TIN TỨC

Bùi Giáng - Người chưa bao giờ già

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2023-11-13 15:18:57
mail facebook google pos stwis
2640 lượt xem

Hà Thanh Vân

Bùi Giáng (1926 – 1998) là người hay được nhắc đến với biệt danh “trung niên thi sĩ” do ông tự nhận. Quãng đời sáng tác của ông không chỉ gắn với những bài thơ hay, đầy chất ngẫu hứng, mà còn gắn với những câu chuyện kể nửa hư nửa thực. Nhân kỷ niệm 25 năm ngày ông qua đời, nhìn lại hành trình thơ của ông, thấy được người “trung niên thi sĩ” này chưa bao giờ già trong con mắt của độc giả.

Thi sĩ Bùi Giáng - Tranh họa sĩ Trần Thế Vĩnh

NHỮNG NGƯỜI TÌNH MÃI MÃI THƠ TRẺ

Nói đến Bùi Giáng là phải nói đến những bài thơ tình dành tặng cho nhiều người phụ nữ có danh và cả vô danh. Có người ông quen biết, cũng có người ông chỉ biết đến trên sách vở, phim ảnh, nhưng vẫn thành mối tình si. Người ta nhắc nhiều đến mối tình si của ông dành cho kỳ nữ Kim Cương của sân khấu kịch nói, ni sư Thích Nữ Trí Hải (Tôn Nữ Phùng Khánh), những bài thơ ông dành tặng cho nhân vật Thúy Kiều của Nguyễn Du, cho cô đào điện ảnh nước Mỹ Mộng Lỗ (Marilyn Monroe)… Nhưng còn vô số những nhân vật được ông gọi thẳng tên trong thơ như: Em Mọi, giai nhân, thiếu phụ, sơn nữ, thôn nữ, hoàng hậu… Xuyên suốt trong thơ của Bùi Giáng là hình ảnh người nữ với mọi sắc thái, mọi nhân dạng, nhưng tình yêu dành cho họ luôn là vĩnh viễn và vô biên. Trong thơ Bùi Giáng, họ là những người tình không có tuổi tác, được ông yêu với một tình yêu thơ trẻ. Với Bùi Giáng, cuộc đời chính là tình yêu, và đã yêu thì phải yêu đến muôn đời, cho dù tình yêu đó là trong thực tại hay chỉ còn trong ký ức.

Thấy em mộng tưởng vuông tròn

Trùng khơi ký ức hãy còn như nguyên

Về sau ắt sẽ muộn phiền

Trở thành vô lượng mây triền miên trôi

Tình yêu mộng mị muôn đời

Ấy là chung cục thế thời phục sinh

(Tình yêu III)

Và dù không tròn vẹn trong bất cứ tình yêu nào, cũng như giữa trời và đất nên chẳng bao giờ gặp nhau, Bùi Giáng vẫn khẳng định thêm một lần về sự vĩnh viễn của tình yêu, của nhớ thương.

Dậy từ cổ mộ ca sương

Trời xa đất mãi nên thường nhớ nhau

(Cố sử mai sau)

NGƯỜI ĐÀN ÔNG CỦA LANG THANG CÕI THẾ VÀ LÊNH ĐÊNH CÕI MỘNG

Bùi Giáng viết về bản thân mình có lẽ cũng nhiều như những tình yêu đi qua đời ông hay những tình yêu mà ông mơ tưởng. Cuộc đời của Bùi Giáng là một cuộc đời của con người đi qua cõi nhân gian này như một cơn mộng mị chiêm bao. Bùi Giáng quê ở Thanh Châu, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Ông bắt đầu bước vào nghiệp văn chương từ rất sớm. Năm ông 21 tuổi, những tác phẩm đầu tay của Bùi Giáng đã được in trong sách giáo khoa, như “Một vài nhận xét về Bà huyện Thanh Quan, Lục Vân Tiên, Chinh phụ ngâm” (1957),… nhưng ông bắt đầu nổi tiếng sau tập thơ “Lá hoa cồn” (1963). Từ đó Bùi Giáng nổi danh trong giới văn chương miền Nam như một thi sĩ “dị kỳ”. Ngoài biệt danh “trung niên thi sĩ”, Bùi Giáng còn một loạt biệt danh và bút danh khác đều rất độc đáo như: Thi sĩ đười ươi, Brigitte Giáng, Giáng Monroe, Bùi Bán Dùi, Bùi Bàn Dúi, Bùi Tồn Lưu, Bùi Tồn Lê, Bùi Bê Bối, Bùi Văn Chiêu Lỳ…

Không chỉ làm thơ, ngòi bút của Bùi Giáng còn “lang thang” ở nhiều địa hạt văn học. Bùi Giáng đã dịch vở kịch “Hamlet” của đại văn hào Anh William Shakespeare, tác phẩm “Hoàng tử bé” của nhà văn Pháp Saint Exupéry, tác phẩm “Ngộ nhận” của nhà triết học hiện sinh kiêm nhà văn Pháp Albert Camus, các tác phẩm “Khung cửa hẹp” và “Hòa âm điền dã” của nhà văn Pháp André Gide… Không chỉ dịch sách phương Tây, Bùi Giáng còn dịch cả truyện kiếm hiệp. Không chỉ là dịch giả, Bùi Giáng còn biên soạn các tiểu luận triết học và văn học như “Tư tưởng hiện đại”, “Thi ca tư tưởng”, “Lễ hội tháng ba”, “Con đường ngã ba”, “Con đường phản kháng”, “Đi vào cõi thơ”…

Tuy nhiên Bùi Giáng được người ta biết đến nhiều nhất với tư cách nhà thơ. Trong văn chương, Bùi Giáng đi theo một con đường riêng, không giống với bất cứ nhà thơ, nhà văn nào. Đó là cách nhìn về chính bản thân mình và về cuộc đời khiến cho những độc giả có cảm tưởng ông đang sống trong một cõi riêng, một cõi siêu thực! Cuộc đời của Bùi Giáng không chỉ rong chơi trên những trang chữ, mà ông còn rong chơi ở cõi đời trần thế này. Ông sống như là ông viết, cô độc giữa đám đông bạn bè, cuồng phóng giữa chốn phù hoa,

Một mình gánh nặng lẻ loi

Hai mình chung gánh cũng loi lẻ mình

Đã mang số kiếp lênh đênh

Thở than cho lắm vẫn chênh vênh đời

Thôi thì một khóc mười cười

Dẫu sao đã vỡ bình rồi bấy thân.

(Trần thế bách niên)

LẮT LẺO LIÊU XIÊU CÂU CHỮ

Giọng thơ của Bùi Giáng rất dễ nhận biết. Ông làm thơ giống như đùa. Nhà văn kiêm dịch giả Bửu Ý có viết một cuốn sách về Bùi Giáng là “Bùi Giáng một đời thơ” (Công ty TNHH Xuất bản Thiện Tri Thức & Nhà xuất bản Dân Trí, 2023), trong đó có nhận xét: “Thử tưởng tượng bạn quẳng đến cho Bùi Giáng một bó câu, hay trời cao mưa móc xuống một hộc chữ cái, hay nàng thơ cung tặng sa số vần điệu, Bùi Giáng từ đó sẽ sắp xếp lại thành thơ, những câu thơ không ai ngờ, những vần điệu đầy tung hứng.” Người ta thường hay nhắc nhiều đến những câu thơ mà chỉ có thể là của Bùi Giáng:

Bỏ trăng gió lại cho đời

Bỏ ngang ngửa sóng giữa lời hẹn hoa

Bỏ người yêu bỏ bóng ma

Bỏ hình hài của tiên nga trên trời

Bây giờ riêng đối diện tôi

Còn hai con mắt khóc người một con

(Mắt buồn)

Hay những câu thơ mà gần như độc giả nào yêu thơ của Bùi Giáng cũng thuộc nằm lòng:

Xin chào nhau giữa con đường

Mùa xuân phía trước miên trường phía sau

Tóc xanh dù có phai màu

Thì cây xanh vẫn cùng nhau hẹn rằng

Xin chào nhau giữa lúc này

Có ngàn năm đứng ngó cây cối và

Có trời mây xuống lân la

Bên bờ nước có bóng ta bên người

(Nguyên Xuân)

Tung hứng câu chữ, Bùi Giáng cũng tung hứng cuộc đời của chính ông qua những chuỗi ngày lang thang mà ông tự nhận là “điên rực rỡ” (theo Lê Văn Nghĩa, “Văn học Sài Gòn 1954 – 1975: Những chuyện bên lề”, NXB Tổng hợp TPHCM, 2020). Cuộc đời của Bùi Giáng là một cuộc đời nhất quán trong văn chương, trong phong cách viết. Ông xuất hiện trên văn đàn và chiếm một vị trí nổi bật trong đó, chỉ bằng lối viết như trò chơi. Trong văn học nghệ thuật có một lý thuyết nghiên cứu gọi là lý thuyết trò chơi và có thể áp dụng điều này khi tìm hiểu về văn chương của Bùi Giáng. Sự chơi trong ngôn từ văn chương và cách sống khiến cho con người ta bước ra khỏi cuộc sống thường nhật đầy những giới hạn, ranh giới, định kiến, để bước vào một thế giới tuy là ở trong thực tại nhưng cũng có không gian, thời gian riêng với những quy luật riêng. Ở đó con người chơi để được là chính mình, sống với bản ngã của mình, không che đậy, giấu giếm. Con người chơi để phát hiện lại chính mình, tìm kiếm sự tồn tại của chính mình và làm cho sự tồn tại ấy có ý nghĩa.

Bùi Giáng đã sống và rong chơi hết mình. Để rồi nhờ vào sự rong chơi ấy, văn chương của ông luôn mới mẻ và có giá trị với chúng ta, những độc giả cùng thời với ông và những thời sau ông.

Một trang cũ kỹ

Mới lại một lần

Linh hồn giản dị

Bờ cõi thanh tân

Em sẽ đi đâu

Với đời đi mất

Tờ giấy phai màu

Hồng kia có thật

(Màu thiên thanh mở)

DI CẢO THƠ BÙI GIÁNG – MẠCH NGUỒN CHẢY MÃI

“Trăm năm vui buồn” là tập di cảo thơ thứ 14 của Bùi Giáng ra mắt độc giả kể từ khi ông qua đời cách đây 25 năm, do Thư quán Hạnh phúc thực hiện và NXB Văn học ấn hành vào tháng 9.2023 vừa qua. Những người thực hiện tập di cảo này cho biết đây là một nén nhang lòng để tưởng nhớ đến thi sĩ Bùi Giáng. Thi tập “Trăm năm vui buồn” được thi sĩ Bùi Giáng làm vào năm 1994.

Trước đó, 13 tập di cảo thơ của Bùi Giáng đã lần lượt được xuất bản kể từ khi ông qua đời. Có thể kể đến một số tập di cảo thơ như tập thứ 9 mang tên “Ký ức” (NXB Văn hóa Văn nghệ TPHCM ấn hành năm 2010), tập thứ 10 mang tên “Bèo mây bờ bến” (NXB Văn hóa Văn nghệ TPHCM ấn hành năm 2011), tập thứ 11 mang tên “Tâm sự tuổi già” (NXB Văn hóa Văn nghệ TPHCM ấn hành năm 2011)…

Sinh thời thi sĩ Bùi Giáng làm nhiều bài thơ. Tuy nhiên do cá tính và hoàn cảnh sống, nên ông để lại nhiều bài thơ mà chưa kịp ra mắt độc giả. Từ nhiều năm nay, nhờ vào công sức của gia đình, bạn bè, thân hữu và những người yêu thơ Bùi Giáng, lần lượt các tập di cảo của ông đều đặn ra đời, giữ cho dòng mạch thơ ông luôn chảy mãi. Qua đó chúng ta thấy được tấm lòng yêu thơ của nhiều độc giả, nhưng cũng cho thấy sức làm việc phi thường, “xuất khẩu thành thơ” của Bùi Giáng.

Tập di cảo thơ thứ 14 của Bùi Giáng mang tên “Trăm năm vui buồn” gồm 91 bài thơ. Tập thơ vẫn là một phong cách quen thuộc của Bùi Giáng, gồm những câu chữ tưng tửng, những lời lẽ vung vẩy chữ nghĩa, chao đảo giữa cõi thực và mơ của riêng ông. Các nhà thơ thường có một cõi mơ của riêng mình. Nhưng thơ Bùi Giáng thì khác lạ hơn ở chỗ ông đưa người thật, việc thật vào cõi mơ. Trong tập thơ “Trăm năm vui buồn”, có nhiều bài thơ ông viết về Nguyễn Du, nối tiếp mạch đề tài có thể nói là xuyên suốt đời thơ của ông. Dường như Bùi Giáng luôn cảm thấy bản thân mình có mối liên hệ với Nguyễn Du trên phương diện tinh thần. Ông viết những bài thơ “Tố Như tặng vật”, “Thúy Kiều”, “Từ đầu tới cuối Tố Như”, “Nguyễn Du – Phạm Quý Thích – Hoạn Thư”… Trong tập thơ cũng có bài thơ dành cho Lưu Trọng Lư, cho nữ sĩ Ngọc Quế và nhiều bài thơ không đề. Chủ đề chính của tập thơ “Trăm năm vui buồn” vẫn là những sắc thái tình cảm, trong đó vẫn là những nhân vật quen thuộc như anh và em, trẫm và nàng. Nhân vật người nữ vẫn là nhân vật mà Bùi Giáng luôn nâng niu bằng những từ ngữ đẹp đẽ nhất.

“Giữa trưa em đến thình lình

Đem bao vẻ ngọc lung linh đá vàng

Đổ vào một trận mê man

Tình yêu có lẽ thênh thang lạ lùng

Anh về suy nghĩ mông lung

Nàng Tiên có một mà não nùng có hai”

(Một nàng tiên)

Bùi Giáng chủ yếu làm thơ lục bát và những bài thơ trong tập thơ “Trăm năm vui buồn” cũng phần nhiều là lục bát với lối gieo vần theo kiểu rất Bùi Giáng, nghịch dị và dắt dây chữ nghĩa, phảng phất hương xưa cũ của văn chương một thuở.

“Đi về cổ lục nhìn xem

Phong tình tâm sự trước đèn dầu lu

Mai sau sông biển tít mù

Từ bây giờ tới tạc thù tương lai

Ruộng nương Nương Tử dặm dài

Mừng Xuân tao ngộ di hài Thu Đông

Ngày mai cá sóng phiêu bồng

Ngàn trăng ngậm bóng sương đồng ra đi

Đi về với gió phù du

Mở trang Trí Huệ cho mù sa bay”

(Tặng em)

Đặc biệt trong “Trăm năm vui buồn” còn có thơ tự do, có thơ thất ngôn bát cú, cho thấy những sắc thái khác trong thơ Bùi Giáng.

“Thập thành công lực đã tung ra

Chỉ chưởng vèo bay khắp sơn hà

Lệnh chỉ rước chầu vu quy tới

Hỏa bài tiền lộ ruổi mau qua

Tưởng chừng như mộng mị là thế

Đâu biết rằng mơ tưởng ấy là

Anh định tìm em thăm viếng chút

Nào ngờ em chẳng chịu chơi a!”

(Lệnh chỉ)

Bùi Giáng đi qua cõi đời này như một cuộc rong chơi. Rong chơi trên những nẻo đường phố xá, rong chơi trong miền chữ nghĩa phù du lắt léo đảo điên. Nhưng dù rong chơi, Bùi Giáng vẫn gửi hết tâm tình, gửi hết nỗi niềm với con người, với cuộc đời vào từng câu chữ. Có lẽ vì vậy mà thơ của ông đọc nhẹ như không mà ấn tượng lại nặng đến nao lòng. “Trăm năm vui buồn” là chuyện của đời người trăm năm với muôn vàn sắc thái và khép lại tập di cảo thơ thứ 14 của Bùi Giáng, độc giả yêu thơ ông lại tiếp tục mong chờ một tập di cảo thơ thứ 15.

H.T.V

Bài viết liên quan

Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm