TIN TỨC

Lửa và Nước trong một bài thơ tình lạ và hay

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-10-07 16:36:40
mail facebook google pos stwis
2485 lượt xem

PGS -TS NGUYỄN ĐỨC HẠNH


Trong chùm thơ 7 bài của Như Bình đăng trên “Viết và Đọc” chuyên đề mùa Hạ có 4 bài về tình yêu đôi lứa, 3 bài về chủ đề khác. Trong 4 bài về chủ đề tình yêu ấy “Ảo giác” ; “Trầm cảm 1” ; “Con thú”; “Viết về cái chết” thì bài thơ “Ảo giác” có sức mạnh ám gợi lạ lùng.

 

ẢO GIÁC

                           (Như Bình)

Anh sẽ nhớ em nhiều đấy
căn phòng ấy sáng nay gió lùa trở lạnh
tiếng ghế gỗ, tiếng mọt kiên trì kêu trong im lặng
ngoài kia sương giá rơi rồi.

Nỗi nhớ sẽ giày vò anh nhiều đấy
trong bủa vây mùi em trên từng nốt rêu ẩm mốc
cốc trà nguội dấu môi em còn ướt
ai hôn lên bóng em.

Ai gói giùm anh hương em
sợi tóc em hôm qua rụng ngời trên ghế
anh sẽ nhớ em nhiều lắm
khi mùa đông lạnh giá đang về.

Anh sẽ nhớ em nhiều đấy
mùa đã qua
những chiếc lá rụng bên thềm xóa bước chân em rất khẽ
nhấn chìm anh những khắc khoải vừa xa

Chúng ta đã tìm nhau, đã rời nhau, đã vắng xa nhau
chúng ta đã hôn lên nỗi cô đơn của nhau
để giờ đây
trong căn phòng chật đầy hương em
anh ngồi ăn kỉ niệm.

 


Nhà văn Như Bình.

Trong chùm thơ 7 bài của Như Bình đăng trên “Viết và Đọc” chuyên đề mùa Hạ có 4 bài về tình yêu đôi lứa, 3 bài về chủ đề khác. Trong 4 bài về chủ đề tình yêu ấy “Ảo giác” ; “Trầm cảm 1” ; “Con thú”; “Viết về cái chết” thì bài thơ “Ảo giác” có sức mạnh ám gợi lạ lùng. Ba bài thơ còn lại đều lạ và hay nhưng “Ảo giác” lạ lùng nhất, như một cuốn phim quay chậm, nhân vật Em trở về ngắm nhìn nhân vật Anh trong một không gian kì lạ. Cô ta độc thoại chậm, lạnh như nước mùa đông trôi trong suối, nhưng thực ra là đối thoại một phía - nói với Anh mà Anh nào có hay?

Dưới dòng suối mùa đông kia có một ngọn núi lửa phun ngầm - có lửa tình yêu cháy trong nước lạnh. Một cách viết lạ ít gặp trong thơ nữ Việt Nam đương đại: Không gào thét kêu đau và nhớ; Không cuống quýt sôi sục yêu và thương... Sao trong giọng điệu lạnh, điểm nhìn nghệ thuật di chuyển chậm, hệ thống thi ảnh trầm mặc, ít sử dụng những tính từ diễn tả cường độ mạnh, mà khi những câu thơ vang lên, chúng ta vẫn cảm nhận được một dòng thác bị “giam cầm" trong câu chữ.

Năm khổ thơ có bốn câu hỏi được điệp lại: “anh sẽ nhớ em nhiều đấy/ anh sẽ nhớ em nhiều lắm …”.

Hình như môtip “Người xuyên không” được sử dụng ở đây!? Hay thủ pháp dịch chuyển điểm nhìn trong không gian đồng hiện của Điện ảnh?! Nhân vật em như trở về một cách vô hình, vô ảnh, một cách siêu thực khi đứng ngoài không gian yêu thương của hai ta mà đăm đắm nhìn vào, mà đăm đắm độc thoại. Rồi bốn lần độc thoại “anh sẽ nhớ em nhiều đấy /lắm!”. Mà làm sao anh có thể không nhớ khi có bao tín hiệu thẩm mĩ thay mặt em hiện diện bên anh, như lướt qua, như hiển diện, cựa quậy, nói thầm, nhắc nhớ anh về em: “mùi em trên từng nốt rêu ẩm mốc”; “dấu môi em còn ướt”; “ai hôn lên bóng em”; “sợi tóc em hôm qua rụng ngời trên ghế”; “lá xóa dấu chân em rất khẽ…”. Tất cả thay em hiện diện trong căn phòng của anh, trước anh và cất tiếng với anh bằng tiếng nói vô thanh.

Đó là một thủ pháp độc lạ, rất lạ của Như Bình, chị làm người đọc ám thị, nổi da gà, ám ảnh bởi tiếng thổn thức của tình yêu vẫn ở lại, đập khắc khoải trong căn phòng, quấn quýt lấy người đàn ông mình yêu, nhưng hồn vẫn còn đó là thân đã phách lạc, cái thân xác cụ thể hiện thực đã không còn hiển diện nơi đây. Một không gian vắng Em mà vẫn đầy Em, vương mùi em, hương em, và tiếng nói vô thanh của em. Rồi yếu tố ngoại cảnh như gió thổi, than hồng càng thổi bùng nỗi nhớ trong anh mấy lần bùng cháy: “ngoài kia sương giá rơi rồi”; “mùa đông lạnh giá đang về”; “gió lùa trở lạnh…”. Như Bình lạnh, thản nhiên, điềm tĩnh quan sát hồn chị trong những thi ảnh vương vất nơi chị vừa ra đi, hoặc chị đã bỏ đi và chắc chắn một điều người ở lại sẽ không yên ổn dù chị đã xa ngái.
 

Không có một bản năng thi sĩ mãnh liệt kết hợp cùng Thiên tính Nữ, sẽ không viết được bốn câu thơ này:

Mùa đã qua
những chiếc lá rụng bên thềm xóa bước chân em rất khẽ
cầu thang cũ ngoài kia run lên rất nhẹ
nhấn chìm anh những khắc khoải vừa xa

“Thi trung hữu hoạ”. Thơ Như Bình luôn thế, chị vẽ bằng ngôn từ cả cái hữu hình và vô hình của thế giới, của lòng người. Trong bốn câu thơ trên, sợi tóc em vừa ngời sáng như làm bằng tia nắng trên ghế hôm qua, vậy mà chỉ cần em bước ra khỏi phòng, “Mùa đã qua”! Chao ôi! Bước chuyển của thời gian nghệ thuật: ở trong phòng và bước ra ngoài đã là hai thế giới CÓ ANH và KHÔNG ANH, ấm áp và lạnh lẽo khác nhau đến chừng nào?!

Chả thế mà “những chiếc lá rụng xóa bước chân em rất khẽ”. Anh có nghe thấy “Cầu thang cũ ngoài kia run lên rất nhẹ”?. Hỏi người cũng là hỏi mình. Tôi là người bình thơ cũng cùng cầu thang cũ run lên trong khoảnh khắc chia biệt. Càng nói thầm nhẹ bao nhiêu càng sâu xoáy bấy nhiêu. Khi cảm xúc tình cảm còn ở mức dịu nhẹ thì hay tìm đến ngôn từ ồn ào to tát để bù vào sự nhạt, và ngược lại. Tôi như đã nếm được độ mặn chát đến tột cùng của những câu thơ “ngoài đạm trong nồng” như người xưa từng nói.


Bến sông trăng - Tranh Như Bình.

Đến khổ thơ thứ 5, người đọc giật mình thêm một lần nữa:- câu thơ thứ nhất cắt nhịp 5/3/4, đánh dấu ba khúc đoạn trong đoạn đường đã chạy quanh kỉ niệm bằng 3 động từ TÌM - RỜI - VẮNG. Chỉ một câu thơ đã vẽ lên những bước chạy thập thõm, hơi thở gấp, lời độc thoại cũng đứt làm ba khúc. Lần đầu tiên từ “Chúng ta” xuất hiện trong bài thơ mà đến mấy lần bị chia cắt: “đã tìm nhau”, “đã rời nhau”, “đã vắng xa nhau”. Nụ hôn xuất hiện ở câu 2 tưởng như môt sự bù đắp sau bao chia li? Không! Đó là nụ hôn lạ và đau nhất trong các bài thơ tình tôi từng đọc, của Việt Nam và của thế giới: “chúng ta đã hôn lên nỗi cô đơn của nhau”…. Chỉ một từ “đã” mà dĩ vãng dằng dặc tìm về. Chắc chắn có cả ngọt ngào và chua xót.

Mơ rồi phải tỉnh. Em trở về hiện tại, lặng ngắm nhìn một hình ảnh lạ và buồn bã vô cùng:

Trong căn phòng chật đầy hương em
Anh ngồi ăn kỉ niệm.

Kĩ thuật của hội hoạ, của điện ảnh hòa quyện để khắc họa hai nhân vật trữ tình Em và Anh trong đối thoại một phía của em, trong dòng chảy thời gian thay đổi, chồng lấp, đồng hiện qua một không gian: “căn phòng chật đầy hương em”. Động tác “ăn kỉ niệm” của nhân vật Anh khiến người đọc giật mình nhưng cũng khiến cho nỗi buồn ngời sáng lạc quan. Anh không dửng dưng vô tình thì buồn xa cách không bao giờ chuyển thành tuyệt vọng. Anh vẫn “ăn” hương em, kỷ niệm của em như một món ăn tinh thần không thể thiếu để sống tiếp, để đi qua những chông chênh của cõi lòng. Người truyền thống có thể sẽ phản đối chị dùng động từ “ăn kỷ niệm”, nghe nó thô quá chăng? Tôi lại thấy Như Bình sâu sắc. Chị có chủ ý khi chắt lọc ngôn ngữ mạnh, đa nghĩa để đặt đúng chỗ. “Ăn” đau đớn và sâu hơn nhiều, phồn thực hơn nhiều so với hít, ngửi, nhớ. Ăn kỷ niệm đau sâu và đa nghĩa hơn vạn lần “anh ngồi nhớ thương kỷ niệm”.

Thơ Như Bình luôn thế, không bi quan gục ngã, một sức mạnh tinh thần luôn nâng đỡ để thi sĩ vượt lên thử thách, mỉm cười khi trái tim đang chảy máu.

Có lửa cháy ngầm trong nước lạnh và trong. Có hồi quang kỉ niệm trong "Ảo giác". Thành thực và trong veo đến tột cùng trong nội dung. Mới và đẹp cũng đến tột cùng trong hình thức biểu đạt nghệ thuật. Viết cho mình mà đâu còn riêng mình bởi tôi tin khi đọc bài thơ này, có biết bao người phụ nữ tìm thấy cuộc đời và tâm trạng mình trong đó. Đấy là thơ của Như Bình!

Nguồn:

Bài viết liên quan

Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Trần Hạ Vi và hành trình nỗi nhớ
Phiến hạ là tập thơ thứ 3 của Trần Hạ Vi. Là người quan tâm đến đời sống văn học, tác giả và tác phẩm, nên trong những người Việt sống và viết ở hải ngoại, tôi khá quan tâm đến các tác giả như Trương Anh Tú (Đức), Võ Thị Như Mai (Úc) và Trần Hạ Vi (Canada). Vì thế, tôi tìm đọc Phiến hạ.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm