TIN TỨC

‘Mùa xuân’ trong thơ Trần Ngọc Phượng

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-01-01 09:57:09
mail facebook google pos stwis
2537 lượt xem

NGUYỄN VĂN HÒA

Trần Ngọc Phượng sinh năm 1945, sinh tại Sài Gòn nhưng thời trẻ sống ở Nam Định. Năm 1962 anh lên đường nhập ngũ vào chiến trường Nam Bộ trên cương vị Đài trưởng Vô tuyến điện. Sau năm 1975, anh chuyển ngành về công tác tại TP. Hồ Chí Minh cho đến ngày nghỉ hưu.

Tính từ bài thơ đầu tay viết ở chiến trường cho đến nay Trần Ngọc Phượng đã có hơn 50 năm làm thơ. Hành trình sáng tạo của Trần Ngọc Phượng có thể chia làm 3 giai đoạn:

Giai đoạn từ khi cầm bút ở chiến trường đến trước 1975: Cảm xúc chân thành, tràn đầy sức trẻ, nhiệt huyết với tinh thần yêu nước, sẵn sàng chiến đấu vì độc lập, tự do cho Tổ quốc.

Giai đoạn từ 1975 đến 2005: Đất nước hòa bình, non sông thu về một mối, Bắc - Nam sum họp một nhà. Trần Ngọc Phượng vui vì mình còn may mắn sống sót để trở về gặp lại gia đình, người thân, bạn bè… nhưng anh mang một nỗi buồn khôn xiết vì biết bao nhiêu những đồng chí, đồng đội của anh đã vĩnh viễn nằm lại ở khắp các chiến trường. Tình cảm ấy vừa riêng tư vừa là tình cảm chung mang tính thời đại.

Ngày thống nhất vỡ òa hạnh phúc/ Khắp phố phường đỏ rợp cờ sao/ Người ôm người khóc cười trong nước mắt/ Nén trong lòng những vết cắt thương đau.

Ngày đất nước thống nhất, đứa con gọi mẹ trong niềm hân hoan bằng lời thông báo: “Con sống rồi mẹ ơi!”. Đọc bài thơ người đọc không khỏi rưng rưng, xúc động với những gì mà đứa con giãi bày. Tiếng gọi mẹ trong niềm vui trào dâng nhưng đằng sau đó cũng là nỗi xót xa khi những người bạn, người đồng chí của mình đã ra đi mãi mãi.

Con sống rồi/ Tưởng không ngày trở lại/ Tưởng như thật như mơ/ Đất nước reo vui đỏ rợp sắc cờ/ Tiếng reo đầu tiên/ Con xin dâng cho Mẹ/ Và có lẽ phía bên kia cũng thế/ Người lính hàng binh./ Vất quân trang vũ khí xuống đường/ Cũng chắp tay gọi Mẹ…// Con gục đầu vào Mẹ/ Mà không dám reo vang/ Bao bà Mẹ mất con/ Bao người vợ mất chồng/ Nước mắt nhòa bảng Tổ quốc ghi công/ Khói nhang bay trên nấm mồ Liệt sĩ/ Ai biết hòa bình/ Bao máu xương phải trả?/ Con của mẹ sống rồi/ Trong đất nước trường sinh!

Đất nước hòa bình, anh tiếp tục cống hiến, góp phần nhỏ bé của mình vào sự phát triển chung của đất nước. Những ngày lễ, các dịp Tết đến, xuân về, các buổi hội họp… làm cho anh càng thương nhớ hơn những người đồng chí, đồng đội của mình năm nào. Chứng kiến những đổi thay, phát triển và cả những mặt trái của đời sống cũng làm cho Trần Ngọc Phượng trăn trở, suy tư. Ở đó vừa thấm đẫm niềm tin, khát vọng vừa có điều gì đó tiếc nuối, xót xa.

Giai đoạn từ 2005 đến nay: Đây là lúc hồn thơ Trần Ngọc Phượng sâu lắng nhất, mang nặng những suy tư, trăn trở của một con người có nhiều trải nghiệm. Từ lúc nghỉ hưu, anh có thời gian để làm thơ, yêu thơ và sống nhiều hơn với thơ. Nhiều tập thơ của Trần Ngọc Phượng được xuất bản ở giai đoạn này.

Điều đặc biệt, trong hành trình sáng tạo của mình, trong từng giai đoạn Trần Ngọc Phượng có những bài thơ viết về mùa xuân mang nét riêng và gắn với những sự kiện, nhân vật, hình ảnh, con người… với những cảm xúc rất mực chân thành của một trái tim nhạy cảm và da diết yêu thương. Trần Ngọc Phượng có nhiều bài thơ giàu cảm xúc viết về chủ đề mùa xuân như: Lá thư Mậu Thân, Ký ức Mậu Thân, Con sống rồi mẹ ơi, Nắng xuân Sài Gòn, Tiếng xuân, Rượu xuân, Giọt xuân, Con tàu năm mới…

Biểu hiện rõ nét trong thơ Trần Ngọc Phượng nói chung và những bài thơ Xuân nói riêng đó là kiểu kết cấu bài thơ theo dòng cảm xúc, tâm trạng. Tứ thơ thường được xây dựng trên cơ sở những phạm trù đối lập. Đó là sự trăn trở, khắc khoải, suy tư, chao đảo giữa hạnh phúc - khổ đau; vui - buồn; được - mất; bình yên - bão tố; chiến tranh - hòa bình; xuân sắc - tàn phai…

Bài thơ Ký ức Mậu Thân với bao nụ cười và nước mắt, niềm tin yêu, hy vọng vào ngày đất nước hòa bình; ở đó là những hy sinh, mất mát, nỗi day dứt khôn cùng của nhà thơ với những đồng chí, đồng đội đã ngã xuống để bảo vệ mảnh đất quê hương.

Bao máu xương tạo ra bước ngoặt/ Thế tiến công tạo dáng đứng Việt Nam/ bao xương cốt còn trong lòng đất/ Những hố chôn tập thể vẫn đang tìm.

Tâm trạng của người xa quê hương, nhớ về tổ ấm. Có dịp trở lại lòng dậy lên bao nỗi niềm, ký ức thuở nào bỗng trỗi dậy. Bên cạnh niềm vui, sự ấm áp còn là nỗi đau đáu khi: “Bao người bạn cũ đi xa không về” (Rượu xuân).

Diễn tả một cách tự nhiên, chân thật dòng cảm xúc của nhà thơ trước những biến động của đời sống.

... Tiếng xưa chìm nổi đoạn trường/ Tiếng nay ào ạt phố phường vào xuân/ Đời người một kiếp trầm luân/ Bốn mùa mưa nắng cũng ngần ấy thôi/ Mà sao lòng dạ bồi hồi/ Bâng khuâng thời khắc đất trời chuyển giao (Tiếng xuân).

Không gian nghệ thuật trong những bài thơ Xuân của Trần Ngọc Phượng có sự kết hợp của nhiều yếu tố: cảnh sắc thiên nhiên, cảm xúc, rung động của con người…

Nắng xua đi những ưu phiền/ Vui bên con cháu an nhiên cuộc đời/ Bến Thành tấp nập ngược xuôi/ Dòng kênh Nhiêu Lộc, nắng cười gió reo// Đường đi còn lắm cheo leo/ Chuông chùa bái vọng những điều bình an/ Bên nhau lời chúc hân hoan/ Mang bao khát vọng ngập tràn nắng xuân (Nắng xuân Sài Gòn).

Thời gian trong trong thơ anh không chỉ là thời gian diễn ra theo quy luật tuần hoàn của tạo hóa mà sự đan cài, đồng hiện giữa quá khứ - hiện tại - tương lai. Ở tuổi xế chiều của đời mình, trước thềm năm mới Trần Ngọc Phượng lại có những cảm xúc, sự nhìn nhận tinh tế và rất đỗi chân thành.

Mặc thân già rệu rã tuổi hoàng hôn/ Theo con tàu bước vào năm mới/ Vẫn náo nức những chân trời vẫy gọi/ Tiếng còi tàu thôi thúc những sân ga// Tàu băng qua những đồng lúa bao la/ Những thảm cỏ ta ngã mình ngày trước/ Những ngọn núi chon von ta đã trèo lên được/ Và dòng sông thác đổ những đêm mưa.// Mỗi ngày qua đi, thay đổi đến không ngờ/ Những thành phố nguy nga, những công trình đồ sộ/ Tàu lướt qua bao mặt người rạng rỡ/ Nụ cười tươi trong sắc nắng bình minh.// Cảm ơn người cho đất nước bình yên/ Trong thế giới giết nhau bằng pháo, bom tọa độ/ ta gắng chạy theo thời công nghệ số/ Để cháu con vùng vẫy bay cao// Những đau buồn hãy để lại phía sau/ Còn trăn trở lúc nào chẳng có/ cứ anh nhiên, con đường, ai cũng đi tới đó/ Ta bước vào năm mới thế rồng bay (Con tàu năm mới).

Có dịp du xuân ở Đà Lạt vào dịp Tết Canh Tý - 2020, Trần Ngọc Phượng có ngay bài Tết Đà Lạt: Tết đi chơi Đà Lạt/ Tìm suối hát, thông reo/ Người kéo về dày đặc/ Kẹt xe đến chân đèo/… / Đà Lạt đang trẻ lại/ Còn ta đã già đi/ Đời sóng xô, thác nhảy/ Đừng ngẩn ngơ làm gì.

Trần Ngọc Phượng ý thức sâu sắc về sự trôi chảy của thời gian, anh trân trọng thời gian mình được sống, được yêu. Nhất là những tháng năm được ở bên em, vượt qua bao thăng trầm, buồn vui của cuộc sống. Những cung bậc yêu thương da diết, sâu lắng, đầy niềm tin và sự khát vọng của nhân vật trữ tình.

Giọt xuân lóng lánh sắc màu/ Lung linh năm tháng bên nhau đến giờ/ Đọng trên mái tóc bạc phơ/ Giọt xuân ấm mãi bên bờ vai em/ Lúc sóng gió, lúc dịu êm/ Buồn vui chia sẻ nỗi niềm tâm giao/ Tinh khôi như thuở ban đầu/ Càng dài năm tháng càng sâu nghĩa tình (Giọt xuân).

Nhà thơ hồi tưởng, tìm về những năm tháng tuổi trẻ, những năm tháng ác liệt ở chiến trường. Thời gian qua đi, kéo theo sự thay đổi của vạn vật, những địa danh năm nào gắn với bao nhiêu trận đánh, bao chiến công hiển hách cùng với đó là những người đồng chí, đồng đội của anh đã ngã xuống… Giờ đây, những nơi đó đã đổi khác. Nơi cửa ngõ anh nằm (viết nhân kỷ niệm 3 năm thành lập Thành phố Thủ Đức) là một trong số những bài thơ đầy xúc động, gợi nhắc về quá khứ đã qua và thực tại cuộc sống hôm nay.

Nơi cửa ngõ anh nằm/ Cầu Rạch Chiếc, Ngã ba Cát Lái/ Đường tiến quân xưa/ Dòng đời vẫn chảy/ Sông Sài Gòn hối hả, ngược xuôi// Anh nằm đây/ Trẻ mãi tuổi hai mươi!/ Cách đích đến chỉ vài gang tấc/ Máu xương anh tan vào lòng đất/ Kết tụ thành Linh khí Quốc gia// Đồi không tên xưa/ Thành Nghĩa trang Liệt sĩ*/ Các Anh về quây quần/ Quanh Mẹ Việt Nam/ Đường sắt trên cao như dải lụa vắt ngang/ Đây Đại học Quốc gia* căng tràn sức trẻ/ Kia Khu Công nghệ cao tinh hoa trí tuệ/ Viết tiếp thay anh/ Những ước mơ dang dở/ Cuộc sống chuyển mình/ Công nghệ số tương lai// Nơi anh nằm/ Bãi cỏ hoang mọc lên/ Những tòa nhà hiện đại nguy nga/ Ánh đèn đêm như vạn ánh sao sa/ Cầu Ba Son* giương cánh buồm khao khát/ Thủ Thiêm* như cô gái bao năm giấu mặt/ Nay hiện dần vóc dáng tươi xinh!// Hương khói bay.../ Khu Tưởng niệm Vua Hùng*// Về bên mộ anh/ Muôn vàn thương nhớ/ Nửa thế kỷ đi qua/ Mỗi bước đi, bao ngọt bùi cay đắng/ Chậm hay nhanh?/ Dài hay ngắn?/ Vẫn chưa hết đâu những tham nhũng bất công/ Nhưng niềm tin như sắc nắng ửng hồng/ Như tiếng trẻ reo vui/ Bên Suối Tiên* thác đổ/ Thủ Đức chợ hoa, mai vàng rực rỡ/ Nơi cửa ngõ anh nằm/ Thành phố mới** vào xuân!

Điều dễ nhận thấy trong các bài thơ xuân của Trần Ngọc Phượng là dù viết về điều gì bao giờ anh cũng có sự nuối tiếc về thời gian - khi mình đã không còn trẻ nữa, niềm tin tưởng vào tương lai của đất nước. Tự thức sâu sắc điều này nên anh đã sống và làm theo cách của riêng anh bằng tinh thần trách nhiệm của một công dân trước thời cuộc. Nhà thơ đi sâu vào thể hiện những chủ đề, khía cạnh khác nhau bằng cảm xúc trữ tình của thời đại mình đã và đang sống. Những sự kiện lịch sử, những biến cố thời đại, những cảnh đời dâu bể… qua sự thẩm định, trải nghiệm, giàu suy tư và khát vọng làm cho tiếng thơ đau đáu và nhân bản hơn. Những kỷ nguyên đất nước là một trong số những bài thơ hay của anh. Bởi ở đó, Trần Ngọc Phượng đã giãi bày được rất nhiều điều mà trong hành trình sống, chiến đấu, làm việc đến khi nghỉ hưu   và cả những năm tháng tuổi già này anh đúc rút được. Cái đau đáu nhất với anh vẫn là làm thế nào để cho dân được sống trong no ấm, văn minh, hòa bình và nhân văn nhất có thể...

Cả đời ta tắm mình trong kỷ nguyên đất nước/ Khi Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập/ Đất nước đứng lên phá vỡ xiềng gông/ Ba mươi năm chinh chiến bão giông/ Bao thế hệ hy sinh, bao máu xương đã đổ/ Để Tháng Tư về rợp trời cờ đỏ/ Người ôm nhau nước mắt vỡ òa// Khi non sông đã thuộc về ta/ Cái đói cái nghèo cứ bám theo dai dẳng/ Đổi mới ra đời từ khát vọng vươn lên/ Những lý luận giáo điều vứt sang một bên/ Thi nhau làm dân giầu nước mạnh/ Các tỷ phú ra đời, các công trình đồ sộ/ Hàng Việt Nam rạng rỡ bốn phương/ Kinh tế thị trường đủ thứ bán buôn/ Người tốt nhiều và kẻ gian cũng lắm/ Bán lương tâm mua quan bán chức/ Quan triều đình cũng rơi rụng như sung/ Chỉ có tình dân rộng mở đến vô cùng/ Chở che nhau qua bão giông lũ lụt// Đất nước nay/ Chuyển mình vào công nghệ số/ Trong trái đất mong manh như quả cầu dễ vỡ/ Giữa thời thế đảo diên /Giết nhau bằng pháo bom siêu thanh tọa độ/ Ta quý sao đất nước bình yên/ Chọn con đường vươn lên giầu có/ Chọn cơ hội, xin đừng bỏ lỡ/ Kinh tế xanh, kinh tế sạch tuần hoàn/ Tương lai như quả ngọt trên cành/ Cho dân mình nhân ái thông minh./.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm