TIN TỨC

Hồi ký Những điều còn lại: “Thắng phía trước, được phía sau”

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-01-13 10:10:43
mail facebook google pos stwis
520 lượt xem

NGUYỄN THÁI BÌNH

Nhân đọc hồi ký "Những điều còn lại" của Trung tướng Phùng Khắc Đăng

Không gian tĩnh mịch nơi đơn vị khiến tiếng lật giở từng trang sách dường như cũng rõ mồn một. Tôi vừa gấp lại trang cuối cùng của cuốn hồi ký “Những điều còn lại”. Ký ức về buổi sáng vinh dự được gặp, được chính tay Trung tướng Phùng Khắc Đăng, nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, nguyên Phó Tư lệnh về Chính trị Quân khu 1 ký tặng sách vẫn còn nguyên vẹn.

Nhưng cảm giác đọng lại trong tôi lúc này không đơn thuần là niềm vui của một sĩ quan trẻ được nhận quà từ Thủ trưởng mà là sự day dứt, là sự soi chiếu, và trên hết là sự kính trọng đối với một cây đại thụ đã bám rễ sâu vào lòng đất mẹ, trải qua bao bão tố để giữ trọn vẹn hai chữ “Con Người”.

Là một cán bộ làm công tác đối ngoại, cuốn sách này đã dạy cho tôi một bài học về “đối ngoại” và “đối nội” ở tầng bậc sâu sắc nhất: Đó là sự ứng xử giữa người với người, giữa cá nhân với tổ chức, và giữa lương tâm với thời cuộc.

Cuốn hồi ký bắt đầu bằng những lời ru. Tôi đã lặng người đi trước những dòng thơ Thủ trưởng viết về Mẹ.

Biết bao năm tháng nổi chìm

Mẹ tơi tả một cánh chim bộn bề.

Chỉ hai chữ “tơi tả” thôi mà sao nặng trĩu. Hình ảnh người mẹ tần tảo, làm gai, đan vó, chắt chiu nuôi con khôn lớn để rồi tiễn con đi biền biệt, là hình ảnh chung của hàng triệu bà mẹ Việt Nam. Nhưng cái cách Thủ trưởng nhắc về mẹ, về sự hụt hẫng khi “mẹ đi để lại một bầy con thơ”, khiến tôi nhận ra: Đằng sau tấm quân hàm Trung tướng uy nghiêm kia là một trái tim đa cảm, một tâm hồn được nuôi dưỡng từ mạch nguồn văn hóa truyền thống, từ Truyện Kiều, Tam Quốc mà người mẹ vẫn thường giao đọc. Chính cái gốc văn hóa ấy đã tạo nên một vị tướng vừa sắc sảo, vừa nhân văn sau này.

Nếu Mẹ là nguồn cội của tâm hồn, thì Cha chính là người đặt viên gạch nền móng cho nhân cách. Câu chuyện về chiếc xe ngựa của nhà vua khiến tôi đọc đi đọc lại đến ba lần. Một hành động hiếu nghĩa (mượn xe ngựa của vua về chịu tang mẹ) có thể bị nhìn nhận là “khi quân” nếu bị kẻ gian thêu dệt, nhưng cũng là tận trung tận hiếu nếu gặp bậc minh quân thấu hiểu. Lời dạy “Một việc thôi, người ta có thể suy diễn ra nhiều cách... Vào đời cũng vậy, con nhớ khắc ghi” là một lời cảnh tỉnh cho bất cứ ai. Trong môi trường đối ngoại, ranh giới giữa đúng và sai đôi khi mong manh như sợi chỉ, phụ thuộc vào góc nhìn và bối cảnh. Bài học ấy dạy tôi rằng, nhìn sự vật, hiện tượng không được nhìn hời hợt mà phải thấu suốt bản chất bên trong, phải có cái tâm sáng để không bị nhiễu loạn bởi những lời gièm pha hay xu nịnh.

Tôi ấn tượng mãi với câu dặn dò của người Cha trong bức thư gửi người con trai đang trong chiến trường: “Thắng phía trước, được phía sau. Vàng thau không lẫn lộn”. Giữa chiến trường ác liệt, giữa ranh giới sự sống và cái chết, hay sau này giữa chốn quan trường đầy cám dỗ, cái gì là Vàng, cái gì là Thau? Thời gian và thử thách chính là ngọn lửa để phân kim.

Theo bước chân của người thanh niên Phùng Khắc Đăng từ công trường Suối Hai, nhập ngũ vào tiểu đoàn trinh sát pháo binh, rồi mười năm ròng rã nơi chiến trường khói lửa, tôi thấy hiện lên không phải là một anh hùng “mình đồng da sắt” mà là một con người bằng xương bằng thịt, biết đau, biết thương đồng đội và từng đứng trước cửa tử trong một cơn sốt rét rừng... tất cả hiện lên chân thực, không tô vẽ. Điều khiến tôi nể phục không chỉ là năng lực chỉ huy hay sự sắc sảo trong tư duy lý luận, mà là sức bền bỉ của một người lính tin vào lý tưởng mình đã chọn.

Nhưng có lẽ, phần chạm đến trái tim tôi nhất, với tư cách là một cán bộ đang công tác tại Quân khu 1, chính là giai đoạn Thủ trưởng làm Phó Tư lệnh về Chính trị tại đây. Quân khu 1, phên dậu phía Bắc, nơi địa hình hiểm trở và đa phần là đồng bào dân tộc thiểu số. Một vị chỉ huy người Kinh, làm thế nào để “an dân, trấn ải”? Thủ trưởng đã chọn cách học tiếng Tày. Chi tiết này nhỏ thôi, nhưng nó nói lên tầm vóc của tư duy dân vận. Làm đối ngoại hay làm công tác chính trị, dân vận, cốt lõi là sự thấu hiểu. Không thể nói chuyện với đồng bào, không hiểu phong tục tập quán của họ thì làm sao nói cho họ tin, làm cho họ theo?

Không chỉ “đối nội” giỏi, qua cuộc trò chuyện ngắn ngủi với tôi hồi sáng và những trang hồi ký về hành trình đối thoại kênh 2 đấu tranh cho nạn nhân chất độc da cam, Thủ trưởng còn khai mở cho tôi những bài học vô giá về nghiệp vụ đối ngoại. Từ sự tận tâm can thiệp để bảo đảm quyền lợi cho một sĩ quan quốc tế từng học tập tại Việt Nam, đến câu trả lời khẳng khái nhắc nhở phía Mỹ về công lý” và “đạo lý” thay vì né tránh quá khứ, tôi đã vỡ vạc ra rằng đối ngoại đỉnh cao là “Ngoại giao tâm công”: Vừa giữ vững nguyên tắc và lòng tự tôn dân tộc, vừa phải có cái tâm đủ rộng và trí tuệ sắc sảo để thu phục nhân tâm bạn bè quốc tế.

Đọc đến đoạn Thủ trưởng phải xử lý kỷ luật một người đồng chí vướng vào bi kịch hôn nhân, tôi đã dừng lại rất lâu. Cách người Phó Tư lệnh về Chính trị ngày ấy giải quyết vấn đề lại khiến hậu thế phải suy ngẫm lại cách ứng xử giữa lý và tình. Ông chọn cách gặp gỡ, sẻ chia, vận động thấu tình đạt lý để người đồng chí ấy về nghỉ, giữ lại danh dự của một người lính. Và điều khiến tôi khâm phục hơn cả là câu chuyện sau khi người đồng chí kia đau ốm, nằm viện, Thủ trưởng Đăng vẫn tìm đến thăm. Câu kết luận của Thủ trưởng về trường đoạn đó nhẹ nhàng mà thấm thía: “Mọi thứ đều đã trở thành vô nghĩa, chỉ còn một thứ là còn ý nghĩa với ông…” Cái còn lại cuối cùng giữa những người lính với nhau là tình đồng chí, là sự bao dung cho những góc khuất số phận của con người. Đó chính là “Những điều còn lại” chăng?

Chẳng phải ngẫu nhiên mà đồng chí Trung tướng Đàm Văn Ngụy, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Tư lệnh Quân khu 1 lại dành cho Thủ trưởng Đăng sự tin tưởng tuyệt đối: “Đồng chí rất quan tâm đến biên ải, quan tâm đến con em người dân tộc, tôi về nghỉ cũng cảm thấy yên lòng”.

Gấp lại những trang viết về thời kỳ Thủ trưởng làm Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, về những đóng góp vĩ mô cho văn học nghệ thuật, báo chí quân đội, hay những ngày tháng nghỉ hưu vẫn miệt mài với Hội Cựu chiến binh, với cương vị Đại biểu Quốc hội tỉnh Sơn La, với dòng tộc họ Phùng, tôi thấy hiện lên một chân dung nhất quán. Dù ở vị trí nào, Thủ trưởng vẫn giữ đúng lời răn của Cha: “Chữ tâm phải sáng, chữ tình phải ngay”.

Bát cháo vợ nấu những đêm còn trăn trở bên bàn làm việc, lời động viên “em tin anh sẽ làm được” là những nốt trầm dịu dàng làm mềm lại sự cứng nhắc của đời binh nghiệp. Nó nhắc nhở thế hệ sĩ quan trẻ chúng tôi rằng: Phía sau sự thành công của người cán bộ quân đội, gia đình luôn là điểm tựa vững chãi nhất. Giữ được “gia phong”, giữ được “đạo hiếu” thì mới giữ được mình trước sóng gió cuộc đời.

Tôi, một sĩ quan trẻ sinh ra và lớn lên khi đất nước đã im tiếng súng, chưa từng nếm trải vị mặn chát của mồ hôi trộn máu nơi chiến trường, đọc cuốn hồi ký này như được uống một ngụm nước nguồn trong mát nhưng cũng đầy vị chát của rễ cây rừng. Thế hệ chúng tôi hôm nay có điều kiện tiếp cận tri thức, ngoại ngữ, công nghệ. Nhưng liệu chúng tôi có đủ cái “chất thép” như thế hệ cha anh? Liệu khi đối diện với những cám dỗ tinh vi của thời bình, thứ “giặc nội xâm” không tiếng súng, chúng tôi có đủ bản lĩnh để phân định “Vàng - Thau”?

Cuốn sách của Trung tướng Phùng Khắc Đăng không đưa ra câu trả lời trực tiếp, nhưng cuộc đời của Thủ trưởng chính là câu trả lời. Rằng bản lĩnh không tự nhiên sinh ra, nó được tôi luyện từ sự hiếu học, từ lòng biết ơn, từ sự dấn thân vào gian khổ và từ một trái tim biết yêu thương con người.

Lời kết của Thủ trưởng: “Về với đời thường tuy cũng còn nhiều điều trăn trở, nhưng tôi nghĩ mình là người hạnh phúc”. Hạnh phúc vì đã sống trọn vẹn. Hạnh phúc vì “Thắng phía trước, được phía sau”.

Cảm ơn Thủ trưởng, không chỉ vì cuốn sách quý, mà vì đã trao truyền cho lớp trẻ chúng tôi một ngọn lửa cháy âm ỉ và bền bỉ. Ngọn lửa ấy sẽ soi đường cho chúng tôi biết cách sống sao cho xứng đáng với màu áo mình đang mặc, biết “đối ngoại” bằng cái đầu lạnh và “đối nội” bằng một trái tim nóng hổi tình người.

Ngoài kia, sương mù mùa đông đặc quánh, trời vẫn tối đen như mực và cái rét ngọt tháng Chạp bắt đầu luồn qua khe cửa. Nhìn đồng hồ, tôi giật mình nhận ra tiếng kèn báo thức sắp điểm.

Vậy là đã gần một ngày trọn vẹn kể từ lúc tôi vinh dự gặp Thủ trưởng, và cũng là một đêm quên ngủ để sống cùng những trang hồi ký. Đôi mắt có chút cay cay, sống lưng mỏi nhừ vì ngồi lâu, nhưng tinh thần tôi lại tỉnh táo lạ thường. Trong cái lạnh buốt của rạng sáng mùa đông, lồng ngực tôi dường như có một ngọn lửa vừa được nhen lên, thôi thúc tôi viết ra những dòng này ngay lập tức.

Đặt cuốn sách lên kệ ở vị trí trang trọng nhất, tôi thầm hứa sẽ mang theo những bài học này trong ba lô hành trang của mình, trên con đường phụng sự Tổ quốc hãy còn rất dài và vinh quang phía trước.

Thái Nguyên, 05.10 ngày 09/01/2026

N.T.B

 

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm