TIN TỨC
  • Góc nhìn văn học
  • Một thi phẩm cảnh báo về sự suy thoái môi trường sinh thái và tha hóa của con người đô thị

Một thi phẩm cảnh báo về sự suy thoái môi trường sinh thái và tha hóa của con người đô thị

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-08-31 06:08:25
mail facebook google pos stwis
3664 lượt xem

PHẠM CÔNG TRỨ


SAO CHẲNG VỀ ĐÂY
 

Lối đỏ như son tới xóm Dừa

Ngang cầu đã điểm hạt mưa thưa

(Xuân sang xao xuyến lòng tôi quá!)

Tôi đã xây tròn sự nghiệp chưa?

 

Ở mãi kinh kỳ với bút nghiên

Ðêm đêm quán trọ thức thi đèn

Xót xa một sớm soi gương cũ

Thấy lệch bao nhiêu mặt chữ điền.

 

Chẳng đợi mà xuân vẫn cứ sang

Phồn hoa thôi hết mộng huy hoàng

Sớm nay sực tỉnh sầu đô thị

Tôi đã về đây rất vội vàng.

 

Ở đây vô số những trời xanh

Và một con sông chảy rất lành

Và những tâm hồn nghe rất đẹp

Ðã từng chung sống mái nhà tranh.

 

Sao chẳng về đây múc nước sông

Tưới cho những luống cỏ hoa trồng

Xuân sang hoa nụ rồi hoa nở

Phô nhụy vàng hây với cánh nhung?

 

Sao chẳng về đây bắt bướm vàng

Nhốt vào tay áo đợi xuân sang

Thả ra cho bướm xem hoa nở

Cánh bướm vườn hoa loạn phấn hương?

 

Sao chẳng về đây có bạn hiền

Có hương, có sắc, có thiên nhiên

Sống vào giản dị, ra tươi sáng

Tìm lấy cho lòng một cảnh tiên?

 

Sao chẳng về đây lựa tứ thơ

Hỡi ơi! Hồn biển rộng không bờ

Chùm hoa sự nghiệp thơm muôn thuở

Thiên hạ bao nhiêu kẻ đợi chờ!

 

Sao chẳng về đây nỡ lạc loài

Giữa nơi thành thị gió mưa phai

Chết dần từng nấc, rồi mai mốt

Chết cả mùa xuân, chết cả đời!

 

Xuân đã sang rồi em có hay?

Tình xuân chan chứa, ý xuân đầy

Kinh kỳ bụi quá xuân không đến

Sao chẳng về đây? Chẳng ở đây?
 

Xóm Dừa - Thanh Ða (1944)

Nguyễn Bính


Câu mở đầu “Lối đỏ như son tới xóm Dừa”, cũng như dòng chữ phía dưới bài thơ, cho biết Nguyễn Bính viết bài thơ này tại “xóm Dừa” (cái tên do tác giả đặt vì nơi đây có nhiều cây dừa, chứ tên thật là xóm Cầu Kinh), ở Thanh Đa, một khu ngoại ô nằm ven sông Sài Gòn. Xóm này, thuở ấy là nơi ngụ cư của những người nông dân nghèo, thiên nhiên còn hoang vắng và khá thơ mộng. Bài thơ ra mắt trên tờ Dân báo dịp Tết Giáp Thân (1944), ở vào thời điểm cuối của đời thơ lãng mạn Nguyễn Bính.

Sang khổ thứ hai, tác giả đã cho biết hoàn cảnh sống của mình cũng như lý do ông về xóm Dừa. Cứ diễn dịch theo ý thơ thì “tôi” đang “Ở mãi kinh kỳ với bút nghiên/ Ðêm đêm quán trọ thức thi đèn” cho đến một hôm “Xót xa một sớm soi gương cũ/ Thấy lệch bao nhiêu mặt chữ điền”. Thế là “Sớm nay sực tỉnh sầu đô thị/ Tôi đã về đây rất vội vàng”. Những từ “sớm nay”, “sực tỉnh”, “rất vội vàng” cho thấy tính thời sự của câu chuyện đang kể, cũng như tâm thế rất quyết đoán của tác giả. Như vậy, “sao chẳng về đây” như tên bài thơ, là sự tự “ngộ” của tác giả (sực tỉnh sầu đô thị), đồng thời là lời thúc giục, kêu gọi người đang sống ở thành phố hãy “về đây”, như “tôi” đã về…

“Kinh thành”, “kinh kỳ”, gắn liền với “sầu đô thị” là những cụm từ thường xuất hiện trong thơ Nguyễn Bính, ngẫm ra nó mới oái oăm và có phần hài hước làm sao. Chính vì sức hút phồn hoa nơi kinh thành mà từ một thôn dân chính gốc, Nguyễn Bính đã đi dan díu với nó và thành một thị dân “gia công”. Nói thị dân gia công, vì hình như chưa bao giờ ông có “hộ khẩu” chính thức ở một thành phố nào. Dù ngược Bắc, xuôi Nam, hay rẽ ngang Trung, thì những nơi cho ra đời những “em” cùng “nàng” thơ mộng, hay “quan Trạng” lọng vàng, cũng chỉ là những gác trọ tồi tàn, xập xệ. Bị vòng xoáy đô thị hút vào, lại bị rung lắc liên hồi bởi “sòng đời” đen trắng, Nguyễn Bính đã chóng mặt, loạng choạng, rồi thất vọng, sầu hận. Đã sầu ở Hà thành đất Bắc, nhà thơ quyết chí hành phương Nam mong đổi đời, để rồi như một định mệnh, nay lại sầu với Sài thành.

Chân ướt chân ráo tới Sài Gòn, Nguyễn Bính còn như một con chim non “Bơ vơ trong xứ người xa lạ/ Rộn những phồn hoa, em chạnh buồn”. Vậy mà cũng trong Lá thư về bắc (viết khoảng trước năm 1940, gửi người anh họ Bùi Hạnh Cẩn), Nguyễn Bính không dấu được tâm trạng háo hức, phấn chấn “Rồi men tráng lệ kinh thành ấy/ Từ đấy in thêm bóng một người/ Bóng một nhà thơ đầy nguyện vọng/ Giầu lòng tin tưởng bước tương lai”. Rồi ông đoan quyết với người anh rằng “Nhà thơ còn trẻ lắm, anh ơi!/ Chưa xã giao quen, chưa trải đời/ Song le trường học thiên nhiên sẽ/ Đào luyện nhà thơ nên một người”. Ấy vậy mà sau khoảng dăm năm được “đào luyện” ở cái “kinh thành tráng lệ” ấy, hơi thơ bây giờ nghe đã rất oải “Chẳng đợi mà xuân vẫn cứ sang/ Phồn hoa thôi hết mộng huy hoàng”. Sầu đô thị mang theo từ đất Bắc đã chẳng vơi, chẳng vợi, mà cứ dầy thêm ra, nặng thêm nên. Không, mới oải thôi, chưa hết mộng đâu, “chùm hoa sự nghiệp thơm muôn thuở” vẫn còn treo lơ lửng đâu đó, mà tác giả nói ở bên dưới…

Với năm khổ thơ liên tiếp, khổ nào cũng bắt đầu bằng “sao chẳng về đây”, và chỉ bằng một lối kể, tả, không có dụng ý nghệ thuật cao siêu gì, song Nguyễn Bính bằng thuật lạ hóa, lãng mạn hóa, đã phù phép biến xóm Dừa, một nơi thôn dã hoang vắng, thành một chốn bồng lai tiên cảnh. Ở đó chẳng những có trời xanh, sông lành, hoa bướm, mà còn có bạn hiền “sống vào vui vẻ ra tươi sáng”. Ảo hóa, mĩ lệ hóa cảnh sắc thiên nhiên, gợi mở sự rung động, cảm thông của lòng người, là một biệt tài của thi sĩ “chân quê” mà cực lãng mạn này. Dựng lên một thiên đường nơi trần thế như vậy để thỏa mãn cái mĩ cảm của ông, song chủ ý là để đối lập với cái “kinh kỳ bụi quá xuân không đến”, mà ông tuyên án và quyết “đào mồ chôn” nó ở cuối bài… Sao chẳng về đây nỡ lạc loài/ Giữa nơi thành thị gió mưa phai/ Chết dần từng nấc, rồi mai mốt/ Chết cả mùa xuân, chết cả đời.

Nói chết cả mùa xuân là để cảnh báo thế thôi, chứ mùa xuân với đủ cả “tình xuân” và “ý xuân” đang hiện hữu, em có nhận thấy không? Nhân danh mùa xuân mới tươi đẹp, rút hết gan ruột, một lần nữa tác giả đưa ra những lời thống thiết: Xuân đã sang rồi em có hay?/ Tình xuân chan chứa, ý xuân đầy/ Kinh kỳ bụi quá xuân không đến/ Sao chẳng về đây? Chẳng ở đây?

Bài thơ khép lại với liên tiếp hai dấu hỏi (?) cùng một cụm từ láy “sao chẳng”… về đây, và… ở đây. “Về đây” là về với thiên nhiên chưa nhuốm bụi kinh kỳ, về với tình người còn trong sáng, chân thật, mà chỉ ở nơi thôn dã xa thành phố mới có. “Kinh kỳ bụi quá”, dù ai có trông đợi thì mùa xuân cũng đành phải vẫy chào từ xa. “Ở đây”, nghĩa là phải gắn bó lâu dài, sống chết với với nơi này, chứ không phải rẽ ngang qua quýt thì mới không bị tha hóa, và cái chùm hoa sự nghiệp thơm muôn thuở mới có cơ may hái được.

Sao chẳng về đây không phải là một bài thơ tình thuần túy, mà là một bài thơ trữ tình thế sự. Nên “em” ở đây không có nghĩa là những “cố nhân” trong gia tài thơ tình Nguyễn Bính, mà nên hiểu là “ai” (những ai) chưa “ngộ” ra được tình cảnh của mình vẫn đang sống trong “vô minh” (lạc loài giữa nơi thành thị gió mưa phai). “Bụi” ở đây là bụi thực, “bụi mịn”, song cũng là bụi phong trần, xô bồ ô hợp nơi đô thành, với những cao lâu, tửu quán của dân làng chơi. Bụi phồn hoa ấy chẳng những lọt vào mắt mà còn có nguy cơ chui vào hồn của thế nhân, nếu cứ mãi chung thân với nó. Chính cái “bụi trần”, cùng cái “biển tiền” (Tắm trong một cái biển tiền người ta) đã làm lệch bao nhiêu mặt chữ điền.

Bài thơ này ra đời trong bối cảnh thời thế đầy biến động, Thế chiến II đang vào hồi ác liệt, một mất một còn, và khói lửa chiến tranh có nguy cơ bao trùm lên mảnh đất hình chữ S. Thực tế, chỉ năm sau Nhật hất cẳng Pháp ở Đông Dương, xảy ra nạn đói kinh hoàng Ất Dậu, rồi Cách mạng tháng Tám bùng nổ. Nguyễn Bính, người viết bài thơ này, cũng đang trong tâm thế quyết đoạn tuyệt “nàng tiên nâu” nơi bàn đèn dọc tẩu vong khước hình hài mà ông đã nhiễm phải nơi kinh thành. Xóm Dừa, ngoại thành Sài Gòn, xóm Rẫy nơi Hà Tiên xa xôi… là những nơi ông tìm về để quyết giã từ quá khứ không mấy tốt đẹp của mình...

 Viết Sao chẳng về đây, bằng sự trải nghiệm, chiêm nghiệm đớn đau của bản thân mình, tác giả đánh động và kêu gọi nhân thế, trước hết là những người đang lầm vào hoàn cảnh như mình hãy sớm “ngộ” ra, từ bỏ những “lạc loài”, “gió mưa phai”, hướng đến cái trong sáng, tươi đẹp “có hương có sắc, có thiên nhiên”, cái rộng rãi, cao thượng “hồn biển rộng vô bờ”. Mà những cái ấy, ở thời ấy, chỉ tìm thấy ở đất ngoại ô, nơi mà mà con quái vật đô thị hóa, với những tham vọng không cùng, chưa kịp vươn tới, trùm lên. Đây là một ý tưởng tốt, đầy thiện chí, đậm chất nhân văn, nhưng không tránh khỏi ảo tưởng của một thi sĩ lãng mạn mà không… cách mạng. Thực ra, những thôn Vân, xóm Dừa, xóm Rẫy trong thơ Nguyễn Bính trước sau cũng theo nhau hóa phố nửa làng, lâu dần biến thành thuần phố, chân phố cả. Đường về “chân quê” xem như chẳng mấy chốc nữa sẽ đến hồi… tuyệt lộ!

*

Hoàn cảnh đất nước, tâm thế thời đại nay đã khác so với thời Nguyễn Bính cho ra đời bài thơ này. Trào lưu công nghiệp hóa, đô thị hóa, hiện đại hóa lần hai này đã làm diện mạo đất nước đang thay đổi từng ngày, có mất có được, mà được là chủ yếu. Song, sự xuống cấp của đời sống đô thị, của môi trường sinh thái, và cùng với nó, là sự tha hóa của đạo đức con người thì vẫn không ngừng diễn ra song hành với bê-tông hóa, tiền tệ hóa, số hóa. Như vậy, vô tình hay hữu ý, “sao chẳng về đây” đã từ rất sớm đánh động, cảnh báo về sự cái sự xuống cấp, sự tha hóa có tình thời đại ấy. Suy thoái, tha hóa, như một căn bệnh kinh niên, dễ tái phát, diễn ra ở bất kỳ đâu, không từ một phương trời nào, một chế độ nào, một con người nào, nếu như vẫn còn có đất dung dưỡng. Lường được như thế, để chủ động đối mặt và tìm phương cách khắc chế những mặt trái của đô thị hóa, hiện đại hóa, ở bối cảnh hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng trong nền kinh tế thị trường có định hướng hôm nay.

Về đây, nhìn trong bối cảnh hôm nay, là về đâu? Đàng hoàng hơn, to đẹp hơn, bền vững hơn, giầu chất nhân văn hơn, đáng sống hơn, thiết nghĩ phải hướng tới một xứ sở như vậy, chứ đâu phải là quay về với xóm Dừa hoang vắng mà thơ mộng thuở nào. Nơi mà Nguyễn Bính gần tám mươi năm trước, trốn chạy kinh thành về đấy vào một ngày mấp mé tết, với khuôn mặt méo xệch, nhầu nhĩ đã ngồi viết những dòng thống thiết vừa như trách móc, vừa như van gọi nhân thế “vô minh” rằng “sao chẳng về đây?”.

Nguồn Văn nghệ số 35/2022

Bài viết liên quan

Xem thêm
Quyền lực của các câu lạc bộ sách với gen Z
Sự nổi lên của mạng xã hội và các câu lạc bộ sách số cũng đang định hình lại gu đọc sách của độc giả, đặc biệt thế hệ trẻ. Các hashtag như #BookTok và #Bookstagram đang ảnh hưởng đến việc lựa chọn sách của các câu lạc bộ, ví dụ như ưu tiên các thể loại như giả tưởng, lãng mạn và kinh dị, từ đó tác động đến lựa chọn đọc và mua sách của người trẻ. Điều này phần nào khiến các tác phẩm kinh dị, lãng mạn và lãng mạn giả tưởng trở thành những xu hướng ăn khách hàng đầu hiện nay.
Xem thêm
Từ Miss World, nhìn về tiêu chí sắc đẹp
Cái đẹp có thể ngăn cản chiến tranh, cái đẹp có thể hóa giải hận thù, vì thế sứ mệnh của các nữ hoàng sắc đẹp là vô cùng cao cả, đôi khi vượt ra khỏi giới hạn một cuộc thi. Và mỗi quốc gia nếu muốn có cho mình một nữ hoàng sắc đẹp cả hình thức lẫn tri thức thì cần có những khâu tuyển chọn nghiêm ngặt, đúng chuẩn, giới hạn số lượng cuộc thi. Bên cạnh đó cũng cần tìm hiểu những tiêu chí cũng như chọn ra những thí sinh phù hợp nhất cho mỗi cuộc thi để mỗi đấu trường sắc đẹp sẽ là nơi cho mỗi thí sinh lớn lên, trưởng thành hơn, sống có trách nhiệm và hạnh phúc hơn cho mình và cho xã hội.
Xem thêm
Hai góc nhìn về văn của người trẻ
Văn chương của người trẻ là phải thấy trong đó hình ảnh của chính người trẻ. Ở đó, văn chương được xem là những trang đời gắn liền với nhịp sống của thanh niên hiện nay với nhiều tâm tư loay hoay về hành trình khẳng định bản thể, với những ngổn ngang giữa hoài bão tương lai và thực tế trần trụi hiện tại. Như vậy, dù muốn dù không, giới nghiên cứu văn học và những độc giả có phần kén đọc phải chấp nhận sự tồn tại của một dòng/nhánh văn học đại chúng với những cách định nghĩa mới về văn chương.
Xem thêm
Tản mạn về hai thi tài lục bát Nguyễn Du và Nguyễn Bính
Ai cũng biết Nguyễn Du là đại thi hào dân tộc. Văn chương của ông, cụ thể là Truyện Kiều, đã ảnh hưởng đến nhiều thế hệ nhà văn Việt Nam.
Xem thêm
Văn học nghệ thuật trong thời đại công nghệ số
Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị xác định khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực để phát triển đất nước. Trong văn học nghệ thuật, đây sẽ là cơ hội để mở rộng không gian sáng tạo và tiếp cận công chúng, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, giữ gìn các giá trị cốt lõi của văn hóa Việt Nam.
Xem thêm
Khát vọng người xưa và trách nhiệm hậu thế
“Người xưa” mà nhà văn – không thẻ Trần Bảo Định bàn về khát vọng của họ là những tên tuổi nay đã ở “cõi khác” hơn bảy thập kỷ! Có thể gọi họ là nhà cách mạng, là danh nhân; bà góa phụ Trần Văn Sĩ (người bạn cùng chí hướng với Tạ Thu Thâu, đã bị tù Côn Đảo với Nguyễn An Ninh và mất ở đó) còn tôn vinh họ là “vĩ nhân” là “ngôi sao sáng” của dân tộc…
Xem thêm
Suy nghĩ về Luật Báo chí năm 2025
Từ góc nhìn của một người nhiều năm công tác trong lĩnh vực quản lý nhà nước về báo chí, từng lãnh đạo cơ quan báo chí và giảng dạy nghiệp vụ báo chí, Đại tá, nhà báo Trần Thế Tuyển chia sẻ những suy nghĩ về đạo luật mới qua bài viết Dĩ bất biến ứng vạn biến.
Xem thêm
Nghĩ về sứ mệnh của báo chí
Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và yêu cầu tiếp tục sắp xếp hệ thống báo chí theo hướng tinh gọn, hiệu quả, câu chuyện về sứ mệnh, mô hình phát triển và tương lai của báo chí Việt Nam đang đặt ra nhiều vấn đề cần được nhìn nhận một cách toàn diện, khoa học và nhân văn.
Xem thêm
“Trang sách và mái trường” mang ý nghĩa vượt ra ngoài khuôn khổ của một sân chơi sáng tác
Bài phát biểu tại buổi lễ phát động cuộc thi viết về “ Trang sách & Mái trường”do Nhà xuất bảo Giáo dục Việt Nam và Hội nhà văn Việt Nam phối hợp tổ chức tại Tp. Hồ Chí Minh vào sáng ngày 12/6/2026
Xem thêm
Nhà văn Phố Giang với tác phẩm “Một dòng họ học hành đỗ đạt và giàu lòng nhân ái”
Tôi sinh hoạt cùng anh ở Hội thơ Nghệ Tĩnh tại TP.HCM & Hội viên Hội Nhà văn TP.HCM, đã được anh tặng hai tác phẩm thơ: Hoa trái cuối mùa, 99 Khúc tình thơ và tác phẩm văn Một dòng họ Học hành đỗ đạt và giàu lòng nhân ái. Kể từ năm 2004 đến nay, anh đã xuất bản 8 tác phẩm thơ và 4 tác phẩm văn. Thật đáng khâm phục và tự hào với bút lực phi thường và sự cần cù sáng tạo của anh.
Xem thêm
Hành trình đi, suy ngẫm và viết
Một hôm, nhà báo Tô Đình Tuân gửi cho tôi tập bản thảo khá dày. Tôi đọc và viết không chỉ vì tình cảm đồng nghiệp quen biết nhiều năm trong nghề báo, mà còn bởi tôi hiểu khá rõ con người và hành trình nghề nghiệp của tác giả. Đặc biệt, trong giai đoạn tôi được phân công làm Tổng Biên tập Báo Sài Gòn Giải Phóng, Tô Đình Tuân là một cộng sự đắc lực, luôn tận tâm, trách nhiệm và đầy nhiệt huyết với công việc.
Xem thêm
Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc: Từ người yêu nước đến “Đường kách mệnh”
Từ hành trình ra đi tìm đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành đến sự ra đời của Đường Kách mệnh, bài viết của PGS.TS Nguyễn Thế Kỷ giúp người đọc nhìn lại một chặng đường lịch sử đặc biệt – nơi chủ nghĩa yêu nước gặp gỡ chủ nghĩa Mác – Lênin để hình thành tư tưởng cách mạng Hồ Chí Minh và mở lối cho dân tộc Việt Nam đi tới độc lập, tự do.
Xem thêm
Văn học, nghệ thuật Việt Nam không ngừng phát triển, đồng hành cùng dân tộc
Trong suốt 50 năm sau ngày đất nước thống nhất (1975-2025), văn học, nghệ thuật Việt Nam đã không ngừng phát triển, đồng hành cùng công cuộc bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước. Trên nền tảng tư tưởng, văn hóa của Đảng và truyền thống dân tộc, văn học, nghệ thuật đã thực sự trở thành một bộ phận cấu thành quan trọng của nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; góp phần bồi đắp bản sắc văn hóa, xây dựng nhân cách con người Việt Nam, phản ánh hiện thực đời sống xã hội, đồng thời lan tỏa giá trị văn hóa Việt Nam ra thế giới.
Xem thêm
Có một sự đồng điệu giữa văn hoá và nghệ thuật Việt-Pháp
Thierry kể về Paris những năm tuổi trẻ. Nhà của Thierry cách trường Sư phạm ENS Paris chừng mười lăm phút đi bộ. Ông nói về các quán cà phê nơi giới trí thức Pháp từng tranh luận thâu đêm, về những phòng tranh nhỏ ở Saint-Germain-des-Prés, về Foucault với những suy tư sâu thẳm về con người và tự do. Khi nhắc đến Foucault, giọng ông chậm lại như đang nhớ về một người bạn cũ đã ra đi rất xa. Sau đó Thierry hỏi Tú rằng tại sao anh lại đến ven sông Sài Gòn để làm mỹ thuật.
Xem thêm
Văn học trong kỷ nguyên số
Với sự phát triển của các phương tiện truyền thông mới và công nghệ mới, những thay đổi lớn đã diễn ra trong cách sáng tác và đọc văn học. Đặc biệt là sự phổ biến của văn học trực tuyến và đọc điện tử, đã làm thay đổi rất nhiều cấu trúc và hệ sinh thái văn học truyền thống. Trong cuộc cách mạng thông tin và truyền thông sâu rộng này, văn học thời đại số sẽ đứng trước những cơ hội và thách thức mới.
Xem thêm
Người trẻ và văn chương tìm đường gặp nhau
Trong thời đại số, chỉ với một cú chạm màn hình, giới trẻ có thể tiếp cận vô vàn nội dung giải trí và tri thức, khiến những trang văn cần đọc chậm, chiêm nghiệm dần đánh mất vị trí trung tâm trong thói quen tiếp nhận.
Xem thêm
Văn học có thực sự chữa được cô đơn?
Ngày nay, thông qua mạng xã hội và các phương tiện công nghệ, con người kết nối với nhau nhiều hơn bao giờ hết. Nhưng một thực tại lại xảy ra: Dường như con người đang cô đơn hơn bao giờ hết. Trong bối cảnh ấy, văn học nghệ thuật được kỳ vọng là sợi dây hàn gắn liên kết giữa người với người. Liệu một cuốn sách có thể mang tới sự gắn kết? Từ những cuộc đối thoại trong chuỗi sự kiện Những ngày Văn học châu Âu 2026, câu hỏi ấy đang trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
Xem thêm
Nhà văn làm báo ở chiến trường - Trên tuyến đầu chống Mỹ - Tất cả cho ngày thống nhất non sông
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, văn nghệ sĩ vào chiến trường rất sớm. Đã sớm hình thành một “binh chủng văn nghệ sĩ” tại chiến trường vừa cầm trực tiếp cầm súng vừa trực tiếp sáng tác, đây là một điều đặc biệt của cuộc chiến tranh, một dấu ấn đặc sắc, để sau này nhìn lại chúng ta càng nhận thức rõ nét hơn, ý thức sâu sắc hơn về chiến tranh, để từ đó xây dựng vững chắc nền hòa bình với sự hiểu biết và trưởng thành của con người Việt Nam thời đại mới.
Xem thêm