TIN TỨC

Văn trẻ từ quan sát của một biên tập viên

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-01-13 18:56:23
mail facebook google pos stwis
651 lượt xem

Trong khoảng 15 năm gần đây, do có cơ hội làm việc với nhiều tác giả trẻ, tiếp cận được nhiều bản thảo còn đang phôi thai, tôi có những trải nghiệm tương đối phong phú với văn chương đương thời.

Ba bốn năm trước có tác giả tìm đến tôi, đặt trước tôi một bản thảo hơn 1 triệu chữ, một dung lượng khiến tôi rất kinh ngạc. Tác giả ấy đã bỏ ra nhiều năm ròng rã để xây dựng một câu chuyện lớp lang với nhiều ý tưởng bay bổng. Xuất bản nó là chuyện khó vì phải đầu tư rất lớn, nhưng điều tôi muốn nhấn mạnh ở đây chính là tham vọng sáng tạo của họ.

Trong tư cách là biên tập viên lâu năm của một đơn vị xuất bản khá lớn, mỗi năm nhận được năm bảy trăm bản thảo gửi đến, tôi nhận ra rằng: bất chấp sự xâm lấn của văn hóa nghe nhìn, bất chấp văn chương giờ đây lui về là một món đặc sản hơn là thức ăn tinh thần phổ biến, bất chấp cơ hội để được xuất bản là rất cạnh tranh, thì nhu cầu sáng tạo, niềm vui thích kể chuyện vẫn luôn ở đây. Người viết mà tôi được tiếp cận đa số là trẻ. Khát khao trở thành một nhà văn là thứ nhiều người ấp ôm.

Nhiều người ấp ôm thành tác giả

Nếu lướt qua thế giới mạng, hóa ra những tác giả viết cả triệu chữ cũng không quá hiếm. Nhiều chữ không khẳng định là hay, nhưng cho thấy tham vọng, và sức lao động điên cuồng.

Từ những bản thảo được tiếp cận, tôi nhận thấy các xu hướng sáng tác đa dạng, phong phú, từ thơ ca, tới tự sự phi hư cấu (hồi ký, tự truyện), và các thể loại tiểu thuyết..., từ các dòng sáng tác đã ổn định, đến những tìm tòi và xu hướng mới. Chẳng hạn, rất nhiều bản thảo thơ được gửi đến cho thấy chúng ta vẫn là “cường quốc về thơ”. Tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết thế sự vẫn được nhiều người lựa chọn. Nhưng có thể thấy những năm qua, dòng sách hồi ký, tự truyện, chia sẻ các câu chuyên cá nhân bung nở, khi người ta nhận thức rằng ai cũng có thể có không gian để kể, và ai cũng có câu chuyện riêng để kể. Thể loại truyện giả tưởng cũng có nhiều người theo đuổi, một quãng thời gian tôi nhận được rất nhiều. Các tác giả vẽ ra những hành tinh khác, thế giới khác, vũ trụ khác, với những thế lực tranh đoạt vị trí, với những người được chọn để giải cứu thế giới... Tuy vậy dòng văn học giả tưởng ở trong nước đến nay vẫn chưa có một vị trí rõ ràng.

 

Nhà văn Nguyễn Hoàng Diệu Thủy

 

Truyện kinh dị có các yếu tố lịch sử văn hóa bản địa, khởi đầu từ Phan Cuồng, đã dần trở thành một trào lưu mạnh ở Việt Nam. Đây là món lạ khác biệt trong những năm qua, thu hút độc giả, nên có nhiều tác giả trẻ hào hứng thử sức và đạt được thành tựu. Họ đã khai thác đa dạng các bối cảnh từ thành thị, nông thôn, lịch sử, đời sống hiện đại để cài cắm câu chuyện, khiến không khí mảng truyện này rất sôi nổi, từ đó lan sang phim ảnh và thậm chí cả MV âm nhạc.

Văn học thiếu nhi cũng phát triển từ đòi hỏi của xã hội. Những năm qua việc phát triển thói quen đọc sách cho trẻ em được xã hội và gia đình chú ý. Trẻ em là tương lai, và trong điều kiện kinh tế đã tương đối dư giả, người dân không ngần ngại đầu tư cho tương lai. Các công ty xuất bản đều lao vào mảnh đất màu mỡ này. Nhận ra xu hướng, số lượng các tác giả viết cho thiếu nhi tăng lên rất nhiều. Trước đây chúng ta thường chỉ biết tới giải Văn học thiếu nhi do Hội Nhà văn Việt Nam xét, thì hiện nay đã có nhiều giải như Dế Mèn, giải thưởng của Nhà xuất bản Kim Đồng, giải Văn học thiếu nhi TP Hồ Chí Minh, giải thưởng Đóa hoa đồng thoại…

Nhưng như thế đã đủ chưa?

Chân trời nào cho những người bay

Như ở trên đã trình bày, có rất nhiều người viết trẻ đang ấp ôm trở thành văn. Có rất nhiều người bay ở đây và họ cần có chân trời. Nhưng phải nói là, môi trường và điều kiện để “bay” của chúng ta còn khá khiêm tốn.

Nhìn vào thị trường xuất bản, nơi công bố tác phẩm văn chương và mang lại nguồn thu cho người sáng tạo, ta sẽ thấy sự mất cân đối. Tổng doanh thu toàn ngành xuất bản đạt hơn 4.500 tỷ đồng, trong đó hơn một nửa đã là sách giáo khoa, giáo trình… Số còn lại là sách phi hư cấu, truyện tranh… Văn chương chỉ là một địa hạt rất nhỏ trong đó. Sách Nobel đa phần là sách ế hoặc tiêu thụ chậm. Sách của các tác giả đương đại Việt Nam, nhất là tác giả trẻ, hầu như chỉ in được 1.000-2.000 bản, ít khi được tái bản. Tôi rất ám ảnh với con số này và thực lòng mong muốn làm sao có thể nâng giới hạn con số này lên.

Các giải thưởng văn chương, vốn là nơi “kích cầu” cho người viết, thì nay ít nhiều tiêu biến. Không gian công bố tác phẩm trên báo và tạp chí giấy ít đi, trên các trang mạng chính thống, đất dành cho văn chương cũng bị sa sút.

Văn hóa nghe nhìn lấn át, năng lực tập trung để đọc sách của con người hiện đại ngày càng kém đi. Mỗi năm ta in nhiều đầu sách hơn, nhưng tỷ lệ số người đọc không tăng tương ứng.

Trong bối cảnh đó, làm sao để các sáng tác được đọc, làm sao để tác phẩm tới tay độc giả, luôn là một câu hỏi đau đầu.

Người viết chắc chắn phải tự thân vận động trước. Dĩ nhiên sáng tạo không ngừng nghỉ, duy trì nội lực tự thân là quan trọng nhất. Đối với những bản thảo tôi có trải nghiệm trong nhiều năm qua, nhiều người viết bị một vấn đề là thiếu đầu tư về tư liệu, tư liệu từ đời sống, tư liệu từ sách vở... thành ra bản thảo thiếu sức sống, không đi được đường dài.

Chỉ ngồi viết và không làm gì khác, đấy cũng là một lựa chọn. Nhưng làm mọi cách để tác phẩm của mình được hiện diện (mà không vi phạm pháp luật hay đạo đức) thì cũng không có gì sai mà rất đáng cổ vũ. Ví dụ, tìm cách xuất bản, crowd-funding, tìm cách kể câu chuyện của mình ở các nền tảng mạng xã hội, tìm các kết nối với đồng nghiệp thế giới, các dự án viết nước ngoài, tìm cách dịch tác phẩm của mình ra tiếng Anh tiếng Pháp… tất cả đều sẽ tăng cơ hội hiện diện cho tác phẩm.

Nhưng trong điều kiện khó của xuất bản và văn chương bây giờ, chỉ trông vào vận động tự thân của tác giả là không đủ. Nếu muốn văn chương trong nước có một không khí mới, nhất định phải có sự đồng hành của các cơ quan chức năng, quản lý. Thiết thực trước nhất, người viết cần được hỗ trợ xuất bản. Chúng ta có thể xây dựng quỹ và mỗi năm đầu tư xuất bản cho một số tác giả, phối hợp với các đơn vị xuất bản để thẩm định và thực hiện. Hoạt động quảng bá tác phẩm cũng phải có cơ chế, nhất là khi tiếp cận các trường học.

“Mưa rơi không cần phiên dịch” nhưng sách của chúng ta thì có cần, rất cần. Chúng ta nhập quá nhiều văn chương nước ngoài mà không bán văn chương Việt ra thế giới được mấy. Đọc và so sánh một số tác phẩm Âu, Mỹ, Hàn… đã in ở Việt Nam, tôi thấy văn chương của chúng ta có nhiều điểm sáng, có những lấp lánh. Nhưng hiện nay việc dịch văn chương Việt ra thế giới chỉ hạn chế trong một số tác phẩm của một số nhà văn tên tuổi, và rất nhiều khi, việc dịch, quảng bá đó là các dự án nhỏ lẻ, thông qua uy tín cá nhân hay những mối quan hệ riêng, được chăng hay chớ chứ không thành hệ thống. Sách in ra các ngôn ngữ lớn sẽ tạo được độ nhận diện cho văn chương trong nước, làm tăng uy tín của tác giả và giá trị của văn chương, giúp chúng ta có cơ hội chạm tới những giải thưởng quốc tế, và điều này sẽ tác động tích cực trở lại với nhu cầu đọc của độc giả trong nước.

Một điều nữa mà tôi cho rằng chúng ta cần nghĩ đến, đó là thực hiện chuyển thể, hoặc sáng tạo lại các nội dung tác phẩm cho các nền tảng nghe nhìn. Không thể phủ nhận rằng thói quen đọc của xã hội hiện đại đang ngả nhiều sang nghe nhìn, nên việc sáng tạo lại các nội dung từ văn chương chuyển thành video, clip cũng là một cách tiếp cận độc giả rất tốt. Hiện nay có những tác giả đang làm điều này một cách tự phát, nhưng nếu được tổ chức thành một hệ thống, nhất định sẽ mang đến không khí mới mẻ cho văn chương.

Để văn chương Việt có một gương mặt tươi mới, không phải là không thể, tôi tha thiết tin điều này. Nhưng rõ ràng, đấy phải là một chiến lược cần sự phối hợp cùng lúc của bốn bên: nhà văn có tác phẩm tốt; nhà nước có quỹ đầu tư, Hội Nhà văn đứng ra quản lý; và cuối cùng, là một nhà xuất bản/công ty xuất bản chịu trách nhiệm tổ chức xuất bản và quảng bá tác phẩm.

Câu hỏi của tôi bây giờ là: liệu khi nào chiến lược này sẽ bước những bước đầu tiên?

N.H.D.T

Nguồn: Báo Văn Nghệ

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm