- Lý luận - Phê bình
- Hồi ký Những điều còn lại: “Thắng phía trước, được phía sau”
Hồi ký Những điều còn lại: “Thắng phía trước, được phía sau”
NGUYỄN THÁI BÌNH
Nhân đọc hồi ký "Những điều còn lại" của Trung tướng Phùng Khắc Đăng
Không gian tĩnh mịch nơi đơn vị khiến tiếng lật giở từng trang sách dường như cũng rõ mồn một. Tôi vừa gấp lại trang cuối cùng của cuốn hồi ký “Những điều còn lại”. Ký ức về buổi sáng vinh dự được gặp, được chính tay Trung tướng Phùng Khắc Đăng, nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, nguyên Phó Tư lệnh về Chính trị Quân khu 1 ký tặng sách vẫn còn nguyên vẹn.

Nhưng cảm giác đọng lại trong tôi lúc này không đơn thuần là niềm vui của một sĩ quan trẻ được nhận quà từ Thủ trưởng mà là sự day dứt, là sự soi chiếu, và trên hết là sự kính trọng đối với một cây đại thụ đã bám rễ sâu vào lòng đất mẹ, trải qua bao bão tố để giữ trọn vẹn hai chữ “Con Người”.
Là một cán bộ làm công tác đối ngoại, cuốn sách này đã dạy cho tôi một bài học về “đối ngoại” và “đối nội” ở tầng bậc sâu sắc nhất: Đó là sự ứng xử giữa người với người, giữa cá nhân với tổ chức, và giữa lương tâm với thời cuộc.
Cuốn hồi ký bắt đầu bằng những lời ru. Tôi đã lặng người đi trước những dòng thơ Thủ trưởng viết về Mẹ.
Biết bao năm tháng nổi chìm
Mẹ tơi tả một cánh chim bộn bề.
Chỉ hai chữ “tơi tả” thôi mà sao nặng trĩu. Hình ảnh người mẹ tần tảo, làm gai, đan vó, chắt chiu nuôi con khôn lớn để rồi tiễn con đi biền biệt, là hình ảnh chung của hàng triệu bà mẹ Việt Nam. Nhưng cái cách Thủ trưởng nhắc về mẹ, về sự hụt hẫng khi “mẹ đi để lại một bầy con thơ”, khiến tôi nhận ra: Đằng sau tấm quân hàm Trung tướng uy nghiêm kia là một trái tim đa cảm, một tâm hồn được nuôi dưỡng từ mạch nguồn văn hóa truyền thống, từ Truyện Kiều, Tam Quốc mà người mẹ vẫn thường giao đọc. Chính cái gốc văn hóa ấy đã tạo nên một vị tướng vừa sắc sảo, vừa nhân văn sau này.
Nếu Mẹ là nguồn cội của tâm hồn, thì Cha chính là người đặt viên gạch nền móng cho nhân cách. Câu chuyện về chiếc xe ngựa của nhà vua khiến tôi đọc đi đọc lại đến ba lần. Một hành động hiếu nghĩa (mượn xe ngựa của vua về chịu tang mẹ) có thể bị nhìn nhận là “khi quân” nếu bị kẻ gian thêu dệt, nhưng cũng là tận trung tận hiếu nếu gặp bậc minh quân thấu hiểu. Lời dạy “Một việc thôi, người ta có thể suy diễn ra nhiều cách... Vào đời cũng vậy, con nhớ khắc ghi” là một lời cảnh tỉnh cho bất cứ ai. Trong môi trường đối ngoại, ranh giới giữa đúng và sai đôi khi mong manh như sợi chỉ, phụ thuộc vào góc nhìn và bối cảnh. Bài học ấy dạy tôi rằng, nhìn sự vật, hiện tượng không được nhìn hời hợt mà phải thấu suốt bản chất bên trong, phải có cái tâm sáng để không bị nhiễu loạn bởi những lời gièm pha hay xu nịnh.
Tôi ấn tượng mãi với câu dặn dò của người Cha trong bức thư gửi người con trai đang trong chiến trường: “Thắng phía trước, được phía sau. Vàng thau không lẫn lộn”. Giữa chiến trường ác liệt, giữa ranh giới sự sống và cái chết, hay sau này giữa chốn quan trường đầy cám dỗ, cái gì là Vàng, cái gì là Thau? Thời gian và thử thách chính là ngọn lửa để phân kim.
Theo bước chân của người thanh niên Phùng Khắc Đăng từ công trường Suối Hai, nhập ngũ vào tiểu đoàn trinh sát pháo binh, rồi mười năm ròng rã nơi chiến trường khói lửa, tôi thấy hiện lên không phải là một anh hùng “mình đồng da sắt” mà là một con người bằng xương bằng thịt, biết đau, biết thương đồng đội và từng đứng trước cửa tử trong một cơn sốt rét rừng... tất cả hiện lên chân thực, không tô vẽ. Điều khiến tôi nể phục không chỉ là năng lực chỉ huy hay sự sắc sảo trong tư duy lý luận, mà là sức bền bỉ của một người lính tin vào lý tưởng mình đã chọn.
Nhưng có lẽ, phần chạm đến trái tim tôi nhất, với tư cách là một cán bộ đang công tác tại Quân khu 1, chính là giai đoạn Thủ trưởng làm Phó Tư lệnh về Chính trị tại đây. Quân khu 1, phên dậu phía Bắc, nơi địa hình hiểm trở và đa phần là đồng bào dân tộc thiểu số. Một vị chỉ huy người Kinh, làm thế nào để “an dân, trấn ải”? Thủ trưởng đã chọn cách học tiếng Tày. Chi tiết này nhỏ thôi, nhưng nó nói lên tầm vóc của tư duy dân vận. Làm đối ngoại hay làm công tác chính trị, dân vận, cốt lõi là sự thấu hiểu. Không thể nói chuyện với đồng bào, không hiểu phong tục tập quán của họ thì làm sao nói cho họ tin, làm cho họ theo?
Không chỉ “đối nội” giỏi, qua cuộc trò chuyện ngắn ngủi với tôi hồi sáng và những trang hồi ký về hành trình đối thoại kênh 2 đấu tranh cho nạn nhân chất độc da cam, Thủ trưởng còn khai mở cho tôi những bài học vô giá về nghiệp vụ đối ngoại. Từ sự tận tâm can thiệp để bảo đảm quyền lợi cho một sĩ quan quốc tế từng học tập tại Việt Nam, đến câu trả lời khẳng khái nhắc nhở phía Mỹ về “công lý” và “đạo lý” thay vì né tránh quá khứ, tôi đã vỡ vạc ra rằng đối ngoại đỉnh cao là “Ngoại giao tâm công”: Vừa giữ vững nguyên tắc và lòng tự tôn dân tộc, vừa phải có cái tâm đủ rộng và trí tuệ sắc sảo để thu phục nhân tâm bạn bè quốc tế.
Đọc đến đoạn Thủ trưởng phải xử lý kỷ luật một người đồng chí vướng vào bi kịch hôn nhân, tôi đã dừng lại rất lâu. Cách người Phó Tư lệnh về Chính trị ngày ấy giải quyết vấn đề lại khiến hậu thế phải suy ngẫm lại cách ứng xử giữa lý và tình. Ông chọn cách gặp gỡ, sẻ chia, vận động thấu tình đạt lý để người đồng chí ấy về nghỉ, giữ lại danh dự của một người lính. Và điều khiến tôi khâm phục hơn cả là câu chuyện sau khi người đồng chí kia đau ốm, nằm viện, Thủ trưởng Đăng vẫn tìm đến thăm. Câu kết luận của Thủ trưởng về trường đoạn đó nhẹ nhàng mà thấm thía: “Mọi thứ đều đã trở thành vô nghĩa, chỉ còn một thứ là còn ý nghĩa với ông…” Cái còn lại cuối cùng giữa những người lính với nhau là tình đồng chí, là sự bao dung cho những góc khuất số phận của con người. Đó chính là “Những điều còn lại” chăng?
Chẳng phải ngẫu nhiên mà đồng chí Trung tướng Đàm Văn Ngụy, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Tư lệnh Quân khu 1 lại dành cho Thủ trưởng Đăng sự tin tưởng tuyệt đối: “Đồng chí rất quan tâm đến biên ải, quan tâm đến con em người dân tộc, tôi về nghỉ cũng cảm thấy yên lòng”.
Gấp lại những trang viết về thời kỳ Thủ trưởng làm Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, về những đóng góp vĩ mô cho văn học nghệ thuật, báo chí quân đội, hay những ngày tháng nghỉ hưu vẫn miệt mài với Hội Cựu chiến binh, với cương vị Đại biểu Quốc hội tỉnh Sơn La, với dòng tộc họ Phùng, tôi thấy hiện lên một chân dung nhất quán. Dù ở vị trí nào, Thủ trưởng vẫn giữ đúng lời răn của Cha: “Chữ tâm phải sáng, chữ tình phải ngay”.
Bát cháo vợ nấu những đêm còn trăn trở bên bàn làm việc, lời động viên “em tin anh sẽ làm được” là những nốt trầm dịu dàng làm mềm lại sự cứng nhắc của đời binh nghiệp. Nó nhắc nhở thế hệ sĩ quan trẻ chúng tôi rằng: Phía sau sự thành công của người cán bộ quân đội, gia đình luôn là điểm tựa vững chãi nhất. Giữ được “gia phong”, giữ được “đạo hiếu” thì mới giữ được mình trước sóng gió cuộc đời.
Tôi, một sĩ quan trẻ sinh ra và lớn lên khi đất nước đã im tiếng súng, chưa từng nếm trải vị mặn chát của mồ hôi trộn máu nơi chiến trường, đọc cuốn hồi ký này như được uống một ngụm nước nguồn trong mát nhưng cũng đầy vị chát của rễ cây rừng. Thế hệ chúng tôi hôm nay có điều kiện tiếp cận tri thức, ngoại ngữ, công nghệ. Nhưng liệu chúng tôi có đủ cái “chất thép” như thế hệ cha anh? Liệu khi đối diện với những cám dỗ tinh vi của thời bình, thứ “giặc nội xâm” không tiếng súng, chúng tôi có đủ bản lĩnh để phân định “Vàng - Thau”?
Cuốn sách của Trung tướng Phùng Khắc Đăng không đưa ra câu trả lời trực tiếp, nhưng cuộc đời của Thủ trưởng chính là câu trả lời. Rằng bản lĩnh không tự nhiên sinh ra, nó được tôi luyện từ sự hiếu học, từ lòng biết ơn, từ sự dấn thân vào gian khổ và từ một trái tim biết yêu thương con người.
Lời kết của Thủ trưởng: “Về với đời thường tuy cũng còn nhiều điều trăn trở, nhưng tôi nghĩ mình là người hạnh phúc”. Hạnh phúc vì đã sống trọn vẹn. Hạnh phúc vì “Thắng phía trước, được phía sau”.
Cảm ơn Thủ trưởng, không chỉ vì cuốn sách quý, mà vì đã trao truyền cho lớp trẻ chúng tôi một ngọn lửa cháy âm ỉ và bền bỉ. Ngọn lửa ấy sẽ soi đường cho chúng tôi biết cách sống sao cho xứng đáng với màu áo mình đang mặc, biết “đối ngoại” bằng cái đầu lạnh và “đối nội” bằng một trái tim nóng hổi tình người.
Ngoài kia, sương mù mùa đông đặc quánh, trời vẫn tối đen như mực và cái rét ngọt tháng Chạp bắt đầu luồn qua khe cửa. Nhìn đồng hồ, tôi giật mình nhận ra tiếng kèn báo thức sắp điểm.
Vậy là đã gần một ngày trọn vẹn kể từ lúc tôi vinh dự gặp Thủ trưởng, và cũng là một đêm quên ngủ để sống cùng những trang hồi ký. Đôi mắt có chút cay cay, sống lưng mỏi nhừ vì ngồi lâu, nhưng tinh thần tôi lại tỉnh táo lạ thường. Trong cái lạnh buốt của rạng sáng mùa đông, lồng ngực tôi dường như có một ngọn lửa vừa được nhen lên, thôi thúc tôi viết ra những dòng này ngay lập tức.
Đặt cuốn sách lên kệ ở vị trí trang trọng nhất, tôi thầm hứa sẽ mang theo những bài học này trong ba lô hành trang của mình, trên con đường phụng sự Tổ quốc hãy còn rất dài và vinh quang phía trước.
Thái Nguyên, 05.10 ngày 09/01/2026
N.T.B