TIN TỨC
  • Góc nhìn văn học
  • Một thi phẩm cảnh báo về sự suy thoái môi trường sinh thái và tha hóa của con người đô thị

Một thi phẩm cảnh báo về sự suy thoái môi trường sinh thái và tha hóa của con người đô thị

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-08-31 06:08:25
mail facebook google pos stwis
3218 lượt xem

PHẠM CÔNG TRỨ


SAO CHẲNG VỀ ĐÂY
 

Lối đỏ như son tới xóm Dừa

Ngang cầu đã điểm hạt mưa thưa

(Xuân sang xao xuyến lòng tôi quá!)

Tôi đã xây tròn sự nghiệp chưa?

 

Ở mãi kinh kỳ với bút nghiên

Ðêm đêm quán trọ thức thi đèn

Xót xa một sớm soi gương cũ

Thấy lệch bao nhiêu mặt chữ điền.

 

Chẳng đợi mà xuân vẫn cứ sang

Phồn hoa thôi hết mộng huy hoàng

Sớm nay sực tỉnh sầu đô thị

Tôi đã về đây rất vội vàng.

 

Ở đây vô số những trời xanh

Và một con sông chảy rất lành

Và những tâm hồn nghe rất đẹp

Ðã từng chung sống mái nhà tranh.

 

Sao chẳng về đây múc nước sông

Tưới cho những luống cỏ hoa trồng

Xuân sang hoa nụ rồi hoa nở

Phô nhụy vàng hây với cánh nhung?

 

Sao chẳng về đây bắt bướm vàng

Nhốt vào tay áo đợi xuân sang

Thả ra cho bướm xem hoa nở

Cánh bướm vườn hoa loạn phấn hương?

 

Sao chẳng về đây có bạn hiền

Có hương, có sắc, có thiên nhiên

Sống vào giản dị, ra tươi sáng

Tìm lấy cho lòng một cảnh tiên?

 

Sao chẳng về đây lựa tứ thơ

Hỡi ơi! Hồn biển rộng không bờ

Chùm hoa sự nghiệp thơm muôn thuở

Thiên hạ bao nhiêu kẻ đợi chờ!

 

Sao chẳng về đây nỡ lạc loài

Giữa nơi thành thị gió mưa phai

Chết dần từng nấc, rồi mai mốt

Chết cả mùa xuân, chết cả đời!

 

Xuân đã sang rồi em có hay?

Tình xuân chan chứa, ý xuân đầy

Kinh kỳ bụi quá xuân không đến

Sao chẳng về đây? Chẳng ở đây?
 

Xóm Dừa - Thanh Ða (1944)

Nguyễn Bính


Câu mở đầu “Lối đỏ như son tới xóm Dừa”, cũng như dòng chữ phía dưới bài thơ, cho biết Nguyễn Bính viết bài thơ này tại “xóm Dừa” (cái tên do tác giả đặt vì nơi đây có nhiều cây dừa, chứ tên thật là xóm Cầu Kinh), ở Thanh Đa, một khu ngoại ô nằm ven sông Sài Gòn. Xóm này, thuở ấy là nơi ngụ cư của những người nông dân nghèo, thiên nhiên còn hoang vắng và khá thơ mộng. Bài thơ ra mắt trên tờ Dân báo dịp Tết Giáp Thân (1944), ở vào thời điểm cuối của đời thơ lãng mạn Nguyễn Bính.

Sang khổ thứ hai, tác giả đã cho biết hoàn cảnh sống của mình cũng như lý do ông về xóm Dừa. Cứ diễn dịch theo ý thơ thì “tôi” đang “Ở mãi kinh kỳ với bút nghiên/ Ðêm đêm quán trọ thức thi đèn” cho đến một hôm “Xót xa một sớm soi gương cũ/ Thấy lệch bao nhiêu mặt chữ điền”. Thế là “Sớm nay sực tỉnh sầu đô thị/ Tôi đã về đây rất vội vàng”. Những từ “sớm nay”, “sực tỉnh”, “rất vội vàng” cho thấy tính thời sự của câu chuyện đang kể, cũng như tâm thế rất quyết đoán của tác giả. Như vậy, “sao chẳng về đây” như tên bài thơ, là sự tự “ngộ” của tác giả (sực tỉnh sầu đô thị), đồng thời là lời thúc giục, kêu gọi người đang sống ở thành phố hãy “về đây”, như “tôi” đã về…

“Kinh thành”, “kinh kỳ”, gắn liền với “sầu đô thị” là những cụm từ thường xuất hiện trong thơ Nguyễn Bính, ngẫm ra nó mới oái oăm và có phần hài hước làm sao. Chính vì sức hút phồn hoa nơi kinh thành mà từ một thôn dân chính gốc, Nguyễn Bính đã đi dan díu với nó và thành một thị dân “gia công”. Nói thị dân gia công, vì hình như chưa bao giờ ông có “hộ khẩu” chính thức ở một thành phố nào. Dù ngược Bắc, xuôi Nam, hay rẽ ngang Trung, thì những nơi cho ra đời những “em” cùng “nàng” thơ mộng, hay “quan Trạng” lọng vàng, cũng chỉ là những gác trọ tồi tàn, xập xệ. Bị vòng xoáy đô thị hút vào, lại bị rung lắc liên hồi bởi “sòng đời” đen trắng, Nguyễn Bính đã chóng mặt, loạng choạng, rồi thất vọng, sầu hận. Đã sầu ở Hà thành đất Bắc, nhà thơ quyết chí hành phương Nam mong đổi đời, để rồi như một định mệnh, nay lại sầu với Sài thành.

Chân ướt chân ráo tới Sài Gòn, Nguyễn Bính còn như một con chim non “Bơ vơ trong xứ người xa lạ/ Rộn những phồn hoa, em chạnh buồn”. Vậy mà cũng trong Lá thư về bắc (viết khoảng trước năm 1940, gửi người anh họ Bùi Hạnh Cẩn), Nguyễn Bính không dấu được tâm trạng háo hức, phấn chấn “Rồi men tráng lệ kinh thành ấy/ Từ đấy in thêm bóng một người/ Bóng một nhà thơ đầy nguyện vọng/ Giầu lòng tin tưởng bước tương lai”. Rồi ông đoan quyết với người anh rằng “Nhà thơ còn trẻ lắm, anh ơi!/ Chưa xã giao quen, chưa trải đời/ Song le trường học thiên nhiên sẽ/ Đào luyện nhà thơ nên một người”. Ấy vậy mà sau khoảng dăm năm được “đào luyện” ở cái “kinh thành tráng lệ” ấy, hơi thơ bây giờ nghe đã rất oải “Chẳng đợi mà xuân vẫn cứ sang/ Phồn hoa thôi hết mộng huy hoàng”. Sầu đô thị mang theo từ đất Bắc đã chẳng vơi, chẳng vợi, mà cứ dầy thêm ra, nặng thêm nên. Không, mới oải thôi, chưa hết mộng đâu, “chùm hoa sự nghiệp thơm muôn thuở” vẫn còn treo lơ lửng đâu đó, mà tác giả nói ở bên dưới…

Với năm khổ thơ liên tiếp, khổ nào cũng bắt đầu bằng “sao chẳng về đây”, và chỉ bằng một lối kể, tả, không có dụng ý nghệ thuật cao siêu gì, song Nguyễn Bính bằng thuật lạ hóa, lãng mạn hóa, đã phù phép biến xóm Dừa, một nơi thôn dã hoang vắng, thành một chốn bồng lai tiên cảnh. Ở đó chẳng những có trời xanh, sông lành, hoa bướm, mà còn có bạn hiền “sống vào vui vẻ ra tươi sáng”. Ảo hóa, mĩ lệ hóa cảnh sắc thiên nhiên, gợi mở sự rung động, cảm thông của lòng người, là một biệt tài của thi sĩ “chân quê” mà cực lãng mạn này. Dựng lên một thiên đường nơi trần thế như vậy để thỏa mãn cái mĩ cảm của ông, song chủ ý là để đối lập với cái “kinh kỳ bụi quá xuân không đến”, mà ông tuyên án và quyết “đào mồ chôn” nó ở cuối bài… Sao chẳng về đây nỡ lạc loài/ Giữa nơi thành thị gió mưa phai/ Chết dần từng nấc, rồi mai mốt/ Chết cả mùa xuân, chết cả đời.

Nói chết cả mùa xuân là để cảnh báo thế thôi, chứ mùa xuân với đủ cả “tình xuân” và “ý xuân” đang hiện hữu, em có nhận thấy không? Nhân danh mùa xuân mới tươi đẹp, rút hết gan ruột, một lần nữa tác giả đưa ra những lời thống thiết: Xuân đã sang rồi em có hay?/ Tình xuân chan chứa, ý xuân đầy/ Kinh kỳ bụi quá xuân không đến/ Sao chẳng về đây? Chẳng ở đây?

Bài thơ khép lại với liên tiếp hai dấu hỏi (?) cùng một cụm từ láy “sao chẳng”… về đây, và… ở đây. “Về đây” là về với thiên nhiên chưa nhuốm bụi kinh kỳ, về với tình người còn trong sáng, chân thật, mà chỉ ở nơi thôn dã xa thành phố mới có. “Kinh kỳ bụi quá”, dù ai có trông đợi thì mùa xuân cũng đành phải vẫy chào từ xa. “Ở đây”, nghĩa là phải gắn bó lâu dài, sống chết với với nơi này, chứ không phải rẽ ngang qua quýt thì mới không bị tha hóa, và cái chùm hoa sự nghiệp thơm muôn thuở mới có cơ may hái được.

Sao chẳng về đây không phải là một bài thơ tình thuần túy, mà là một bài thơ trữ tình thế sự. Nên “em” ở đây không có nghĩa là những “cố nhân” trong gia tài thơ tình Nguyễn Bính, mà nên hiểu là “ai” (những ai) chưa “ngộ” ra được tình cảnh của mình vẫn đang sống trong “vô minh” (lạc loài giữa nơi thành thị gió mưa phai). “Bụi” ở đây là bụi thực, “bụi mịn”, song cũng là bụi phong trần, xô bồ ô hợp nơi đô thành, với những cao lâu, tửu quán của dân làng chơi. Bụi phồn hoa ấy chẳng những lọt vào mắt mà còn có nguy cơ chui vào hồn của thế nhân, nếu cứ mãi chung thân với nó. Chính cái “bụi trần”, cùng cái “biển tiền” (Tắm trong một cái biển tiền người ta) đã làm lệch bao nhiêu mặt chữ điền.

Bài thơ này ra đời trong bối cảnh thời thế đầy biến động, Thế chiến II đang vào hồi ác liệt, một mất một còn, và khói lửa chiến tranh có nguy cơ bao trùm lên mảnh đất hình chữ S. Thực tế, chỉ năm sau Nhật hất cẳng Pháp ở Đông Dương, xảy ra nạn đói kinh hoàng Ất Dậu, rồi Cách mạng tháng Tám bùng nổ. Nguyễn Bính, người viết bài thơ này, cũng đang trong tâm thế quyết đoạn tuyệt “nàng tiên nâu” nơi bàn đèn dọc tẩu vong khước hình hài mà ông đã nhiễm phải nơi kinh thành. Xóm Dừa, ngoại thành Sài Gòn, xóm Rẫy nơi Hà Tiên xa xôi… là những nơi ông tìm về để quyết giã từ quá khứ không mấy tốt đẹp của mình...

 Viết Sao chẳng về đây, bằng sự trải nghiệm, chiêm nghiệm đớn đau của bản thân mình, tác giả đánh động và kêu gọi nhân thế, trước hết là những người đang lầm vào hoàn cảnh như mình hãy sớm “ngộ” ra, từ bỏ những “lạc loài”, “gió mưa phai”, hướng đến cái trong sáng, tươi đẹp “có hương có sắc, có thiên nhiên”, cái rộng rãi, cao thượng “hồn biển rộng vô bờ”. Mà những cái ấy, ở thời ấy, chỉ tìm thấy ở đất ngoại ô, nơi mà mà con quái vật đô thị hóa, với những tham vọng không cùng, chưa kịp vươn tới, trùm lên. Đây là một ý tưởng tốt, đầy thiện chí, đậm chất nhân văn, nhưng không tránh khỏi ảo tưởng của một thi sĩ lãng mạn mà không… cách mạng. Thực ra, những thôn Vân, xóm Dừa, xóm Rẫy trong thơ Nguyễn Bính trước sau cũng theo nhau hóa phố nửa làng, lâu dần biến thành thuần phố, chân phố cả. Đường về “chân quê” xem như chẳng mấy chốc nữa sẽ đến hồi… tuyệt lộ!

*

Hoàn cảnh đất nước, tâm thế thời đại nay đã khác so với thời Nguyễn Bính cho ra đời bài thơ này. Trào lưu công nghiệp hóa, đô thị hóa, hiện đại hóa lần hai này đã làm diện mạo đất nước đang thay đổi từng ngày, có mất có được, mà được là chủ yếu. Song, sự xuống cấp của đời sống đô thị, của môi trường sinh thái, và cùng với nó, là sự tha hóa của đạo đức con người thì vẫn không ngừng diễn ra song hành với bê-tông hóa, tiền tệ hóa, số hóa. Như vậy, vô tình hay hữu ý, “sao chẳng về đây” đã từ rất sớm đánh động, cảnh báo về sự cái sự xuống cấp, sự tha hóa có tình thời đại ấy. Suy thoái, tha hóa, như một căn bệnh kinh niên, dễ tái phát, diễn ra ở bất kỳ đâu, không từ một phương trời nào, một chế độ nào, một con người nào, nếu như vẫn còn có đất dung dưỡng. Lường được như thế, để chủ động đối mặt và tìm phương cách khắc chế những mặt trái của đô thị hóa, hiện đại hóa, ở bối cảnh hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng trong nền kinh tế thị trường có định hướng hôm nay.

Về đây, nhìn trong bối cảnh hôm nay, là về đâu? Đàng hoàng hơn, to đẹp hơn, bền vững hơn, giầu chất nhân văn hơn, đáng sống hơn, thiết nghĩ phải hướng tới một xứ sở như vậy, chứ đâu phải là quay về với xóm Dừa hoang vắng mà thơ mộng thuở nào. Nơi mà Nguyễn Bính gần tám mươi năm trước, trốn chạy kinh thành về đấy vào một ngày mấp mé tết, với khuôn mặt méo xệch, nhầu nhĩ đã ngồi viết những dòng thống thiết vừa như trách móc, vừa như van gọi nhân thế “vô minh” rằng “sao chẳng về đây?”.

Nguồn Văn nghệ số 35/2022

Bài viết liên quan

Xem thêm
Cho ngày 30 tháng 4: Chuyện bây giờ mới kể
Thời gian là cỗ máy mài vô tình và tàn nhẫn đối với ký ức cá nhân. Trong biển thông tin hỗn loạn và nhiều kênh hôm nay, ký ức lại càng gặp nhiều thách thức thường trực và dữ dội. Một cách cổ sơ và thủ công cưỡng chống lại sự bào mòn vô tình và tàn nhẫn ấy là tìm dịp nhắc lại, thường xuyên nhắc lại.
Xem thêm
Cần chấm dứt việc truy đuổi người vi phạm giao thông
Tết Bính Ngọ về thăm quê, mình chứng kiến một vụ tai nạn giao thông hơi vô lý. Một lão nông điều khiển xe máy đang chạy trên đường, chợt lão nghe tiếng còi hụ của xe CSGT phía sau, ngỡ là cảnh sát đuổi mình nên lão tăng tốc chạy nhanh hơn. Đến đoạn km 108, QL 20 thì bị lạc tay lái, xe lao vào lề đường té bổ nhào, khiến mặt mày và tay chân lão bê bết máu. Hai anh CSGT dừng xe đỡ lão dậy cùng với người dân mang dầu, băng cad sơ cứu. Trong lúc băng lại vết thương, hai anh cảnh sát nói với lão nông và mọi người rằng, các anh chỉ truy đuổi xe của nam thanh niên vi phạm chứ không phải đuổi xe lão nông này. Do lão hoảng quá, cố chạy nhanh nên gây ra tai nạn. Sau đó ông lão được đưa vào bệnh viện chữa trị. Rất may là ông già này chỉ bị thương nhẹ nên xuất viện một ngày sau đó.
Xem thêm
Biến ý chí thành hành động, biến quyết sách thành hiệu quả
Mọi thắng lợi vẻ vang của cách mạng Việt Nam từ trước đến nay đều khởi nguồn từ sự giao thoa tất yếu giữa ý chí của Đảng và khát vọng của nhân dân. Ý chí tại Đại hội XIV không chỉ đơn thuần là hệ thống văn kiện chính trị, mà là sự kết tinh cao độ giữa bản lĩnh chính trị vững vàng, năng lực dự báo chiến lược tài tình và khát vọng cháy bóng về một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng. Quyết sách của Đảng là thành quả của một quá trình tổng kết thực tiễn sâu sắc, dưới ánh sáng của lý luận khoa học và tinh hoa trí tuệ của toàn dân tộc.
Xem thêm
Biết không hay sao vẫn lao vào?
Trong lĩnh vực văn học, đã có trường hợp sử dụng AI để sáng tác đăng báo, thậm chí in thành sách. Dẫu biết, khi sử dụng AI, tác phẩm sẽ thiếu cảm xúc, khó tạo nên giọng điệu riêng, nhưng vì lợi nhuận, vì sốt ruột nổi tiếng, người ta vẫn lao vào.
Xem thêm
Chuyên đề: Chống AI lũng đoạn văn chương
Không còn là chuyện có nên hay không sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong sáng tác văn học nữa, mà thực tế đang đặt ra yêu cầu ứng phó với việc lợi dụng, lạm dụng AI để tạo nên những sản phẩm mang tên tác giả cụ thể nhưng không thấm mồ hôi của lao động nghề nghiệp, không “đóng dấu” được bản sắc của người viết.
Xem thêm
Thời cơ mới cho sáng tạo văn học - nghệ thuật
Năm 2025 là một năm in dấu đậm trong lịch sử phát triển của đất nước, không chỉ bởi kỉ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9, mà còn là năm diễn ra nhiều sự kiện chính trị - xã hội quan trọng; kịp thời nhìn lại những tác động xã hội nhiều mặt, đồng thời rút ra nhiều vấn đề đáng và cần để tổ chức tốt hơn cho hoạt động kỉ niệm 100 năm ra đời của Đảng (1930 - 2030), 100 năm ra đời của chế độ mới (1945 - 2045) với nội dung thiết thực, nhiều hình thức mới mẻ, hiện đại, đậm đà bản sắc dân tộc.
Xem thêm
Học sinh “đánh thức” văn học bằng trải nghiệm sáng tạo
Không dừng lại ở việc học văn qua trang sách, học sinh Trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa (TP.HCM) đã biến văn chương thành một hành trình trải nghiệm đa giác quan. Dự án “Tiếng tơ lòng” cho thấy một hướng tiếp cận mới: đưa văn học dân gian và văn học trung đại sống lại trong đời sống hiện đại, bằng chính sự sáng tạo và cảm xúc của người học.
Xem thêm
Thúc đẩy việc dạy và học tiếng Việt trong thế hệ trẻ kiều bào tại Hàn Quốc
Ngày 12/4, Tọa đàm với chủ đề “Thực trạng và giải pháp phát triển việc giảng dạy tiếng Việt và văn hóa Việt Nam trong cộng đồng người Việt Nam tại Hàn Quốc” đã diễn ra tại thành phố Gwangju, Hàn Quốc.
Xem thêm
Bốn văn nhân, một mạch văn chương
Bốn con người, bốn phong cách, nhưng cùng chung một mạch nguồn: đi ra từ chiến tranh, sống và viết bằng trải nghiệm thật, và giữ trọn sự tử tế với văn chương.
Xem thêm
Văn chương Việt trong vòng xoáy AI
Sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo (AI) đưa văn chương và người đọc vào thời khắc chuyển mình chưa từng có. Nó có thể được xem là công cụ hỗ trợ người viết, cũng gợi mở vô số thách thức cùng các áp lực mới cần đối mặt.
Xem thêm
Nỗi trăn trở của người làm chính sách trước những vấn đề nhân sinh
Những ngày gần đây, dư luận xã hội không khỏi bàng hoàng trước thông tin gần 300 tấn thịt lợn nhiễm bệnh bị tuồn ra thị trường, len lỏi vào cả bữa ăn học đường. Những mâm cơm tưởng như an toàn nhất - nơi trẻ em ăn uống mỗi ngày - bỗng trở thành tâm điểm của nỗi lo lắng. Phụ huynh hoang mang, nhà trường lúng túng, cơ quan quản lý khẩn trương rà soát, còn người làm chính sách thì không khỏi trăn trở.
Xem thêm
Nhà văn Nam Cao - nhìn từ khả năng kiến tạo di sản văn hóa vùng
Nhà văn có muôn nẻo lựa chọn bút danh cho mình (cội nguồn dòng tộc, kỷ niệm tuổi thơ, tình yêu, bè bạn, triết lý nhân sinh, thế sự, nghề nghiệp, phép chơi chữ…). Với Trần Hữu Tri (1917-1951), ông chọn bút danh Nam Cao bằng lối ghép địa danh quê hương với hai chữ đầu của tên tổng và huyện: tổng Cao Đà, huyện Nam Xang (nay thuộc xã Nam Lý, tỉnh Ninh Bình).
Xem thêm
Trại sáng tác cần tránh hình thức, lãng phí
Nhiều năm qua, các trại sáng tác văn học nghệ thuật được tổ chức đã góp phần quan trọng vào việc hình thành và phát triển đội ngũ văn nghệ sĩ, đồng thời cho ra đời nhiều tác phẩm có giá trị. Tuy nhiên, mô hình cũ đã bộc lộ những hạn chế về hiệu quả, cách tổ chức.
Xem thêm
Làm mới “chất Việt” trong trang văn trẻ thơ
Giữa “bão” giải trí số, văn học thiếu nhi Việt Nam đang âm thầm chuyển mình để không bị lãng quên. Từ việc cách tân ngôn ngữ đến mở rộng biên độ sáng tạo, mỗi trang viết hôm nay là một nỗ lực nhằm tìm lại vị thế trang trọng nhất trong thế giới tinh thần của độc giả nhỏ tuổi.
Xem thêm
Một chuyến xe, một câu nói, và chiếc gương soi vào nhân cách
Có những câu chuyện, thoạt nhìn rất nhỏ. Một chuyến xe. Một cuộc tranh cãi. Một câu nói buột miệng.
Xem thêm
Từ tâm sự của vợ chồng dịch giả tiếng Đức đến dấu ấn cổ tích của Anh Grimm
Qua thư giới thiệu của nhà văn Hồ Anh Thái, tôi đã có cuộc hẹn tại nhà riêng của hai dịch giả Đức ngữ nổi tiếng là GS.TS Günter Giesenfeld và Marianne Ngo. Thành phố Marburg của họ cách chỗ tôi ở chỉ một tiếng rưỡi tàu. Vì biết người Đức rất tôn trọng giờ giấc nên tôi đã đến sớm hơn 2 tiếng đồng hồ để vừa tránh chậm tàu, có thể vừa tranh thủ thời gian dạo quanh một trong những thành phố cổ kính và huyền bí nhất nước Đức.
Xem thêm
Vị thế của văn chương trong Công nghiệp Văn hoá Việt Nam
Đến vùng xa vùng đảo và lắng nghe ý kiến của người dân, tôi càng thấy rõ hơn, cái nghèo về đời sống tinh thần, đời sống văn hoá vẫn chưa được người dân quan tâm. Họ cần những ích lợi vật chất và gần như xa lạ với nhu cầu thụ hưởng thành quả văn học nghệ thuật.
Xem thêm
Vì sao người Việt lại đi khinh thơ của mình?
Từ một cuộc đối thoại hóm hỉnh nhưng không kém phần thẳng thắn, bài phỏng vấn của Nguyễn Văn Mạnh - Nguyễn Đình Minh đặt ra một câu hỏi khiến nhiều người làm thơ phải giật mình: Vì sao người Việt lại đi khinh thơ của mình?
Xem thêm
Đấu tranh, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng
Nghị quyết số 29-NQ/TW về Chiến lược Bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng xác định: “... Bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trên không gian mạng góp phần bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và lợi ích quốc gia-dân tộc; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước...”.
Xem thêm
Nhìn lại năm 2025, ấn tượng văn hóa, và suy ngẫm văn học
Năm 2025 vừa khép lại với nhiều sự kiện quan trọng của đất nước, trong đó không thể không nhắc đến những hoạt động nổi bật kỉ niệm 80 năm Quốc khánh và 50 năm non sông liền một dải. Hòa trong không khí ấy, đời sống văn hóa và văn học có những ấn tượng gì đáng suy ngẫm?
Xem thêm