TIN TỨC

Văn trẻ từ quan sát của một biên tập viên

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-01-13 18:56:23
mail facebook google pos stwis
411 lượt xem

Trong khoảng 15 năm gần đây, do có cơ hội làm việc với nhiều tác giả trẻ, tiếp cận được nhiều bản thảo còn đang phôi thai, tôi có những trải nghiệm tương đối phong phú với văn chương đương thời.

Ba bốn năm trước có tác giả tìm đến tôi, đặt trước tôi một bản thảo hơn 1 triệu chữ, một dung lượng khiến tôi rất kinh ngạc. Tác giả ấy đã bỏ ra nhiều năm ròng rã để xây dựng một câu chuyện lớp lang với nhiều ý tưởng bay bổng. Xuất bản nó là chuyện khó vì phải đầu tư rất lớn, nhưng điều tôi muốn nhấn mạnh ở đây chính là tham vọng sáng tạo của họ.

Trong tư cách là biên tập viên lâu năm của một đơn vị xuất bản khá lớn, mỗi năm nhận được năm bảy trăm bản thảo gửi đến, tôi nhận ra rằng: bất chấp sự xâm lấn của văn hóa nghe nhìn, bất chấp văn chương giờ đây lui về là một món đặc sản hơn là thức ăn tinh thần phổ biến, bất chấp cơ hội để được xuất bản là rất cạnh tranh, thì nhu cầu sáng tạo, niềm vui thích kể chuyện vẫn luôn ở đây. Người viết mà tôi được tiếp cận đa số là trẻ. Khát khao trở thành một nhà văn là thứ nhiều người ấp ôm.

Nhiều người ấp ôm thành tác giả

Nếu lướt qua thế giới mạng, hóa ra những tác giả viết cả triệu chữ cũng không quá hiếm. Nhiều chữ không khẳng định là hay, nhưng cho thấy tham vọng, và sức lao động điên cuồng.

Từ những bản thảo được tiếp cận, tôi nhận thấy các xu hướng sáng tác đa dạng, phong phú, từ thơ ca, tới tự sự phi hư cấu (hồi ký, tự truyện), và các thể loại tiểu thuyết..., từ các dòng sáng tác đã ổn định, đến những tìm tòi và xu hướng mới. Chẳng hạn, rất nhiều bản thảo thơ được gửi đến cho thấy chúng ta vẫn là “cường quốc về thơ”. Tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết thế sự vẫn được nhiều người lựa chọn. Nhưng có thể thấy những năm qua, dòng sách hồi ký, tự truyện, chia sẻ các câu chuyên cá nhân bung nở, khi người ta nhận thức rằng ai cũng có thể có không gian để kể, và ai cũng có câu chuyện riêng để kể. Thể loại truyện giả tưởng cũng có nhiều người theo đuổi, một quãng thời gian tôi nhận được rất nhiều. Các tác giả vẽ ra những hành tinh khác, thế giới khác, vũ trụ khác, với những thế lực tranh đoạt vị trí, với những người được chọn để giải cứu thế giới... Tuy vậy dòng văn học giả tưởng ở trong nước đến nay vẫn chưa có một vị trí rõ ràng.

 

Nhà văn Nguyễn Hoàng Diệu Thủy

 

Truyện kinh dị có các yếu tố lịch sử văn hóa bản địa, khởi đầu từ Phan Cuồng, đã dần trở thành một trào lưu mạnh ở Việt Nam. Đây là món lạ khác biệt trong những năm qua, thu hút độc giả, nên có nhiều tác giả trẻ hào hứng thử sức và đạt được thành tựu. Họ đã khai thác đa dạng các bối cảnh từ thành thị, nông thôn, lịch sử, đời sống hiện đại để cài cắm câu chuyện, khiến không khí mảng truyện này rất sôi nổi, từ đó lan sang phim ảnh và thậm chí cả MV âm nhạc.

Văn học thiếu nhi cũng phát triển từ đòi hỏi của xã hội. Những năm qua việc phát triển thói quen đọc sách cho trẻ em được xã hội và gia đình chú ý. Trẻ em là tương lai, và trong điều kiện kinh tế đã tương đối dư giả, người dân không ngần ngại đầu tư cho tương lai. Các công ty xuất bản đều lao vào mảnh đất màu mỡ này. Nhận ra xu hướng, số lượng các tác giả viết cho thiếu nhi tăng lên rất nhiều. Trước đây chúng ta thường chỉ biết tới giải Văn học thiếu nhi do Hội Nhà văn Việt Nam xét, thì hiện nay đã có nhiều giải như Dế Mèn, giải thưởng của Nhà xuất bản Kim Đồng, giải Văn học thiếu nhi TP Hồ Chí Minh, giải thưởng Đóa hoa đồng thoại…

Nhưng như thế đã đủ chưa?

Chân trời nào cho những người bay

Như ở trên đã trình bày, có rất nhiều người viết trẻ đang ấp ôm trở thành văn. Có rất nhiều người bay ở đây và họ cần có chân trời. Nhưng phải nói là, môi trường và điều kiện để “bay” của chúng ta còn khá khiêm tốn.

Nhìn vào thị trường xuất bản, nơi công bố tác phẩm văn chương và mang lại nguồn thu cho người sáng tạo, ta sẽ thấy sự mất cân đối. Tổng doanh thu toàn ngành xuất bản đạt hơn 4.500 tỷ đồng, trong đó hơn một nửa đã là sách giáo khoa, giáo trình… Số còn lại là sách phi hư cấu, truyện tranh… Văn chương chỉ là một địa hạt rất nhỏ trong đó. Sách Nobel đa phần là sách ế hoặc tiêu thụ chậm. Sách của các tác giả đương đại Việt Nam, nhất là tác giả trẻ, hầu như chỉ in được 1.000-2.000 bản, ít khi được tái bản. Tôi rất ám ảnh với con số này và thực lòng mong muốn làm sao có thể nâng giới hạn con số này lên.

Các giải thưởng văn chương, vốn là nơi “kích cầu” cho người viết, thì nay ít nhiều tiêu biến. Không gian công bố tác phẩm trên báo và tạp chí giấy ít đi, trên các trang mạng chính thống, đất dành cho văn chương cũng bị sa sút.

Văn hóa nghe nhìn lấn át, năng lực tập trung để đọc sách của con người hiện đại ngày càng kém đi. Mỗi năm ta in nhiều đầu sách hơn, nhưng tỷ lệ số người đọc không tăng tương ứng.

Trong bối cảnh đó, làm sao để các sáng tác được đọc, làm sao để tác phẩm tới tay độc giả, luôn là một câu hỏi đau đầu.

Người viết chắc chắn phải tự thân vận động trước. Dĩ nhiên sáng tạo không ngừng nghỉ, duy trì nội lực tự thân là quan trọng nhất. Đối với những bản thảo tôi có trải nghiệm trong nhiều năm qua, nhiều người viết bị một vấn đề là thiếu đầu tư về tư liệu, tư liệu từ đời sống, tư liệu từ sách vở... thành ra bản thảo thiếu sức sống, không đi được đường dài.

Chỉ ngồi viết và không làm gì khác, đấy cũng là một lựa chọn. Nhưng làm mọi cách để tác phẩm của mình được hiện diện (mà không vi phạm pháp luật hay đạo đức) thì cũng không có gì sai mà rất đáng cổ vũ. Ví dụ, tìm cách xuất bản, crowd-funding, tìm cách kể câu chuyện của mình ở các nền tảng mạng xã hội, tìm các kết nối với đồng nghiệp thế giới, các dự án viết nước ngoài, tìm cách dịch tác phẩm của mình ra tiếng Anh tiếng Pháp… tất cả đều sẽ tăng cơ hội hiện diện cho tác phẩm.

Nhưng trong điều kiện khó của xuất bản và văn chương bây giờ, chỉ trông vào vận động tự thân của tác giả là không đủ. Nếu muốn văn chương trong nước có một không khí mới, nhất định phải có sự đồng hành của các cơ quan chức năng, quản lý. Thiết thực trước nhất, người viết cần được hỗ trợ xuất bản. Chúng ta có thể xây dựng quỹ và mỗi năm đầu tư xuất bản cho một số tác giả, phối hợp với các đơn vị xuất bản để thẩm định và thực hiện. Hoạt động quảng bá tác phẩm cũng phải có cơ chế, nhất là khi tiếp cận các trường học.

“Mưa rơi không cần phiên dịch” nhưng sách của chúng ta thì có cần, rất cần. Chúng ta nhập quá nhiều văn chương nước ngoài mà không bán văn chương Việt ra thế giới được mấy. Đọc và so sánh một số tác phẩm Âu, Mỹ, Hàn… đã in ở Việt Nam, tôi thấy văn chương của chúng ta có nhiều điểm sáng, có những lấp lánh. Nhưng hiện nay việc dịch văn chương Việt ra thế giới chỉ hạn chế trong một số tác phẩm của một số nhà văn tên tuổi, và rất nhiều khi, việc dịch, quảng bá đó là các dự án nhỏ lẻ, thông qua uy tín cá nhân hay những mối quan hệ riêng, được chăng hay chớ chứ không thành hệ thống. Sách in ra các ngôn ngữ lớn sẽ tạo được độ nhận diện cho văn chương trong nước, làm tăng uy tín của tác giả và giá trị của văn chương, giúp chúng ta có cơ hội chạm tới những giải thưởng quốc tế, và điều này sẽ tác động tích cực trở lại với nhu cầu đọc của độc giả trong nước.

Một điều nữa mà tôi cho rằng chúng ta cần nghĩ đến, đó là thực hiện chuyển thể, hoặc sáng tạo lại các nội dung tác phẩm cho các nền tảng nghe nhìn. Không thể phủ nhận rằng thói quen đọc của xã hội hiện đại đang ngả nhiều sang nghe nhìn, nên việc sáng tạo lại các nội dung từ văn chương chuyển thành video, clip cũng là một cách tiếp cận độc giả rất tốt. Hiện nay có những tác giả đang làm điều này một cách tự phát, nhưng nếu được tổ chức thành một hệ thống, nhất định sẽ mang đến không khí mới mẻ cho văn chương.

Để văn chương Việt có một gương mặt tươi mới, không phải là không thể, tôi tha thiết tin điều này. Nhưng rõ ràng, đấy phải là một chiến lược cần sự phối hợp cùng lúc của bốn bên: nhà văn có tác phẩm tốt; nhà nước có quỹ đầu tư, Hội Nhà văn đứng ra quản lý; và cuối cùng, là một nhà xuất bản/công ty xuất bản chịu trách nhiệm tổ chức xuất bản và quảng bá tác phẩm.

Câu hỏi của tôi bây giờ là: liệu khi nào chiến lược này sẽ bước những bước đầu tiên?

N.H.D.T

Nguồn: Báo Văn Nghệ

Bài viết liên quan

Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm