TIN TỨC

Nguyễn Minh Tâm với ‘Ấm lạnh pháp đình’

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-09-02 14:37:48
mail facebook google pos stwis
2399 lượt xem

NGUYỄN VĂN HÒA

 (Nhân đọc tập thơ Ấm lạnh pháp đình của Nguyễn Minh Tâm, Nxb Hội Nhà văn, 2023)  

Ấm lạnh pháp đình là tập thơ thứ 3 của nhà thơ, luật sư Nguyễn Minh Tâm. Đây là một tập thơ khá đặc biệt, bởi tác giả tập thơ là người hành nghệ luật chứ không phải hoạt động bên lĩnh vực văn chương. Và tất cả 104 bài thơ đều xoay quanh vấn đề pháp đình. Để thể hiện và chuyển tải những vấn đề nơi pháp đình bằng thơ với những vần thơ đậm chất trữ tình, sâu lắng thì không phải ai cũng có thể làm tốt như Nguyễn Minh Tâm.

Ấm lạnh pháp đình, hiển hiện rất nhiều những sự việc, tình huống với nhiều cung bậc sắc thái mà nhân vật trữ tình là người chứng kiến, thậm chí những hình ảnh đó đã trở thành nỗi ám ảnh thường trực trong tâm hồn. Vì thế, xuyên suốt trong thi tập là những vấn đề được nói đến rất thành thực, bộc lộ rõ những tâm tư, nỗi lòng của một con người có trái tim nhân ái, biết đau nỗi đau của người khác, biết cảm thông cho những phận người bé mọn trong cõi nhân sinh rộng lớn này.

Một đời mải miết bôn ba

Ước mong tìm một bài ca nhân tình

Nắng mưa ấm lạnh pháp đình

Thương bao thân phận bập bình nổi trôi…

Ấm lạnh pháp đình là nhật ký hành trình cả trong hiện thực lẫn trong tâm tưởng. Ở đó là tấm lòng, là thái độ sống với những suy ngẫm, triết luận sâu sắc của một người sống có trách nhiệm, có nghĩa khí và hơn hết là con người sống có tâm. Nhà thơ, luật sư Nguyễn Minh Tâm không phải chỉ sống cho bản thân mà luôn nghĩ về người khác, những người có số phận, hoàn cảnh đáng thương.

Tôi đã từng được nghe anh kể về những câu chuyện nhói lòng sau mỗi phiên tòa xét xử. Mỗi gia đình, mỗi số phận, mỗi hoàn cảnh đều có những nỗi niềm riêng. Nhưng cái hiện hữu vẫn là tình người. Không ở đâu thấy rõ sự đau đớn, chua chát, phân ly và rất nhiều câu chuyện bi hài như ở những phiên tòa. Là vị “lão làng” trong ngành luật như Nguyễn Minh Tâm thì hơn ai hết anh thấu rõ điều đó. Có lẽ, với chuyên môn thâm niên như anh cộng với sự nhạy cảm, tinh tế của một tâm hồn thi sĩ đã giúp Nguyễn Minh Tâm “phóng bút” để cho ra những vần thơ da diết, thấm đẫm nỗi đời, nỗi người, nỗi nhân tình thế thái như thế. Cái tôi triết luận của Nguyễn Minh Tâm được đúc kết từ sự trải nghiêm của bản thân, từ những chiêm nghiệm, suy nghĩ thật chín chắn nên rất mực chân thành và có sức thuyết phục.

Điều làm nên sự khác biệt và cũng là điểm nổi bật trong thơ Nguyễn Minh Tâm dường như dù có nói đến những nỗi buồn, nỗi đau, sự trăn trở, khát vọng, hoài nghi... nhưng vẫn thấy đằng sau đó có chút hóm hỉnh. Cái hóm hỉnh của một người giàu trải nghiệm và đậm chất trí tuệ.

- “Anh một nửa khô cằn như pháp luật/ Một nửa mình lại ướt đẫm thi ca/ Hai nửa ghép thành trái tim u uất/ Nên chẳng giọt máu nào nở được thành hoa”.

- “Quá nửa đời mải miết đi/ Vẫn chưa tìm được cái gì.../ Chán chưa/ Thì quay về với muối dưa/ Chấm thêm chút nắng chút mưa cho nồng/ Chan thêm một chút đèo bòng/ Rồi sùm sụp húp.../ Cho lòng/ đỡ vênh!!!” (Tìm).

Hiện thực xã hội càng trở nên nhức nhối do tác động của nền kinh tế thị trường với những lối sống phức tạp. Chính vì thế, nơi pháp đình cũng có nhiều những điều cần phải xem xét lại. Thế nhưng, đôi lúc Nguyễn Minh Tâm cũng phải tự thán:

“Công lý vốn dĩ công bằng

Chả phân biệt ông với thằng đâu em

Chỉ vì thời buổi nhá nhem

Thì thằng, ông mới nhập nhèm thế thôi”.

Nỗi buồn trong thơ Nguyễn Minh Tâm còn đến từ cảm giác bất lực trong việc nhận thấy đạo đức xã hội đang băng hoại, xuống cấp một cách nghiêm trọng.

Những trạng huống bi - hài trong đời sống trở nên phổ biến nhưng tận trong sâu thẳm tâm hồn người thi sĩ, luật sư Nguyễn Minh Tâm vẫn còn niềm tin và khát vọng về những điều tốt đẹp ở phía trước. Không chỉ lạnh lẽo, giá băng ở nơi pháp đình mà ở đó vẫn còn những ấm áp của tình thương, tình người, sự ấm áp của công lý, của lẽ phải và những giá trị nhân bản vĩnh hằng.


Nhà thơ Nguyễn Minh Tâm và tác giả (TP.HCM, ngày 31/8/2024)

Trong Ấm lạnh pháp đình, Nguyễn Minh Tâm đã tạo ra nhiều tiếng nói, nhiều đối tượng để đối thoại nhưng kỳ thực là nhà thơ đang nói với chính mình. Bộc lộ một cái tôi muốn bứt phá vượt qua mọi giới hạn để thể hiện tình yêu thương da diết, sự cảm thông sâu sắc đến thân phận con người.

Nhà thơ có những khoảnh khắc phơi trải đến tận cùng nỗi buồn, sự trăn trở, hoài nghi. Đây không phải là sự suy nghĩ tiêu cực của nhà thơ mà đó là một thực tế. Nguyễn Minh Tâm nhận thức rõ điều đó để khẳng định cá tính và nhân cách của chình mình.

Chỉ mong sao công lý/ Đừng đội nón ra đi/ Cho niềm tin còn lại/ Khỏi đến ngày suy vi (Đại, tiểu).

Là người có thâm niên trong nghề luật nhưng đôi lúc anh cũng tỏ ra hoài nghi về kết quả của một số phiên tòa.

Lại cái chuyện oan khuất/ Ám ảnh suốt mười năm/ Cứ dằng dai dai dẳng/ Bây giờ lại sủi tăm!// Bản án vô thiên lý/ Bất cần cả Đạo Đời/ Xói vào Luật Nhân Quả/ Cứ như là khoái chơi!// Này nọ kia là thế/ Vì oan khuất ở đời/ Chẳng còn là cá biệt/ Thiên lý Nhân lý ơi !!!// Ngồi lặng thương thân chủ/ Lặng lẽ viết thành thơ/ Nghe lòng mình rỉ máu/ Suốt mười năm đến giờ...

Vì thế, Nguyễn Minh Tâm có nỗi đau riêng của chính anh, của nghề mà anh đã và đang làm. Ở đó, anh tự dặn mình phải sống và làm việc cho đúng với đạo đức, lương tâm của người thực thi công lý. Trong bài thơ Đau nghề, người đọc sẽ thấy rõ điều đó.

Đau cho thế thái nhân tình

Buồn cho hai chữ nhục vinh của đời

Đau cho nghề lắm, nghề ơi

Coi chừng chết đuối khi bơi giữa dòng

Ta đau như muối xát lòng

Nỗi đau vón cục ở trong dạ này

Tưởng là xuân đến trong tay

Ai hay tuyết lạnh còn bay giữa trời

Thương con trẻ dạ non người

Buồn vui lẫn trộn khóc cười thế gian

Đường nghề còn lắm gian nan

Có đâu chỉ một cung đàn này thôi...

Ngẩng đầu nhìn bóng mây trôi

Cái tôi nào cũng là tôi vô thường

Ta đau trong một niềm thương

Vẫn tin con vững trên đường mai sau...

Nỗi niềm của chính những người trong ngành lại làm cho những người ngoài cuộc cũng cảm thấy xót xa.

Cái tôi thao thức, trăn trở trước những điều đã và đang diễn ra trong đời sống là hoàn toàn có cơ sở. Công việc và cuộc sống đã cho nhà thơ, luật sư Nguyễn Minh Tâm những chiêm nghiệm sâu sắc về lẽ đời, tình người.

Người đời sẵn căm thù cái ác/ Bất lực nhìn cái ác cứ lên ngôi/ Bao điều thiện rẻ ròng như cỏ rác/ Thiện lương ơi?/ Người ngủ ở đâu rồi?// Trưa không ngủ lão nằm trơ mắt ếch/ Thơ lên tiếng kêu dưới đáy giếng cạn dòng/ Vòm trời rộng trên cao xanh tít tắp/ Có áng mây nào ghé xuống giếng này không?”.

Người đọc dễ nhận ra, trong Ấm lạnh pháp đình, Nguyễn Minh Tâm dùng nhiều cặp phạm trù đối lập. Nhằm làm nổi bật những mảnh đời, những hoàn cảnh, số phận con người thật đáng thương tâm trước bao đảo điên, phi lý. Đó là thực tế đáng buồn.

Vấn đề mang tính thế sự, đạo đức đang hiện diện. Ở đó còn có những bất công, ngang trái, những tiếng kêu oan rên xiết thấu trời, bởi:

“Hành luật mà bất luật/ Thì luật sẽ bị hành/ Vì đã biến luật thật/ Thành luật của rừng xanh// Và những lúc như thế/ Oan khuất sẽ xảy ra/ Tiếng kêu oan thảm thiết/ Sẽ rung cả sơn hà”.

Và ở đó, nhà thơ, luật sư Nguyễn Minh Tâm còn đưa ra lời cảnh báo:

“Kẻ gây ra oan khuất/ Bất kể động cơ gì/ Nếu ngày xưa chắc chắn/ Sẽ phạm tội: tru di// Đạo lý đang thầm thì:/ Quay đầu là bờ đấy”.

Đọc Ấm lạnh pháp đình của Nguyễn Minh Tâm tôi càng trân quý hơn tấm lòng, phẩm hạnh của người luật sư có tâm hồn thi sĩ sống nghĩa khí, trách nhiệm như anh! Anh dám nói lên những sự thật, sự thật đang hiện hữu, ai cũng biết nhưng có thể nhiều người ngại nói hoặc không dám nói.

Nhiễu từ tên xuống dưới/ Nhiễu từ dưới lên trên/ Nhiễu ba bề bốn bên/ Chẳng biết đâu mà tính// Cái hôm qua tưởng chính/ Hôm nay lại hóa tà/ Tưởng đã có đường ra/ Ai ngờ đâu ngõ cụt// Cũng từ một ngọn bút/ Vẽ đảo đủ mọi chiều/ Vừa ghét đấy lại yêu/ Cứ xoay như chong chóng// Vừa mở ra lại đóng/ Chả ai biết thế nào/ Nhấp ly cà phê nóng/ Tự mình ngồi chiêm bao (Nhiễu).

Để rồi, có lúc Nguyễn Minh Tâm lại tự vấn, độc thoại với chính mình trước những biến động xảy ra trong cuộc sống lẫn trong chiều sâu tâm cảm.

Có những lúc ta ngồi vơ vẩn/ Đằm mình trong chuyện nọ chuyện kia/ Lại có khi tự mình ngơ ngẩn/ Cứ loay hoay trong ruột ngoài rìa/ Lại có lúc thờ ơ mọi thứ/ Đưa mình về một ốc đảo hoang vu/ Như Robinson của câu chuyện cũ/ Giữ lòng trong không một gợn mây mù/ Và có lúc cuộn sôi dữ dội/ Như khơi xa ào ạt sóng xô bờ/ Em - bờ cát cứ trơ mình vô cảm/ Để con sóng hữu tình vỗ ất vỗ ơ/ Cũng có lúc.../ Thôi chả cần nói nữa/ Tâm trạng kia có gì lạ đâu mà/ Đời dẫu lạnh như băng, có cồn cào như lửa/ Thì với mình ta vẫn cứ là ta (Độc thoại).

Ấm lạnh pháp đình là một tập thơ mang nhiều nỗi trắc ẩn của một người đi qua những thăng trầm của cuộc sống, của hoạt động nghiệp vụ chuyên môn. Bên cạnh những hoài nghi, trăn trở, thao thức Nguyễn Minh Tâm còn có niềm tin vào những điều thiện lương tốt đẹp ở phía trước.

Ta vẫn giữ một niềm tin có thật/ Vầng trăng kia sẽ tỏa sáng bầu trời/ Như Công lý dẫu xa mờ trong đục/ Sẽ có ngày như trăng đấy, trăng ơi… (Vầng trăng).

Với nhà thơ, luật sư Nguyễn Minh Tâm thì dù rơi vào tình huống bi đát nhưng nếu chúng ta có niềm tin, có sự kiên trì, tinh thần lạc quan thì mọi thứ cũng sẽ dần được hóa giải.

“Đêm tối như hũ nút/ Có một vầng sáng xa/ Cứ đi về hướng ấy/ Sẽ gặp một bao la// Phải kiên trì nhẫn nại/ Trái tim thắp sáng mình/ Khi vượt qua đêm tối/ Sẽ òa một bình minh// Với niềm lạc quan ấy/ Dẫu dò từng bước đi/ Sẽ nghe tiếng chim hót/ Vọng trong ta thầm thì…”.

Ấm lạnh pháp đình, Nguyễn Minh Tâm đã tạo ra được một hệ thống từ ngữ mang nét riêng, vừa trữ tình, sâu lắng, vừa chân thành, triết lý, chiêm cảm. Tất cả những nét riêng này được đặt trong từng chỉnh thể của mỗi bài thơ trong một không - thời gian khác nhau tạo thành một giọng điệu thơ Nguyễn Minh Tâm rất riêng. Ấn tượng nhất là không gian, thời gian ở pháp đình, ngôn ngữ chuyên môn về chốn pháp đình được dùng với tần số cao. Cùng với đó là cách vận dụng linh hoạt các thể thơ, các biện pháp tu từ: so sánh, ẩn dụ, nhân hóa và cả phép đối lập... Điều này đã tạo nên một thế giới nghệ thuật thơ đa thanh với những sáng tạo mới mẻ: vừa hiện thực, triết luận, vừa truyền thống, vừa cách tân, vừa bình dị nhưng cũng vừa trang trọng.

Ấm lạnh pháp đình của Nguyễn Minh Tâm là tiếng lòng của một nhà thơ, một luật sư sống có tinh thần trách nhiệm với công việc, sự quan tâm, sẻ chia với mọi người xung quanh, sống nghĩa tình trước sau trọn vẹn.

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm