TIN TỨC

Hồi ký Những điều còn lại: “Thắng phía trước, được phía sau”

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-01-13 10:10:43
mail facebook google pos stwis
17 lượt xem

NGUYỄN THÁI BÌNH

Nhân đọc hồi ký "Những điều còn lại" của Trung tướng Phùng Khắc Đăng

Không gian tĩnh mịch nơi đơn vị khiến tiếng lật giở từng trang sách dường như cũng rõ mồn một. Tôi vừa gấp lại trang cuối cùng của cuốn hồi ký “Những điều còn lại”. Ký ức về buổi sáng vinh dự được gặp, được chính tay Trung tướng Phùng Khắc Đăng, nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, nguyên Phó Tư lệnh về Chính trị Quân khu 1 ký tặng sách vẫn còn nguyên vẹn.

Nhưng cảm giác đọng lại trong tôi lúc này không đơn thuần là niềm vui của một sĩ quan trẻ được nhận quà từ Thủ trưởng mà là sự day dứt, là sự soi chiếu, và trên hết là sự kính trọng đối với một cây đại thụ đã bám rễ sâu vào lòng đất mẹ, trải qua bao bão tố để giữ trọn vẹn hai chữ “Con Người”.

Là một cán bộ làm công tác đối ngoại, cuốn sách này đã dạy cho tôi một bài học về “đối ngoại” và “đối nội” ở tầng bậc sâu sắc nhất: Đó là sự ứng xử giữa người với người, giữa cá nhân với tổ chức, và giữa lương tâm với thời cuộc.

Cuốn hồi ký bắt đầu bằng những lời ru. Tôi đã lặng người đi trước những dòng thơ Thủ trưởng viết về Mẹ.

Biết bao năm tháng nổi chìm

Mẹ tơi tả một cánh chim bộn bề.

Chỉ hai chữ “tơi tả” thôi mà sao nặng trĩu. Hình ảnh người mẹ tần tảo, làm gai, đan vó, chắt chiu nuôi con khôn lớn để rồi tiễn con đi biền biệt, là hình ảnh chung của hàng triệu bà mẹ Việt Nam. Nhưng cái cách Thủ trưởng nhắc về mẹ, về sự hụt hẫng khi “mẹ đi để lại một bầy con thơ”, khiến tôi nhận ra: Đằng sau tấm quân hàm Trung tướng uy nghiêm kia là một trái tim đa cảm, một tâm hồn được nuôi dưỡng từ mạch nguồn văn hóa truyền thống, từ Truyện Kiều, Tam Quốc mà người mẹ vẫn thường giao đọc. Chính cái gốc văn hóa ấy đã tạo nên một vị tướng vừa sắc sảo, vừa nhân văn sau này.

Nếu Mẹ là nguồn cội của tâm hồn, thì Cha chính là người đặt viên gạch nền móng cho nhân cách. Câu chuyện về chiếc xe ngựa của nhà vua khiến tôi đọc đi đọc lại đến ba lần. Một hành động hiếu nghĩa (mượn xe ngựa của vua về chịu tang mẹ) có thể bị nhìn nhận là “khi quân” nếu bị kẻ gian thêu dệt, nhưng cũng là tận trung tận hiếu nếu gặp bậc minh quân thấu hiểu. Lời dạy “Một việc thôi, người ta có thể suy diễn ra nhiều cách... Vào đời cũng vậy, con nhớ khắc ghi” là một lời cảnh tỉnh cho bất cứ ai. Trong môi trường đối ngoại, ranh giới giữa đúng và sai đôi khi mong manh như sợi chỉ, phụ thuộc vào góc nhìn và bối cảnh. Bài học ấy dạy tôi rằng, nhìn sự vật, hiện tượng không được nhìn hời hợt mà phải thấu suốt bản chất bên trong, phải có cái tâm sáng để không bị nhiễu loạn bởi những lời gièm pha hay xu nịnh.

Tôi ấn tượng mãi với câu dặn dò của người Cha trong bức thư gửi người con trai đang trong chiến trường: “Thắng phía trước, được phía sau. Vàng thau không lẫn lộn”. Giữa chiến trường ác liệt, giữa ranh giới sự sống và cái chết, hay sau này giữa chốn quan trường đầy cám dỗ, cái gì là Vàng, cái gì là Thau? Thời gian và thử thách chính là ngọn lửa để phân kim.

Theo bước chân của người thanh niên Phùng Khắc Đăng từ công trường Suối Hai, nhập ngũ vào tiểu đoàn trinh sát pháo binh, rồi mười năm ròng rã nơi chiến trường khói lửa, tôi thấy hiện lên không phải là một anh hùng “mình đồng da sắt” mà là một con người bằng xương bằng thịt, biết đau, biết thương đồng đội và từng đứng trước cửa tử trong một cơn sốt rét rừng... tất cả hiện lên chân thực, không tô vẽ. Điều khiến tôi nể phục không chỉ là năng lực chỉ huy hay sự sắc sảo trong tư duy lý luận, mà là sức bền bỉ của một người lính tin vào lý tưởng mình đã chọn.

Nhưng có lẽ, phần chạm đến trái tim tôi nhất, với tư cách là một cán bộ đang công tác tại Quân khu 1, chính là giai đoạn Thủ trưởng làm Phó Tư lệnh về Chính trị tại đây. Quân khu 1, phên dậu phía Bắc, nơi địa hình hiểm trở và đa phần là đồng bào dân tộc thiểu số. Một vị chỉ huy người Kinh, làm thế nào để “an dân, trấn ải”? Thủ trưởng đã chọn cách học tiếng Tày. Chi tiết này nhỏ thôi, nhưng nó nói lên tầm vóc của tư duy dân vận. Làm đối ngoại hay làm công tác chính trị, dân vận, cốt lõi là sự thấu hiểu. Không thể nói chuyện với đồng bào, không hiểu phong tục tập quán của họ thì làm sao nói cho họ tin, làm cho họ theo?

Không chỉ “đối nội” giỏi, qua cuộc trò chuyện ngắn ngủi với tôi hồi sáng và những trang hồi ký về hành trình đối thoại kênh 2 đấu tranh cho nạn nhân chất độc da cam, Thủ trưởng còn khai mở cho tôi những bài học vô giá về nghiệp vụ đối ngoại. Từ sự tận tâm can thiệp để bảo đảm quyền lợi cho một sĩ quan quốc tế từng học tập tại Việt Nam, đến câu trả lời khẳng khái nhắc nhở phía Mỹ về công lý” và “đạo lý” thay vì né tránh quá khứ, tôi đã vỡ vạc ra rằng đối ngoại đỉnh cao là “Ngoại giao tâm công”: Vừa giữ vững nguyên tắc và lòng tự tôn dân tộc, vừa phải có cái tâm đủ rộng và trí tuệ sắc sảo để thu phục nhân tâm bạn bè quốc tế.

Đọc đến đoạn Thủ trưởng phải xử lý kỷ luật một người đồng chí vướng vào bi kịch hôn nhân, tôi đã dừng lại rất lâu. Cách người Phó Tư lệnh về Chính trị ngày ấy giải quyết vấn đề lại khiến hậu thế phải suy ngẫm lại cách ứng xử giữa lý và tình. Ông chọn cách gặp gỡ, sẻ chia, vận động thấu tình đạt lý để người đồng chí ấy về nghỉ, giữ lại danh dự của một người lính. Và điều khiến tôi khâm phục hơn cả là câu chuyện sau khi người đồng chí kia đau ốm, nằm viện, Thủ trưởng Đăng vẫn tìm đến thăm. Câu kết luận của Thủ trưởng về trường đoạn đó nhẹ nhàng mà thấm thía: “Mọi thứ đều đã trở thành vô nghĩa, chỉ còn một thứ là còn ý nghĩa với ông…” Cái còn lại cuối cùng giữa những người lính với nhau là tình đồng chí, là sự bao dung cho những góc khuất số phận của con người. Đó chính là “Những điều còn lại” chăng?

Chẳng phải ngẫu nhiên mà đồng chí Trung tướng Đàm Văn Ngụy, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Tư lệnh Quân khu 1 lại dành cho Thủ trưởng Đăng sự tin tưởng tuyệt đối: “Đồng chí rất quan tâm đến biên ải, quan tâm đến con em người dân tộc, tôi về nghỉ cũng cảm thấy yên lòng”.

Gấp lại những trang viết về thời kỳ Thủ trưởng làm Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, về những đóng góp vĩ mô cho văn học nghệ thuật, báo chí quân đội, hay những ngày tháng nghỉ hưu vẫn miệt mài với Hội Cựu chiến binh, với cương vị Đại biểu Quốc hội tỉnh Sơn La, với dòng tộc họ Phùng, tôi thấy hiện lên một chân dung nhất quán. Dù ở vị trí nào, Thủ trưởng vẫn giữ đúng lời răn của Cha: “Chữ tâm phải sáng, chữ tình phải ngay”.

Bát cháo vợ nấu những đêm còn trăn trở bên bàn làm việc, lời động viên “em tin anh sẽ làm được” là những nốt trầm dịu dàng làm mềm lại sự cứng nhắc của đời binh nghiệp. Nó nhắc nhở thế hệ sĩ quan trẻ chúng tôi rằng: Phía sau sự thành công của người cán bộ quân đội, gia đình luôn là điểm tựa vững chãi nhất. Giữ được “gia phong”, giữ được “đạo hiếu” thì mới giữ được mình trước sóng gió cuộc đời.

Tôi, một sĩ quan trẻ sinh ra và lớn lên khi đất nước đã im tiếng súng, chưa từng nếm trải vị mặn chát của mồ hôi trộn máu nơi chiến trường, đọc cuốn hồi ký này như được uống một ngụm nước nguồn trong mát nhưng cũng đầy vị chát của rễ cây rừng. Thế hệ chúng tôi hôm nay có điều kiện tiếp cận tri thức, ngoại ngữ, công nghệ. Nhưng liệu chúng tôi có đủ cái “chất thép” như thế hệ cha anh? Liệu khi đối diện với những cám dỗ tinh vi của thời bình, thứ “giặc nội xâm” không tiếng súng, chúng tôi có đủ bản lĩnh để phân định “Vàng - Thau”?

Cuốn sách của Trung tướng Phùng Khắc Đăng không đưa ra câu trả lời trực tiếp, nhưng cuộc đời của Thủ trưởng chính là câu trả lời. Rằng bản lĩnh không tự nhiên sinh ra, nó được tôi luyện từ sự hiếu học, từ lòng biết ơn, từ sự dấn thân vào gian khổ và từ một trái tim biết yêu thương con người.

Lời kết của Thủ trưởng: “Về với đời thường tuy cũng còn nhiều điều trăn trở, nhưng tôi nghĩ mình là người hạnh phúc”. Hạnh phúc vì đã sống trọn vẹn. Hạnh phúc vì “Thắng phía trước, được phía sau”.

Cảm ơn Thủ trưởng, không chỉ vì cuốn sách quý, mà vì đã trao truyền cho lớp trẻ chúng tôi một ngọn lửa cháy âm ỉ và bền bỉ. Ngọn lửa ấy sẽ soi đường cho chúng tôi biết cách sống sao cho xứng đáng với màu áo mình đang mặc, biết “đối ngoại” bằng cái đầu lạnh và “đối nội” bằng một trái tim nóng hổi tình người.

Ngoài kia, sương mù mùa đông đặc quánh, trời vẫn tối đen như mực và cái rét ngọt tháng Chạp bắt đầu luồn qua khe cửa. Nhìn đồng hồ, tôi giật mình nhận ra tiếng kèn báo thức sắp điểm.

Vậy là đã gần một ngày trọn vẹn kể từ lúc tôi vinh dự gặp Thủ trưởng, và cũng là một đêm quên ngủ để sống cùng những trang hồi ký. Đôi mắt có chút cay cay, sống lưng mỏi nhừ vì ngồi lâu, nhưng tinh thần tôi lại tỉnh táo lạ thường. Trong cái lạnh buốt của rạng sáng mùa đông, lồng ngực tôi dường như có một ngọn lửa vừa được nhen lên, thôi thúc tôi viết ra những dòng này ngay lập tức.

Đặt cuốn sách lên kệ ở vị trí trang trọng nhất, tôi thầm hứa sẽ mang theo những bài học này trong ba lô hành trang của mình, trên con đường phụng sự Tổ quốc hãy còn rất dài và vinh quang phía trước.

Thái Nguyên, 05.10 ngày 09/01/2026

N.T.B

 

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nguyễn Trí Huân với vẻ đẹp tinh chất của Bất chợt mai vàng
Hôm gặp Nguyễn Trí Huân tại Lễ trao giải thưởng văn học nghệ thuật báo chí 5 năm (2020 - 2025) của Bộ Quốc phòng, tôi mừng lắm. Trước nhất là thấy anh không còn phải đội mũ để che một mái đầu trọc sau một thời gian phải dùng thuốc xạ trị căn bệnh hiểm nghèo. Hai là được biết cuốn Bất chợt mai vàng của anh là một trong ba tác phẩm được trao giải A lần này. Hôm ấy tôi đã nói với anh: “Thế là Huân có thể làm thủ tục để xét Giải thưởng Hồ Chí Minh được rồi đấy.” Anh Huân nắm tay tôi hồi lâu và cười rất tươi.
Xem thêm
Những câu thơ biết thức
Anh bạn cùng học ngành luật hẹn gặp, vui vẻ khoe vừa mới nghỉ hưu và đưa tôi tập thơ anh cũng kịp cho xuất bản. Nhìn qua đã thấy đẹp và trang nhã như cái tít của nó: Thái Hưng - ĐI QUA MÙA THU - Nxb Hội Nhà văn 2024. Tôi có cảm giác nhẹ nhàng, đây là tập thơ tình chăng?
Xem thêm
Chính Nguyễn Văn Mạnh đã tự làm sáng con đường dấn thân phụng sự văn nghiệp của mình
Bài viết của nhà thơ Phạm Trung Tín về tiểu thuyết Đường sáng
Xem thêm
Văn học mùa Giáng sinh
Khi Charles Dickens bắt đầu viết cuốn sách khiến tên tuổi của ông trở nên bất tử là lúc ông đang rơi vào khoảnh khắc bất hạnh và khó khăn nhất của cuộc đời mình. Ông mệt mỏi, lo lắng. Ông phải nuôi sống một gia đình lớn mà nợ nần ngày càng tăng và nỗi sợ về việc không thể tái tạo những thành công trong quá khứ. Những tiểu thuyết cuối cùng của ông đã không bán chạy như ông hy vọng. Độc giả dường như đang rời đi, bỏ rơi ông. Mà thời gian còn lại không nhiều.
Xem thêm
Cẩm nang nhỏ có giá trị để đi vào thế giới của sách
Khác với phần lớn các sách trước đó về phương pháp đọc sách hiệu quả còn nặng về hàn lâm, cuốn “ Đọc sách, điểm sách” của Nguyễn Ngọc Sơn là đóng góp kịp thời cho dòng sách này, dẫn dắt độc giả với những bước đi đầu tiên, từ đơn giản đến phức tạp.
Xem thêm
Phê bình như là tự truyện – Tiểu luận của Hoàng Đăng Khoa
Tín niệm phê bình văn học cũng là một dạng tự truyện rất gần với tinh thần của các phương pháp phê bình hiện đại như phê bình hiện tượng học, diễn ngôn học văn chương, hay mĩ học tiếp nhận – nơi chủ thể đọc/viết luôn hiện diện trong chính thao tác diễn giải văn bản. Dù vô tình hay hữu ý, mỗi bài phê bình đều là một “tấm gương một chiều” phản chiếu cái tôi nội cảm, cái chủ kiến, thiên kiến của người viết. Qua văn bản phê bình, người ta không chỉ thấy một hiện tượng văn học được phê bình, mà còn thấy cả một con người – đang thực hành sống, đọc, suy tư, tìm gặp tha nhân và bản thể.
Xem thêm
Đọc thơ của một luật sư
Tôi đã được đọc tập thơ đầu tay của Thái Hưng với cái tên rất thơ: ĐI QUA MÙA THU - Nxb Hội Nhà văn 2024; Rồi một số bài in chung trong tập: Bằng lăng tím lối Mễ Trì cùng với nhiều tác giả khác, lại đôi khi thấy thơ anh trên báo, chí, đậm nhất là tờ Thời báo Văn học nghệ thuật giới thiệu chân dung tác giả. Đọc qua, chợt có cảm nhận nhẹ nhàng, song ngẫm ngợi, thấy chất nhân tình thấm đẫm, cuốn hút. Chắc chắn phải là giọng của người đã từng đi qua nhiều mùa thu xao xác lá...
Xem thêm
Thơ là linh dược
Tôi nhận được tập thơ Cả những ngày đã quên của tác giả Trần thị Thuỳ Vy, sinh năm 1975, quê Duy Xuyên Quảng Nam. Tập thơ dày 115 trang, khổ 18x18, bìa cứng giấy đẹp, trình bày rất trang nhã, do Nhà XB Hội Nhà Văn ấn hành tháng 10 năm 2024. Cầm tập thơ lên tôi đọc đi đọc lại đôi lần, thấy hay hay, cái dễ nhận ra là tâm tư tình cảm của tác giả đã gởi trọn vào đây! Về quê hương về suy tư, về cuộc sống đã được tác giả biến hoá thành những con chữ có cánh bay xa, biết nói, biết giao tiếp với mọi người. Trong đó, sự cảm nhận rất mới với Thơ.
Xem thêm
Sắc thái Thời gian và cảm xúc Hoài niệm trong tập thơ Khi tâm hồn đầy nắng của Biện Tiến Hùng
Tập thơ Khi tâm hồn đầy nắng của Biện Tiến Hùng không chỉ là một tuyển tập gồm 107 bài thơ, mà còn là một tấm gương phản chiếu sinh động thế giới nội tâm phong phú và sâu lắng của thi sĩ. Bằng một giọng điệu trữ tình, chân thành và đượm màu ký ức, Biện Tiến Hùng đã khéo léo kiến tạo một không gian nghệ thuật nơi thiên nhiên, thời gian và con người hòa quyện vào nhau, tạo nên một bản giao hưởng cảm xúc đa tầng, một dòng chảy liên hồi của cảm xúc. Sức hấp dẫn của tập thơ nằm ở cách tác giả nhân hóa thời gian và biến hoài niệm thành chất liệu thi ca, qua đó không chỉ tái hiện một khung cảnh đã qua mà còn khơi gợi những nỗi niềm chung của độc giả về sự phù du của đời sống của kiếp người trong cõi nhân sinh.
Xem thêm
Cái “ngông” của Nguyễn Công Trứ
Thượng Uy Viễn – Nguyễn Công Trứ là một hiện tượng đặc biệt trong thời kỳ trung đại. Đời ông đầy giai thoại, mà giai thoại nào cũng cho thấy bản lĩnh sống, trí tuệ, triết lý nhân văn sâu sắc nhưng cũng rất hóm hỉnh, bình dân…
Xem thêm
Hơi thở cuộc sống trong thơ Nguyễn Kim Thanh
Trong hành trình sáng tạo của mỗi nhà văn đến với văn chương thì “ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học” để làm nên tác phẩm. Ngôn ngữ trong thơ (trữ tình), truyện (tự sự) và kịch (kịch bản văn học) đều có sự giống và khác nhau. Cùng với sự đam mê, năng khiếu, và “thiên phú” (trời cho) thì mỗi tác giả có sự thành công ở những thể loại khác nhau. Có người sáng tác thơ hay nhưng viết truyện lại dở và ngược lại có người viết truyện hay nhưng thơ thì không ra gì. Lại có người thành công ở nhiều thể loại: thơ, truyện, kịch, ký, lý luận phê bình. Nhà văn Nguyễn Kim Thanh là cây bút chuyên viết truyện ngắn, tiểu thuyết, tản văn, bút ký và đã xuất bản bốn tác phẩm văn xuôi. Nhưng nay chị lại “thử sức” sang thể loại thơ với tập thơ đầu tay “Giọt nước mắt thủy tinh” có 30 bài.
Xem thêm
Nỗi buồn chiến tranh - và cách nhìn về việc đổi mới dạy học văn trong nhà trường
Vừa qua, tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của nhà văn Bảo Ninh được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch vinh danh là một trong 50 tác phẩm tiêu biểu của văn học Việt Nam 50 năm qua đã tạo nên nhiều tranh luận trái chiều. Nhiều ý kiến cũng đã đặt ra vấn đề là có nên đưa tác phẩm này vào sách giáo khoa Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 hay không. Là những người đã từng học văn qua nhiều lần thay sách và là những người đang dạy môn văn nhiều năm trong nhà trường phổ thông, chúng tôi có một số suy nghĩ trong cách nhìn về việc đổi mới dạy học văn trong nhà trường về Nỗi buồn chiến tranh với tính chất là “những người trong cuộc”.
Xem thêm
Văn học đương đại Trung Quốc từ lăng kính các giải thưởng Hội Nhà văn (2015 - 2025)
Nhìn chung, hệ thống giải thưởng Hội Nhà văn Trung Quốc giai đoạn 2015 - 2025 đã làm nổi bật vai trò “điều hướng” và “chuẩn hóa” của mình trong việc thiết lập các tiêu chí thẩm mĩ, định hình phong cách sáng tác và thúc đẩy tương tác giữa văn học - học thuật - công chúng. Điều này cho thấy một mô hình văn học với định hướng chiến lược - kết hợp giữa nhu cầu nghệ thuật, định hướng chính sách và cơ chế truyền thông - đang ngày càng chiếm vị trí trung tâm trong đời sống văn hóa đương đại Trung Quốc.
Xem thêm
Chân dung tâm hồn của nhà thơ Nguyên Bình qua “Mật ngữ trắng đen”
“Mật ngữ trắng đen” (NXB Thuận Hóa, 2025) của nhà thơ Nguyên Bình, hội viên Hội Nhà văn TP.HCM, là một thế giới thi ca đầy suy tưởng, nơi ánh sáng và bóng tối, mộng mị và hiện thực, nỗi đau và niềm yêu thương luôn song hành, soi chiếu vào nhau. Tựa như cái tên Mật ngữ trắng đen, thơ Nguyên Bình gợi cảm giác về sự đối lập, nhưng không phải để phân định ranh giới thiện ác, buồn vui, mà để khai mở một cõi cảm xúc và nhận thức đa chiều về tình yêu, cuộc sống, con người. Ở mỗi bài thơ, tập thơ của anh đều ẩn chứa một lớp nghĩa nhân sinh sâu sắc.
Xem thêm
Quan điểm của Nguyễn Đình Chiểu đối với Phật giáo
Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) là một nhà Nho tuy đỗ đạt không cao nhưng cụ là một nhà Nho đức nghiệp, một con người trong ba tư cách: một nhà thơ, một thầy giáo và một thầy thuốc suốt đời vì dân vì nước.
Xem thêm
Thơ Nguyễn Bình Phương – Tiểu luận của Thiên Sơn
Việc làm thơ của Nguyễn Bình Phương như một sự bừng lóe của linh giác. Mỗi lần cầm bút viết là khám phá cái thế giới lạ lùng, huyền bí như thế giới của giấc mơ. Mà làm thơ, như anh, chính là đang theo đuổi những giấc mơ. Như bước vào một cảnh giới kỳ lạ, với cách nhìn, cảnh cảm và cách nghĩ khác, xa lạ với hầu hết mọi người.
Xem thêm
Văn học và dân tộc như một vấn đề học thuật
Kết nối ngôn ngữ, văn học với sự tồn tại một dân tộc đã là một thực hành phổ biến trong đời sống tri thức ở châu Âu từ nửa đầu thế kỉ XVIII. Một dân tộc là lí tưởng khi nó thống nhất tất cả những người nói cùng một ngôn ngữ trong một lãnh thổ chung, từ đó tạo thành một quốc gia - dân tộc. Văn học, với tư cách là hiện thân rõ ràng và lâu đời nhất của ngôn ngữ một dân tộc, có vai trò như là yếu tố ràng buộc và thống nhất. Nhà phê bình văn học Hoa Kì René Wellek viết: “Văn học vào thế kỉ XVIII bắt đầu được cảm thấy như là tài sản quốc gia, như là một sự thổ lộ tâm trí dân tộc, như là một phương tiện cho quá trình tự xác định của dân tộc”(1).
Xem thêm
Nhà văn Thomas Mann: Bậc thầy của mâu thuẫn
Xuất bản lần đầu vào năm 1924, Núi thần nhanh chóng trở thành cuốn sách bán chạy và được cho là tiểu thuyết tiếng Đức có ảnh hưởng bậc nhất thế kỉ 20. Nhưng ít ai biết nó được viết ra trong sự gián đoạn của chiến tranh và thay đổi của thời đại.
Xem thêm
“Những ngọn gió biên cương” - Khúc sử thi đi qua căn bếp có mùi nhang
Bài đăng trên Tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, số 12/2025.
Xem thêm
Ngọn gió chiều thổi qua “Nắng dậy thì”
Dòng thời gian sáng, trưa, chiều, tối đã chảy vào văn thơ bao thời theo cách riêng và theo cái nhìn của mỗi người cầm bút. Nguyễn Ngọc Hạnh đã thả cách nhìn về phía thời gian qua những sáng tác của ông. Thâm nhập vào không gian thơ trong Nắng dậy thì*, bạn đọc sẽ nhận thấy cảm thức thời gian của một thi sĩ ở tuổi đang chiều.
Xem thêm