TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Nỗi buồn chiến tranh - và cách nhìn về việc đổi mới dạy học văn trong nhà trường

Nỗi buồn chiến tranh - và cách nhìn về việc đổi mới dạy học văn trong nhà trường

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-12-18 20:25:28
mail facebook google pos stwis
1771 lượt xem

TRẦN NGỌC TUẤN

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Vừa qua, tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của nhà văn Bảo Ninh được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch vinh danh là một trong 50 tác phẩm tiêu biểu của văn học Việt Nam 50 năm qua đã tạo nên nhiều tranh luận trái chiều. Nhiều ý kiến cũng đã đặt ra vấn đề là có nên đưa tác phẩm này vào sách giáo khoa Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 hay không. Là những người đã từng học văn qua nhiều lần thay sách và là những người đã dạy môn văn nhiều năm trong nhà trường phổ thông, chúng tôi có một số suy nghĩ trong cách nhìn về việc đổi mới dạy học văn trong nhà trường về Nỗi buồn chiến tranh với tính chất là “những người trong cuộc”.

 

Một số tác phẩm của Bảo Ninh - ảnh Trần Nhân Trung

 

Vì sao nỗi buồn chiến tranh gây tranh cãi?

Tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh  không phải là tác phẩm mới xuất bản. Nó được Bảo Ninh viết năm 1987 (sau thành công của Đại hội Đảng CSVN lần thứ VI, năm 1986, Đại hội được đánh giá là có nhiều đổi mới, dân chủ), xuất bản lần đầu năm 1990 (lúc đầu có tên là Thân phận của tình yêu). Và sau đó được Hội Nhà văn Việt Nam trao giải vào năm 1991. Chính người viết bài này đã đọc nó hơn 30 năm trước đây. Còn nhớ, khi Nỗi buồn chiến tranh mới được trao giải, rất nhiều bài báo đã “công kích” dữ dội. Song có điều, sinh viên chúng tôi và cả những giảng viên đại học ngành ngữ văn đều đánh giá rất cao, thấy có tính tiên phong, đổi mới về cách viết, cách phản ánh chiến tranh... Lúc đó, PGS.TS Phùng Quý Nhâm - giảng viên môn lý luận văn học, Trường ĐHSP TP.HCM - nhận xét tác phẩm hay: “Chung quy lại tác phẩm có 3 điểm nhấn về nỗi buồn: buồn cho thân phận người lính, buồn với người nghệ sĩ cầm bút và buồn về thân phận của tình yêu”.       

Lý do tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh  nhanh chóng dậy sóng dư luận bởi nó đem đến một cách nhìn mới về đề tài chiến tranh. Bảo Ninh đã mô tả chân thực những nỗi đau thương, mất mát của người lính trên chiến trường và cả trong thời kỳ hậu chiến. Với nhân vật chính là Kiên, Bảo Ninh không xây dựng hình tượng con người theo mô típ anh hùng, sử thi như nhiều nhà văn lớp trước đã viết, mà tập trung đào sâu thế giới nội tâm đầy dằn vặt, ẩn ức, đau đớn, kể cả những khía cạnh rất đời thường, rất “con người” của người lính phía sau cuộc chiến. Trả lời báo chí, nhà văn Bảo Ninh từng cho biết: "Nỗi buồn và những ám ảnh chiến tranh sẽ còn mãi mãi trong đời tôi. Tôi chỉ có thể trông chờ nỗi buồn ấy hết ở thế hệ sau mà thôi". “Đấy, cần phải viết về chiến tranh trong niềm thôi thúc ấy, viết sao cho xao xuyến nổi lòng dạ, xúc động nổi trái tim con người như thể viết về tình yêu, về nỗi buồn, sao cho có thể truyền được vào cuộc sống đương thời luồng điện của những cảm xúc chỉ có thể diễn đạt bằng thì quá khứ và qúa khứ của quá khứ...” (Nỗi buồn chiến tranh, NXB trẻ, 2022, tr. 70, 71).

Tính đến năm nay, Nỗi buồn chiến tranh được tái bản lần thứ 26 ở trong nước. Sách cũng được dịch sang khoảng 20 thứ tiếng, phát hành ở hàng chục quốc gia. Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh đã được nhiều giải thưởng trong và ngoài nước.

Một cách phản ánh mới về đề tài chiến tranh, giúp đổi mới việc dạy học văn ở nhà trường phổ thông

Như phần đầu của bài viết này, từng học và dạy văn sau nhiều lần thay sách, thay chương trình, chúng tôi nhận thấy Nỗi buồn chiến tranh đem đến một “luồng gió mới” trong việc đọc và cảm nhận tác phẩm văn học. Hầu hết giáo viên và học sinh đều có cảm nhận tích cực, yêu thích. Đây được xem là tác phẩm nằm trong xu thế đổi mới - lột xác về phương pháp sáng tác của văn nghệ sĩ từ sau năm 1986. Khi mà Chế Lan Viên đã qua cái thời của Ánh sáng và phù sa, Những bài thơ đánh giặc... để âm thầm thổn thức thế sự trong ba tập Di cảo, như bài kiểu viết: Anh là tháp Bayon bốn mặt/ Giấu đi ba còn lại đấy là anh/ Chỉ mặt ấy mà nghìn trò cười khóc/ Làm đau ba mặt kia trong cõi ẩn hình (Tháp Bayon bốn mặt). Khi mà Tố Hữu cũng chuyển mình trăn trở trong sáng tác từ những bài thơ hừng hực “lý tưởng” đã nhìn thấu vào sâu thẳm tâm hồn: “Nửa đêm tỉnh giấc đời pha mộng/ Canh cánh bên lòng một chữ nhân”. Người dạy và học văn từ bấy lâu đã “ngụp lặn” quá sâu trong những văn bản hừng hực không khí chiến đấu, nặng nề trong các tác phẩm mang tính chất giáo huấn, tuyên truyền... Thì chương trình mới đã đem đến những “luồng gió mới” cho việc dạy học văn, với các sáng tác của các cây bút tiên phong như Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Nguyễn Huy Thiệp..., và dĩ nhiên không thể không kể đến Bảo Ninh. Trong sách giáo khoa chương trình 2018, tác phẩm của Bảo Ninh có trong cả ba bộ sách: bộ Kết nối tri thức với cuộc sốngNỗi buồn chiến tranh, Bí ẩn của làn nước; bộ Chân trời sáng tạo có truyện ngắn Giang; và bộ Cánh diều có tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh.

Dạy học Nỗi buồn chiến tranh, không thể không thấy có sự tương đồng (dĩ nhiên là tương đối, về hoàn cảnh ra đời, về cách phản ánh số phận người lính trong và sau chiến tranh...) giữa tác phẩm này với Số phận con người của đại văn hào Xô Viết - Nga Mikhail Sholokhov. Số phận con người đã từng đưa vào sách giáo khoa ngữ văn lớp 12 chương trình 2006. Nếu bảo Nỗi buồn chiến tranh là ủy mị, tiêu cực, thì thiết nghĩ, cần thấy giá trị lớn lao của Số phận con người để xem như là một lời bào chữa cho sự đánh giá chưa xác đáng đó.

Về phương diện bút pháp, PGS Bùi Mạnh Hùng, Tổng Chủ biên sách giáo khoa Ngữ văn, bộ Kết nối tri thức với cuộc sống đã nhận định là khó có thể tìm được tác phẩm nào phù hợp hơn tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh để đáp ứng được yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông 2018 về một số yếu tố của tiểu thuyết (hiện đại hoặc hậu hiện đại) như: ngôn ngữ, diễn biến tâm lý, hành động của nhân vật. Theo chúng tôi đó là nhận xét chí phải. Hơn nữa, tiểu thuyết này còn đổi mới về giọng điệu (trầm buồn, suy tư, giàu chất trữ tình, mang tính nhân văn sâu sắc); về bút pháp, như sử dụng thủ pháp "đồng hiện", "dòng ý thức", kết cấu “phi tuyến tính” rất độc đáo...

Trong thể loại bi kịch có khái niệm “hiệu ứng thanh lọc” tâm hồn, cảm xúc của người xem/đọc kịch. Nếu áp dụng khái niệm này vào Nỗi buồn chiến tranh sẽ thấy tác dụng tích cực rất rõ: Đằng sau những cảm xúc tột cùng đau đớn, những mát mát lớn lao của chiến tranh, những dằn vặt suy tư của người lính..., người ta thấy được giá trị nhân bản con người, thấy được ý nghĩa hạnh phúc và giá trị lớn lao của hòa bình biết bao!

T.N.T

Tháng 12 /2025

Bài viết liên quan

Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm