TIN TỨC

Một chút tâm sự khi đọc thơ Nguyễn Tuyển

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-08-24 23:43:54
mail facebook google pos stwis
2775 lượt xem

Đặng Xuân Xuyến

 Tôi đọc thơ Nguyễn Tuyển không nhiều, cũng không thường xuyên nên hiểu về thơ của Nguyễn Tuyển không được sâu nhưng có lẽ Cha Mẹ và Quê Hương là mảng đề tài chiếm dung lượng khá lớn trong thơ anh thì phải.


Nhà thơ Nguyễn Tuyển

Cũng là nhớ về đấng sinh thành nhưng với nhà thơ Nguyễn Tuyển (trong “Ngỡ”) thì khác, anh hạnh phúc hơn khi còn bố còn mẹ nên nỗi nhớ cũng nhẹ nhàng hơn và ít nước mắt hơn so với nỗi nhớ của những ai không còn bố, không còn mẹ. Cho dù trong anh có quắt quay nhớ đấng sinh thành thì cũng chỉ ở mức rưng rưng ngấn lệ, nhưng vẫn còn đầy ắp hạnh phúc của sự chờ đợi được cha mẹ chằm bặp, yêu thương:

“Tôi mơ mùi thơm gạo mới

Nồng nàn vị mặn đất quê

Tôi mơ những chiều mẹ đợi

Bố lên nương rẫy chưa về”

(Ngỡ)

Hay những câu thơ thấm đẫm sự nhớ thương, lòng biết ơn và niềm tự hào về đấng sinh thành của người con khi phiêu bạt xa xứ:

– “Nhớ khói lam chiều quyện mái nhà tranh

Mùi cơm mới thơm nồng mồ hôi mẹ

Cha gánh hoàng hôn bước về lặng lẽ

Phía triền đê lúa trở dạ ngậm đòng”

(Thương nhớ quê nhà)

– “Mẹ nằm đếm tháng tính ngày

Tay lần tràng hạt cầu may mùa vàng

Cha ngồi bên bếp lửa tàn

Mơ trong gió thoảng những làn khói rơm”

(Tháng Ba hạt lúa nghẹn lòng)

– “Vườn của mẹ bỗng như bừng thức giấc

Những sớm mai cha mỉm cười tất bật

Chiếc áo sờn mẹ gánh cả mùa Xuân”

(Mùa Xuân đã đến phía sau mình)

Đọc những câu thơ ăm ắp tình mẹ, ăm ắp tình cha như thế hỏi ai chẳng nao lòng?!

Nỗi nhớ bố nhớ mẹ nhớ quê cứ hồn nhiên trong trẻo ngân lên như thế, rồi chợt lắng lại, trầm xuống với thoảng nhẹ chút hương nhớ vị thương đằm nét hồn quê của riêng Nguyễn Tuyển:

“Bây giờ quê xa vời vợi

Chợt thèm một khúc bánh xôi

Giận mình một đời nông nổi

Chiều rơi, ngỡ mình… mồ côi…”

(Ngỡ)

Câu “Chợt thèm một khúc bánh xôi” bằng cảm xúc rất thật, đã xóa đi cảm xúc còn chênh, chưa thật của câu: “Chiều rơi, ngỡ mình… mồ côi… “, khi Nguyễn Tuyển đẩy cảm xúc cao hơn tâm trạng thực để kết thúc bài thơ.

Không chú trọng vào việc tìm tòi cách thể hiện tứ “mới – lạ – độc” như nhiều nhà thơ trẻ hoặc thích “được trẻ hóa”, Nguyễn Tuyển lặng lẽ chọn lựa câu chữ để thể hiện được tình nồng ấm, hồn hậu trong thơ anh. Những câu thơ anh viết về quê hương dễ chạm được vào trái tim người đọc bởi những nét đẹp yên bình như được lan tỏa từ trái tim nồng ấm, đôn hậu của Nguyễn Tuyển:

“Và chú chim líu lo trên cành biếc

Mổ hạt sương tan ở sau vườn

Con mèo nhỏ vùi mình trong xó bếp

Khúc khích đùa trông thật dễ thương”

(Mai về với Mẹ)

Những câu thơ trong trẻo hồn nhiên như thế đem lại cảm xúc rất khác với những câu thơ hay và đẹp trong bài “Tìm về ngày xưa”, ví như:

“Tôi về vén bóng tre làng

Nghe bao thương nhớ cũ càng ùa xô

Con đò gác mái sóng nhô

Bờ sông thiêm thiếp, câu hò lạc trôi”

hay:

“Ngược chiều theo cánh thiên di

Ngày trôi qua đáy, mùa đi không về

Ngọn nồm quất rạc triền đê

Lòng tôi ngân ngấn bên lề nhớ quên”

Đọc những câu thơ hay và đẹp với kha khá chữ ấn tượng, gợi nhiều cảm xúc, thể hiện kỹ thuật thơ của người có tay nghề: “Bờ sông thiêm thiếp”, “Ngày trôi qua đáy”, “quất rạc triền đê”, … , với những hình ảnh gần gũi thân quen như đã từng gặp ở đâu đó dễ làm bạn đọc nao lòng nhưng cũng chính những câu thơ với những hình ảnh, những ngữ điệu dễ nao lòng đấy lại tạo cảm giác thiêu thiếu cái hồn, cái tình vốn mộc mạc chân quê trong thơ Nguyễn Tuyển, khiến người yêu thơ Nguyễn Tuyển gợn chút nỗi bâng khuâng nhơ nhớ. Có lẽ, anh muốn tạo thay đổi diện mạo cho trang thơ Nguyễn Tuyển bớt đồng điệu đồng màu nên “Tìm về ngày xưa” với những tìm tòi học hỏi để làm mới mình trong ý tưởng cấu tứ nhưng thi tứ thi ảnh chưa thật sự tạo được rõ dấu ấn riêng của thơ Nguyễn Tuyển nên những câu thơ hay và đẹp đó vẫn gợn chút bâng khuâng nhơ nhớ chất thơ, hồn thơ mộc mạc và trong trẻo của Nguyễn Tuyển trong tâm trí bạn đọc.

Tôi thích những câu thơ mang nặng dấu ấn miền Trung nắng gió – quê hương Quảng Ngãi của nhà thơ Nguyễn Tuyển, ví như:

“Bình yên quá, gối đầu lên ngày cũ

Ta mơ màng bên hương khế xốn xang

Mơ dáng ngoại khẽ khàng ru ta ngủ

Chợt giật mình…

mùi cơm mới bay ngang.”

(Bình yên quê Mẹ)

Hay:

– “Tôi nhớ làng như đứa trẻ lên ba

Ngồi ngóng mẹ đi chợ phiên ngày tết

Kể sao hết bao sắc màu xanh biếc

Con dế trong tôi cắn nát những đêm dài”

(Ngày bình yên)

– “Sáng ngồi

vẽ một bình minh

Ngờ đâu mưa xối thình lình ướt tôi

Giọt rơi rát bỏng hơn vôi

Cho tôi uống lấy bời bời niềm đau”

(Vẽ ngày bình yên)

– “Có vạt nắng chiều gầy guộc góc sân

Mẹ ngồi hong nhúm khoai mì đang mốc

Thương bông lúa trổ mầm ngoài rộc

Đàn gà con nhao nhác tìm mồi.”

(Bài thơ tháng Mười)

– “Hơn nửa đời phiêu bạt đó đây

Giữa phố phồn hoa, rộn còi tàu hú

Tiếng dế nỉ non vẫn theo vào giấc ngủ

Như lời quê thầm thĩ nơi xa”

(Ngày bình yên)

Những câu thơ như thế rất dễ chạm vào trái tim người đọc bởi những câu thơ đấy được tinh lọc, phản chiếu từ cái nhìn trong trẻo mà run rẩy rung lên tiếng lòng từ trái tim hồn hậu của Nguyễn Tuyển.

Viết về Mẹ, Nguyễn Tuyển có khá nhiều câu thơ tinh tế, có sức ám ảnh người đọc với sự lan tỏa thầm lặng, ví như:

“Lời ru chìm giữa mênh mông

Tháng ba ai đốt khói đồng mắt cay

Cánh cò hun hút chân mây

Đồng sâu mẹ đội bóng ngày liêu xiêu”

(Dỗ mình)

Hay:

– “Men theo sợi khói lam chiều

Tôi về quê mẹ – nắng liêu xiêu gầy

Hương trầm ai đốt mà cay

Giọt tràn đáy mắt bỗng ngày rưng rưng”

(Khẽ khàng quê)

– “Mẹ giờ như cọng rơm gầy

Cuối mùa sót lại sau ngày nắng mưa

Chuồn chuồn bay giữa ban trưa

Sợ cơn bão nổi về lùa qua truông”

(Gió ơi lay khẽ thôi nào)

– “Rồi một chiều muốn bỏ chốn phồn hoa

Về bên mẹ hít hà mùi cơm mới

Mái tranh nghèo nhuộm vàng bao sợi khói

Nghe à ơi… bên cánh võng năm nào.”

(Chợt thèm một chút ngày xưa)

– “Tuổi của mẹ theo ngày trôi qua tóc

Mỗi xuân sang thêm vài sợi úa màu

Nồi nếp mới của vụ mùa khó nhọc

Mẹ gói vào cời lửa suốt đêm thâu.”

(Mai con về tạ lỗi với quê hương)

– “Mẹ ạ!

chiều nay con lại nhớ

Chiếc chõng tre ọp ẹp thủa nào

Thèm một giấc ngủ vùi như chưa có

Để nghe tròn một khúc ca dao.”

(Khóc giữa ban chiều)

– “Mặc cho giông thét bão gào

Âm thầm mẹ vá khuyết hao lở bồi”

(Mẹ ơi mùa trở gió rồi)

Bên cạnh hình ảnh Mẹ là tượng hình Cha với những khắc họa thật đẹp, đẹp lồng lộng, hào sảng với những lắng đọng ấm áp từ trong da diết nỗi nhớ của nhà thơ Nguyễn Tuyển:

“Cạn đêm kí ức cựa mình

Thấy cha cõng nắng chùng chình bước chân

Miệng cười gánh cả xuân sang

Hương đồng theo gót mênh mang gió lùa”

(Chợt mơ về với quê nhà)

Bốn câu thơ khá hay, với Tứ thơ đã được nhiều nhà thơ sử dụng khi khắc họa tượng hình người Cha nhưng tượng hình người Cha trong “kí ức cựa mình” của Nguyễn Tuyển đẹp đôn hậu hào sảng với những nét vẽ dễ chạm vào trái tim và găm sâu vào trí nhớ bạn đọc của riêng Nguyễn Tuyển. Thật tiếc, nhà thơ Nguyễn Tuyển đã không đầu tư thêm chút thời gian cho việc chọn chữ gieo vần để bốn câu thơ đó được tròn trĩnh hơn.

Hay những câu thơ khác Nguyễn Tuyển viết về Cha không cố ồn ào to tiếng mà anh đào sâu vào tâm thức với suy tưởng điềm tĩnh đến trầm lặng:

– “Mấy canh chầy cha tựa cửa lo âu

Canh con nước lớn ròng theo mùa lũ

Bóng cha nhoè lem trên bức tường rêu cũ

Đèn khuya hiu hắt bên thềm.”

(Bài thơ tháng Mười)

– “Thấy bóng cha ngồi ở phía triền đê

Nối sợi dây diều tuổi thơ tôi vừa làm đứt

Hoàng hôn buông một màu đỏ rực

Chú dế mèn ngậm cỏ hát nghêu ngao”

(Một chút dại xưa)

khiến những câu thơ đó đầy ắp tâm trạng và nặng thêm sức ám ảnh với người đọc.

Thơ Nguyễn Tuyển luôn đầy ắp chất liệu mộc mạc, bình dị của cuộc sống và câu chữ anh dùng cũng là câu chữ chọn lựa từ ngôn ngữ của cuộc sống nên thơ Nguyễn Tuyển dễ gần dễ hiểu với bạn đọc. Có lẽ vì thế mà thơ của anh tuy không chú trọng làm mới cách sử dụng câu chữ và sáng tạo ngôn từ, cũng không làm mới hình thức thể hiện nhưng là thơ của cảm xúc chân thật nên bạn đọc đến với thơ Nguyễn Tuyển lặng lẽ, tự nhiên với sự lan tỏa thầm lặng không ồn ào vồn vã.

Hà Nội, sáng 5 tháng 8/2022

Đ.X.X

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm