TIN TỨC

Hồi ký Những điều còn lại: “Thắng phía trước, được phía sau”

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-01-13 10:10:43
mail facebook google pos stwis
770 lượt xem

NGUYỄN THÁI BÌNH

Nhân đọc hồi ký "Những điều còn lại" của Trung tướng Phùng Khắc Đăng

Không gian tĩnh mịch nơi đơn vị khiến tiếng lật giở từng trang sách dường như cũng rõ mồn một. Tôi vừa gấp lại trang cuối cùng của cuốn hồi ký “Những điều còn lại”. Ký ức về buổi sáng vinh dự được gặp, được chính tay Trung tướng Phùng Khắc Đăng, nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, nguyên Phó Tư lệnh về Chính trị Quân khu 1 ký tặng sách vẫn còn nguyên vẹn.

Nhưng cảm giác đọng lại trong tôi lúc này không đơn thuần là niềm vui của một sĩ quan trẻ được nhận quà từ Thủ trưởng mà là sự day dứt, là sự soi chiếu, và trên hết là sự kính trọng đối với một cây đại thụ đã bám rễ sâu vào lòng đất mẹ, trải qua bao bão tố để giữ trọn vẹn hai chữ “Con Người”.

Là một cán bộ làm công tác đối ngoại, cuốn sách này đã dạy cho tôi một bài học về “đối ngoại” và “đối nội” ở tầng bậc sâu sắc nhất: Đó là sự ứng xử giữa người với người, giữa cá nhân với tổ chức, và giữa lương tâm với thời cuộc.

Cuốn hồi ký bắt đầu bằng những lời ru. Tôi đã lặng người đi trước những dòng thơ Thủ trưởng viết về Mẹ.

Biết bao năm tháng nổi chìm

Mẹ tơi tả một cánh chim bộn bề.

Chỉ hai chữ “tơi tả” thôi mà sao nặng trĩu. Hình ảnh người mẹ tần tảo, làm gai, đan vó, chắt chiu nuôi con khôn lớn để rồi tiễn con đi biền biệt, là hình ảnh chung của hàng triệu bà mẹ Việt Nam. Nhưng cái cách Thủ trưởng nhắc về mẹ, về sự hụt hẫng khi “mẹ đi để lại một bầy con thơ”, khiến tôi nhận ra: Đằng sau tấm quân hàm Trung tướng uy nghiêm kia là một trái tim đa cảm, một tâm hồn được nuôi dưỡng từ mạch nguồn văn hóa truyền thống, từ Truyện Kiều, Tam Quốc mà người mẹ vẫn thường giao đọc. Chính cái gốc văn hóa ấy đã tạo nên một vị tướng vừa sắc sảo, vừa nhân văn sau này.

Nếu Mẹ là nguồn cội của tâm hồn, thì Cha chính là người đặt viên gạch nền móng cho nhân cách. Câu chuyện về chiếc xe ngựa của nhà vua khiến tôi đọc đi đọc lại đến ba lần. Một hành động hiếu nghĩa (mượn xe ngựa của vua về chịu tang mẹ) có thể bị nhìn nhận là “khi quân” nếu bị kẻ gian thêu dệt, nhưng cũng là tận trung tận hiếu nếu gặp bậc minh quân thấu hiểu. Lời dạy “Một việc thôi, người ta có thể suy diễn ra nhiều cách... Vào đời cũng vậy, con nhớ khắc ghi” là một lời cảnh tỉnh cho bất cứ ai. Trong môi trường đối ngoại, ranh giới giữa đúng và sai đôi khi mong manh như sợi chỉ, phụ thuộc vào góc nhìn và bối cảnh. Bài học ấy dạy tôi rằng, nhìn sự vật, hiện tượng không được nhìn hời hợt mà phải thấu suốt bản chất bên trong, phải có cái tâm sáng để không bị nhiễu loạn bởi những lời gièm pha hay xu nịnh.

Tôi ấn tượng mãi với câu dặn dò của người Cha trong bức thư gửi người con trai đang trong chiến trường: “Thắng phía trước, được phía sau. Vàng thau không lẫn lộn”. Giữa chiến trường ác liệt, giữa ranh giới sự sống và cái chết, hay sau này giữa chốn quan trường đầy cám dỗ, cái gì là Vàng, cái gì là Thau? Thời gian và thử thách chính là ngọn lửa để phân kim.

Theo bước chân của người thanh niên Phùng Khắc Đăng từ công trường Suối Hai, nhập ngũ vào tiểu đoàn trinh sát pháo binh, rồi mười năm ròng rã nơi chiến trường khói lửa, tôi thấy hiện lên không phải là một anh hùng “mình đồng da sắt” mà là một con người bằng xương bằng thịt, biết đau, biết thương đồng đội và từng đứng trước cửa tử trong một cơn sốt rét rừng... tất cả hiện lên chân thực, không tô vẽ. Điều khiến tôi nể phục không chỉ là năng lực chỉ huy hay sự sắc sảo trong tư duy lý luận, mà là sức bền bỉ của một người lính tin vào lý tưởng mình đã chọn.

Nhưng có lẽ, phần chạm đến trái tim tôi nhất, với tư cách là một cán bộ đang công tác tại Quân khu 1, chính là giai đoạn Thủ trưởng làm Phó Tư lệnh về Chính trị tại đây. Quân khu 1, phên dậu phía Bắc, nơi địa hình hiểm trở và đa phần là đồng bào dân tộc thiểu số. Một vị chỉ huy người Kinh, làm thế nào để “an dân, trấn ải”? Thủ trưởng đã chọn cách học tiếng Tày. Chi tiết này nhỏ thôi, nhưng nó nói lên tầm vóc của tư duy dân vận. Làm đối ngoại hay làm công tác chính trị, dân vận, cốt lõi là sự thấu hiểu. Không thể nói chuyện với đồng bào, không hiểu phong tục tập quán của họ thì làm sao nói cho họ tin, làm cho họ theo?

Không chỉ “đối nội” giỏi, qua cuộc trò chuyện ngắn ngủi với tôi hồi sáng và những trang hồi ký về hành trình đối thoại kênh 2 đấu tranh cho nạn nhân chất độc da cam, Thủ trưởng còn khai mở cho tôi những bài học vô giá về nghiệp vụ đối ngoại. Từ sự tận tâm can thiệp để bảo đảm quyền lợi cho một sĩ quan quốc tế từng học tập tại Việt Nam, đến câu trả lời khẳng khái nhắc nhở phía Mỹ về công lý” và “đạo lý” thay vì né tránh quá khứ, tôi đã vỡ vạc ra rằng đối ngoại đỉnh cao là “Ngoại giao tâm công”: Vừa giữ vững nguyên tắc và lòng tự tôn dân tộc, vừa phải có cái tâm đủ rộng và trí tuệ sắc sảo để thu phục nhân tâm bạn bè quốc tế.

Đọc đến đoạn Thủ trưởng phải xử lý kỷ luật một người đồng chí vướng vào bi kịch hôn nhân, tôi đã dừng lại rất lâu. Cách người Phó Tư lệnh về Chính trị ngày ấy giải quyết vấn đề lại khiến hậu thế phải suy ngẫm lại cách ứng xử giữa lý và tình. Ông chọn cách gặp gỡ, sẻ chia, vận động thấu tình đạt lý để người đồng chí ấy về nghỉ, giữ lại danh dự của một người lính. Và điều khiến tôi khâm phục hơn cả là câu chuyện sau khi người đồng chí kia đau ốm, nằm viện, Thủ trưởng Đăng vẫn tìm đến thăm. Câu kết luận của Thủ trưởng về trường đoạn đó nhẹ nhàng mà thấm thía: “Mọi thứ đều đã trở thành vô nghĩa, chỉ còn một thứ là còn ý nghĩa với ông…” Cái còn lại cuối cùng giữa những người lính với nhau là tình đồng chí, là sự bao dung cho những góc khuất số phận của con người. Đó chính là “Những điều còn lại” chăng?

Chẳng phải ngẫu nhiên mà đồng chí Trung tướng Đàm Văn Ngụy, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Tư lệnh Quân khu 1 lại dành cho Thủ trưởng Đăng sự tin tưởng tuyệt đối: “Đồng chí rất quan tâm đến biên ải, quan tâm đến con em người dân tộc, tôi về nghỉ cũng cảm thấy yên lòng”.

Gấp lại những trang viết về thời kỳ Thủ trưởng làm Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, về những đóng góp vĩ mô cho văn học nghệ thuật, báo chí quân đội, hay những ngày tháng nghỉ hưu vẫn miệt mài với Hội Cựu chiến binh, với cương vị Đại biểu Quốc hội tỉnh Sơn La, với dòng tộc họ Phùng, tôi thấy hiện lên một chân dung nhất quán. Dù ở vị trí nào, Thủ trưởng vẫn giữ đúng lời răn của Cha: “Chữ tâm phải sáng, chữ tình phải ngay”.

Bát cháo vợ nấu những đêm còn trăn trở bên bàn làm việc, lời động viên “em tin anh sẽ làm được” là những nốt trầm dịu dàng làm mềm lại sự cứng nhắc của đời binh nghiệp. Nó nhắc nhở thế hệ sĩ quan trẻ chúng tôi rằng: Phía sau sự thành công của người cán bộ quân đội, gia đình luôn là điểm tựa vững chãi nhất. Giữ được “gia phong”, giữ được “đạo hiếu” thì mới giữ được mình trước sóng gió cuộc đời.

Tôi, một sĩ quan trẻ sinh ra và lớn lên khi đất nước đã im tiếng súng, chưa từng nếm trải vị mặn chát của mồ hôi trộn máu nơi chiến trường, đọc cuốn hồi ký này như được uống một ngụm nước nguồn trong mát nhưng cũng đầy vị chát của rễ cây rừng. Thế hệ chúng tôi hôm nay có điều kiện tiếp cận tri thức, ngoại ngữ, công nghệ. Nhưng liệu chúng tôi có đủ cái “chất thép” như thế hệ cha anh? Liệu khi đối diện với những cám dỗ tinh vi của thời bình, thứ “giặc nội xâm” không tiếng súng, chúng tôi có đủ bản lĩnh để phân định “Vàng - Thau”?

Cuốn sách của Trung tướng Phùng Khắc Đăng không đưa ra câu trả lời trực tiếp, nhưng cuộc đời của Thủ trưởng chính là câu trả lời. Rằng bản lĩnh không tự nhiên sinh ra, nó được tôi luyện từ sự hiếu học, từ lòng biết ơn, từ sự dấn thân vào gian khổ và từ một trái tim biết yêu thương con người.

Lời kết của Thủ trưởng: “Về với đời thường tuy cũng còn nhiều điều trăn trở, nhưng tôi nghĩ mình là người hạnh phúc”. Hạnh phúc vì đã sống trọn vẹn. Hạnh phúc vì “Thắng phía trước, được phía sau”.

Cảm ơn Thủ trưởng, không chỉ vì cuốn sách quý, mà vì đã trao truyền cho lớp trẻ chúng tôi một ngọn lửa cháy âm ỉ và bền bỉ. Ngọn lửa ấy sẽ soi đường cho chúng tôi biết cách sống sao cho xứng đáng với màu áo mình đang mặc, biết “đối ngoại” bằng cái đầu lạnh và “đối nội” bằng một trái tim nóng hổi tình người.

Ngoài kia, sương mù mùa đông đặc quánh, trời vẫn tối đen như mực và cái rét ngọt tháng Chạp bắt đầu luồn qua khe cửa. Nhìn đồng hồ, tôi giật mình nhận ra tiếng kèn báo thức sắp điểm.

Vậy là đã gần một ngày trọn vẹn kể từ lúc tôi vinh dự gặp Thủ trưởng, và cũng là một đêm quên ngủ để sống cùng những trang hồi ký. Đôi mắt có chút cay cay, sống lưng mỏi nhừ vì ngồi lâu, nhưng tinh thần tôi lại tỉnh táo lạ thường. Trong cái lạnh buốt của rạng sáng mùa đông, lồng ngực tôi dường như có một ngọn lửa vừa được nhen lên, thôi thúc tôi viết ra những dòng này ngay lập tức.

Đặt cuốn sách lên kệ ở vị trí trang trọng nhất, tôi thầm hứa sẽ mang theo những bài học này trong ba lô hành trang của mình, trên con đường phụng sự Tổ quốc hãy còn rất dài và vinh quang phía trước.

Thái Nguyên, 05.10 ngày 09/01/2026

N.T.B

 

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm