổn thương, mà chấp nhận nó như một phần tất yếu của đời sống cảm xúc.

Và bài thơ kết lại bằng hình ảnh ám ảnh và đầy màu sắc: “Thiên sứ lạc mất nhau/ đôi giày đỏ, đồi xanh, cụm hoa thạch thảo.” Đây là cái đẹp của sự chia ly, của những điều dang dở. “Đôi giày đỏ, đồi xanh” là hai sắc màu đối nghịch. Giờ đây đã trở thành biểu tượng cho hai nửa đời không còn gặp lại nhau. Thạch thảo: Loài hoa nở cuối mùa, là dấu chỉ của ký ức, của những gì mong manh mà “tôi” đã gặp trên đường đời.

Có thể nói, qua một số bài thơ trong “Mật ngữ trắng đen”, người đọc cảm nhận rõ bức chân dung tâm hồn của nhà thơ Nguyên Bình, người đi tìm ánh sáng trong bóng tối. Anh là thi sĩ của suy tưởng và lòng nhân ái, thi sĩ của những nỗi cô đơn biết tỏa sáng. Với Nguyên Bình, làm thơ không phải để trốn chạy hiện thực, mà để sống sâu hơn trong nó. Nỗi đau trong thơ anh không bao giờ tuyệt vọng mà luôn ẩn chứa một ngọn lửa lặng lẽ của niềm tin.

Đọc thơ Nguyên Bình, ta nhận thấy một phong cách thơ tự do, hiện đại nhưng vẫn đằm thắm tinh thần truyền thống. Thơ anh có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa những hình ảnh gần gũi và ý tưởng triết học, giữa nhạc tính dân gian và nhịp thở của đời sống đô thị, có sự dung hòa giữa cảm xúc và trí tuệ, giữa đời thường và những trải nghiệm, giữa “trắng” và “đen”, vốn là hai cực biểu tượng cho ánh sáng và bóng tối trong con người.

Ở tầng sâu nhất, “Mật ngữ trắng đen” là hành trình đi tìm ánh sáng trong bóng tối của chính mình. Chỉ khi đối diện với những mảng “đen” của đời sống, ta mới hiểu giá trị của “trắng”, của niềm tin và của lòng nhân hậu. Qua một số bài thơ tiêu biểu nói trên, chân dung tâm hồn của tác giả hiện lên như một người lữ khách của tâm hồn: Lặng lẽ, từng trải, thủy chung với thơ và với chính mình. Anh không tuyên ngôn cho những điều lớn lao, vĩ đại mà bằng từng nhịp thở của ngôn từ, mỗi bài thơ của anh là một “mật ngữ” để con người đối thoại với chính mình một cách nhẹ nhàng, sâu lắng giữa thế giới còn những bộn bề hôm nay.

T.H.Y

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm
Triết lý nhân sinh trong tập thơ “Nghe mùa thay lá” của Hoàng Thân
Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa ra mắt tập thơ “Nghe mùa thay lá” của nhà thơ, bác sĩ Hoàng Thân (Trịnh Quang Thân), Hội viên Hội VHNT Quảng Ngãi, Bác sĩ CK II Nội tim mạch, đúng vào dịp kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/2026). Tập thơ là kết quả của một quá trình chiêm nghiệm về thời gian, ký ức và thân phận con người trong dòng chảy biến thiên của đời sống.
Xem thêm
Những con chữ đối thoại của Trương Văn Dân
Đọc những trang viết của Trương Văn Dân, cảm giác như được nghe cuộc đối thoại bất tận của nhà văn với con người và cuộc đời này. Đối thoại là khát vọng được sẻ chia, được thấu hiểu; đồng thời, đó còn là khát vọng tự vấn, tự nhìn lại chính mình của người viết. Từ đối thoại, những ngổn ngang của đời sống, những day dứt của lòng người được mở ra… hun hút cảm xúc nhưng có khi khô khốc “như viên sỏi rơi vào lòng giếng cạn”. Chúng ta đang ở đâu? Chúng ta đã làm gì chính mình? Chúng ta sẽ trở nên thế nào? Chúng ta để lại gì cho mai sau?... Những trăn trở đó uốn vặn trong từng con chữ với vô số câu hỏi khó bề giải đáp. Đó chính là tâm tình, tâm tưởng của Trương Văn Dân gửi gắm với đời.
Xem thêm