TIN TỨC

Đọc tập thơ ‘Mùa thu nắng khóc’ của Phạm Đức Mạnh

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-06-21 14:08:54
mail facebook google pos stwis
2327 lượt xem

Châu Thạch

 Nhà thơ Phạm Đức Mạnh quê quán Xuân Trường, Nam Định, là một nhà thơ được ái mộ trên văn thi đàn, đã xuất bản 8 tập thơ.

Nhà thơ Phạm Đức Mạnh và tập thơ “Mùa Thu Nắng Khóc”

“Mùa thu nắng khóc” là một tựa đề hơi khó hiểu, bởi vì một năm nắng có 4 mùa, nắng mùa xuân thì tươi hồng, nắng mùa hè thì chói chang, nắng mùa thu dịu mát, chỉ có nắng mùa đông mới có thể gọi là nắng khóc vì bầu trời thiếu nắng, âm u. Vậy để hiểu vì sao tác giả lấy tựa đề tập thơ là “Mùa thu nắng khóc” thì ta phải đọc qua bài thơ “Mùa thu nắng khóc” in trong tập thơ này, bài thứ 40 trang 62:

Nâng niu làn gió

Hái đóa hương đồng

Cài lên mộ Mẹ

Thơm trời mênh mông

Mẹ nằm trong nhớ

Trái tim tình làng

Mùa thu nắng khóc

Thương chiều lang thang

Con xa quê mãi

Đời cũng bạc rồi

Đường trần nghiệt ngã

Đắng hồn mồ côi…

Cầm tập thơ trên tay, ở trang đầu, hàng chữ “Kính dâng Mẹ Cha tuyển thơ này: MÙA THU NẮNG KHÓC – Con trai Phạm Đức Mạnh” đã cho tôi một cảm mến tự nhiên đến trong tâm hồn. Đọc bài thơ “Mùa Thu Nắng Khóc” lòng tôi thêm ngập tràn cảm xúc, bởi nhà thơ đã hư cấu tiếng khóc của ánh nắng mùa thu để gởi nỗi nhớ Mẹ của mình vào đó. Hôm qua tôi viết về bài “Màu Của Gió” thơ Như Không, hôm nay tôi viết về bài “Múa Thu Nắng Khóc” của Phạm Đức Mạnh, cả hai cụm từ đều khó hiểu nhưng đều đem dến cho tâm hồn tôi sự thăng hoa của một người thấy được ý thơ sâu xa bằng trực giác cúa mình.

Bài thơ “Mùa Thu Nắng Khóc” chỉ có 3 khổ thơ nhỏ mọn, nhưng chỉ ngay ở khổ thơ đầu ta đã thấy mộ Mẹ nằm trên cánh đồng trăng thanh gió mát về đêm, hoa thơm cỏ lạ về ngày và bầu trời mênh mông vô tận như tình yêu của mẹ đã từng gởi cho đời: “Nâng niu làn gió/Hái đóa hương đồng/Cài lên mộ Mẹ/Thơm trời mênh mông”.

Rồi thi khổ thơ thứ hai “Mẹ nằm trong nhớ/ trái tim tình làng/Mùa thu nắng khóc/ thương chiều lang thang” cho ta nhận biết trái tim của Mẹ là trái tim nhân hậu mang đầy đủ hồn quê mộc mạc, hy sinh và yêu thương vô tận. “Mẹ nằm trong nhớ” không phải là mẹ nhớ mà là con nhớ mẹ, người thân nhớ mẹ, xóm làng nhớ mẹ, ngôi nhà thân yêu nhớ mẹ, mãnh vườn, lũy tre nhớ mẹ, cho đến “Mùa Thu Nắng Khóc” nghĩa là mùa thu cũng nhớ mẹ nên ánh nắng buồn như muốn khóc. Mùa thu thì nắng đẹp, cho nên mùa thu nắng có khóc thì cũng khóc dịu dàng êm ái như giọt lệ mỹ nhân. Bởi vậy tác giả cho nắng mùa thu khóc để thơ đầy thi vị của hương, của hoa và của gió trời.

Khổ thơ thứ 3 là lời tạ lỗi với mẹ của tác giả, người con ở xa ngàn dặm, đã từng như Trần Trung Đạo “Mười năm tóc mẹ màu tang trắng/ Trắng cả lòng con lúc nghĩ về” để rồi muốn “Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười” mà nào đâu đổi được! Nhà thơ Trần Trung Đao hạnh phúc hơn, còn nghe được tiếng mẹ để thốt lên “Tiếng ai như tiếng lá thu rơi”, còn nhà thơ Phạm Đức Mạnh thì xót xa hơn: “Con xa quê mãi/Đời cũng bạc rồi/Đường trần nghiệt ngã/Đắng hồn mồ côi…” nghĩa là chẳng bao giờ còn được nghe “Tiếng ai như tiếng lá thu rơi” như Trần Trung Đạo nứa.

“Mùa Thu Nắng Khóc”, môt bài thơ mang linh hồn của cả tập thơ, và cả tập thơ mở rộng chủ đề của “Mùa Thu Nắng Khóc”. Tập thơ gồm có 102 bài thơ trong đó nhiều bài thơ mang biết bao nỗi niềm, với biết bao tiếng nấc yêu quê hương, thương cha và nhớ mẹ.

Ta hãy đọc một khổ thơ nỗi niềm:

Nghẹn ngào uống cả thu say

Gạn từ cơn khát tháng ngày chờ mong

Nghiêng nghiêng trở giấc mơ hồng

Một thời vùng vẫy gãy dòng sông tương

(Nỗi Niềm)

Ta hãy đọc thêm một nỗi lo của tác giả, một nỗi lo làm cho trống rỗng cả không gian:

Nếu một mai mẹ đi… đi… đi mãi

Hoa hồng đổi màu, bông nào cho mẹ bao dung

Thế gian với con là khoảng trồn vô cùng…

(Nếu Mai Không Còn Mẹ)

Rồi ta hãy đọc không phải chỉ nắng khóc vì nhớ mẹ, mà cho đến thơ cũng đã dành nhà thơ để khóc:

Đêm đêm tôi ngồi nhớ mẹ

Tiếng lòng ướp ngọt sông quê

Sắc hương ngát thơm kỷ niệm

Lời ru dắt lối say về

Cầu làng thôi buồn hóa đá

Chuông tâm chùa lại ngân vang

Mùa chay hương sen thiền tịnh

Nam mô Phật đãi cả làng

Về quê ùa lên nhà mẹ

Lặng ngồi tước lệ sầu cay

Bốn mùa miên man gió hát

Cha cười gảy nhớ vàng bay

(Câu Thơ Dành Khóc)

Tôi nghĩ không cần viết chi thêm gì nữa, vì chỉ hai bài thơ “Mùa Thu Nắng Khóc” và “Câu Thơ Dành Khóc” đã làm toát yếu được cho cả tập thơ. Cả tập thơ là tiếng thổn thức của người con lìa quê hương dài năm tháng. Tiếng thơ là tiếng khóc không u uất, không tràn lan giọt lệ, mà như tiếng nước mây đồng vọng, mà như tiếng gió trong nắng mùa thu. “Mùa Thu Nắng Khóc” có tiếng thơ như “tiếng lòng ướp ngọt sông quê”, như “Bốn mùa miên man gió hát”, để cho người đi xa nhớ “Sắc hương ngát thơ kỷ niệm” mà theo “Lời ru dắt lối say về”. Hãy đọc “Mùa Thu Nắng Khóc” của Phạm Đức Mạnh vì đó là “Lời ru dắt lối ta về” với song thân ta, với quê hương ta và với muôn vàn kỷ niệm mà ta nhớ ta thương.

C.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm