TIN TỨC

Nguyễn Thanh - Thuyền thơ đậu bến Ninh Kiều

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-10-23 13:16:37
mail facebook google pos stwis
4983 lượt xem

 

 “Bến xa lớp lớp đò chiều/ Đêm về mở hội Ninh Kiều đèn hoa/ Tiếng đàn quyện ấm lời ca/ Hôm nào thành phố không là hội xuân !” (Ninh Kiều) 

 

Thuyền thơ của nhà thơ, nhạc sĩ, nhà hội họa Ngũ Lang Nguyễn Thanh sớm đậu bến Ninh Kiều, một thắng cảnh của sông nước hữu tình Cần Thơ, Tây Đô của Đồng bằng sông Cửu Long sau ngày thống nhất đất nước. Bài thơ Bến Ninh Kiều của tác giả sáng tác vào năm 1976 đã nói lên điều đó mà tôi cảm nhận được trong bốn dòng lục bát.

Tuy nhiên, kể từ ngày ấy đến nay, nàng Thơ mới cùng nhà thơ đa cảm đa tình nhổ neo bồng bềnh trên chín khúc sông Rồng tìm cảm hứng. Ôm đàn dạo Tình khúc mùa xuân, trao nhau Lời tự tình mùa thu và gần đây cùng cặp Bến tình đầy thơ mộng.

Nhà thơ, nhà NCPB, Họa sĩ Nguyễn Thanh - Ngũ Lang

Nhà thơ, nhạc sĩ, nhà hội họa Ngũ Lang tên thật là Nguyễn Tấn Thành, các bút danh khác: Nguyễn Thanh, Đan Thanh, Phương Đình, Tương Như, Diễm Thi,… Trên các họa phẩm anh ký Đan Thanh hoặc Nguyễn Thanh, nơi chào đời là xã Tân Quới, quận Bình Minh, Cần Thơ nay thuộc tỉnh Vĩnh Long.

 Anh đã qua chương trình Cao học Văn chương do Giáo sư Bửu Cầm (1920-2010) bảo trợ tại Đại học Văn khoa Sài Gòn (1972-1975) sau khi tốt nghiệp Tú Tài Toàn phần Toán, Tú Tài Toàn phần Văn chương- Sinh ngữ và Cử nhân Văn khoa tại trường Đại học Cần Thơ, Võ sư Judo cùng thế hệ với các võ sư : Nguyễn Văn Chơi (8 đẳng), Ung Phụng Võ (7 đẳng)… Anh từng là Huấn luyện viên võ thuật (1959) tại Long Mỹ, Cần Thơ, giáo viên dạy Văn, Ngoại ngữ và Mỹ thuật tại các trường trung học Phan Thanh Giản và Châu Văn Liêm, Cần Thơ. Ngũ Lang (Nguyễn Thanh) hiện nay là Chủ nhiệm Trung tâm Ngoại ngữ Đăng Khoa (từ 1970) chuyên dạy Ngoại ngữ và Biên dịch cùng cơ sở Mỹ thuật Đan Thanh (từ 1967).

Trước năm 1975, thơ văn của Ngũ Lang - Nguyễn Thanh thường đăng trên các báo và tạp chí: Văn, Nghiên cứu Văn học, Văn hóa Nguyệt san, Văn nghệ, Nghệ thuật, Phổ Thông, Tự Quyết, Tiếng vang, Tia sáng, Thức, Miền Tây,… và chủ trương Tạp chí tiến bộ Văn nghệ Miền Tây 1,2,3,4,5 (Cần Thơ, 1967-1970), Lập trường (Vị Thanh-1970), Niềm Tin (Long Mỹ,1959-1963), Nắng Mới (Cái Răng, 1972-1974), Phan Thanh Giản (Cần Thơ, 1974-1975) và Văn nghệ Thành phố Cần Thơ 1975-1977). 

Sau ngày thống nhất đất nước 30/4/1975, Ngũ Lang - Nguyễn Thanh là Tổng thơ ký hội Văn nghệ Giải phóng Thành phố Cần Thơ. Anh vẫn giữ nguyên bút danh, tiếp tục dạy học và làm thơ và viết truyện, bài phê bình, vẽ tranh và có bài đăng thường xuyên trên các tạp chí văn nghệ của ba miền đất nước: Văn nghệ, Thơ, Nhà văn, Văn nghệ Công an… Và Tuần báo Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh, Hồn Việt, Kiến thức Ngày nay, Sài Gòn Giải phóng, Áo Trắng, Thời Văn, Chân Quê,.. (TP.HCM) và những tạp chí Văn nghệ các tỉnh: Hậu Giang, Cần Thơ, Bông sen, Cửu Long, Nha Trang, Trà Vinh, Đồng Tháp, Thất Sơn, Bến Tre, Kiên Giang, Cửu Long,.. Từ trước và sau năm 1975, Nguyễn Thanh cũng sáng tác tranh tham gia các cuộc Triển lãm và vẽ bìa, minh họa cho các sách báo vì anh là họa sĩ chủ nhiệm cơ sở Mỹ thuật Đan Thanh (từ 1967) tại Cần Thơ và Vị Thanh.

 Tác phẩm đã in hoặc đăng trên các báo và tạp chí văn nghệ: Những áng văn hay I (Phần thơ và lời bình), Cần Thơ ấn quán 1962, Những áng văn hay II (Phần Văn và lời bình), Cần Thơ ấn quán 1963, Ngũ Lang Nguyễn Thanh còn có thơ in chung trong nhiều tuyển tập.              

Tác phảm in riêng:

1) Thơ: Tình khúc mùa xuân (NXB Mũi Cà Mau, 2003), Lời tự tình mùa thu (NXB Văn nghệ TP. HCM 2004), Bến tình (NXB Văn nghệ TP. HCM 2007).

2) Truyện ngắn: Người vợ hai lần cưới (NXB Văn nghệ TP. HCM 2008). Yêu chỉ một lần (NXB Hội Nhà văn 2021).

3) Nhạc: Thương hoài (NXB Âm nhạc, 2013).

4) Tiểu luận: Những nét đan thanh (NXB Văn nghệ TP.HCM 2010)

5) Biên dịch:  Nhiếp ảnh nữ Đồng bằng sông Cửu Long - Linh Phượng (Việt- Anh): The Mekong Delta Women Photographers - Van nghe Cantho Association publishing house, 2002, Cantho; + Quê hương - Trần Tuyển (Việt-Pháp): Pays natal (Edition Van hoa Van nghe - HCM ville, 2016); +Hương sắc bốn phương (Việt-Anh-Pháp-Nga-Phần Lan-Trung Quốc…): +Miscelleneous poems (NXB Văn hóa-Văn nghệ TP. HCM); Love Poems -Thơ tình Việt-Anh (NXB Văn hóa Văn nghệ TP. HCM 2013); + Poèmes d’Amour (NXB Hội Nhà văn 2013). Đời và Thơ - Huỳnh Văn Bá Việt-Anh-Pháp-Hoa, (NXB Hội Nhà văn 2021);+ Aloe isn’t medicine but yet it cures! (Father Romano Zago-OFM): Nha đam không phải là thuốc nhưng nó chữa khỏi bệnh ; + Cancer can be cured ! (Father Romano Zago-OFM): Ung thư có thể chữa khỏi!

6). Biên tập và Hiệu đính : + Thơ Thiền đời Lý - TS. Ngô Hồ Anh Khôi (NXB Hội Nhà văn 2013); + Đối đáp và xướng họa thơ Đường TS. Ngô Hồ Anh Khôi (NXB Văn hóa-Văn nghệ TP. HCM); + Lục bát ký sự TS. Ngô Hồ Anh Khôi (NXB Hội Nhà văn 2013); + Chim được về đàn Võ Thanh Hùng (NXB Văn hóa-Văn nghệ TP. HCM, 2015).

**

Trong hai thời kỳ, gần một phần ba thế kỷ, trên chiến trường Miền Nam nhất là các tỉnh trên phần đất Nam bộ, kinh rạc như trận đồ bát quái, xuồng ba lá, áo bà ba là biểu tượng của những chiến binh chân đất khăn rằn quàng cổ, súng nựa trời, bom mìn tự tạo góp phần vào chiến thắng cuối cùng của dân tôc anh hùng trước quân thù ngoại bang siêu cường, hiện đại. Nhà thơ Ngũ Lang, người con miền Hậu Giang là nhân chứng

của thời kỳ lịch sử của quê hương. Anh đưa vào thơ ngữ cảnh và hình ảnh đẹp đó với niềm cảm xúc tha thiết đậm đà : “… Ôi dáng đẹp sáng một trời xuân rộng / Nên gam nền anh tô sắc thiên thanh/ Mái tóc em, sông ngút một dòng xanh/ Sợ chết đắm, anh run run nét cọ..”.

Run run nét cọ vì sợ chết đuối khi anh vẽ hình ảnh cô du kích hay cô gái giao liên giữa trời xuân rộng - một cách ẩn dụ làm nên tuyệt tác của nhà Thơ, cũng như đưa hình bóng quê hương vào chiếc áo : “Xuân đã chín với muôn hồn sung sướng/ Chiếc áo em mang hình bóng quê hương/ Nhắc anh thêm son sắt mối tình chung/ Với đất mẹ và cội nguồn nguyên thủy”.Đa cảm đến thế là cùng ! Và nhờ đâu một cuộc chiến dài ngày áo bà ba đã sờn vải, bạc màu, ngày đêm không ngớt chống chèo đưa quân vào trận địa, đưa cán bộ về hậu phương qua bao nhiêu đồn bót quân thù không ngại hiểm nguy, vì em có trái tim hồng yêu nước! : “Thời bom đạn nốt nhạc buồn thế kỷ/ Áo bạc sờn xuồng ba lá chống chèo…Nhưng em có trái tim/ Gam hồng tươi anh vẽ cảnh bình minh/ Mùa hội nhập, em lên đường phía trước” (Chiếc áo quê hương).

Tô đậm thêm nét sử vàng vệ quốc, những chàng trai anh hùng, gái dũng sĩ làm rạng rỡ núi sông, xứng danh con Lạc cháu Hồng, nhà thơ Ngũ Lang không tiếc lời biểu dương ca tụng: “Đẹp kỳ vĩ bao chàng trai chân đất/ Mang núi sông trên cánh mũ tai bèo/ Tiếng cười giòn như lá ngụy trang reo/ Theo lời Bác đi xây đài chiến thắng/ Anh chào đời trong rực rỡ bình minh” (Người ấy là anh). 

 Đất nước hòa bình, anh làm cuộc viễn du tìm quá khứ. Vết thương chiến tranh gần ba mươi năm lành lặn, hình hài đất nước đỏ thịt thay da: “Tan giấc xưa những ngày mưa bùn gió bụi/ Mùa nay, mái ngói đỏ au, mùi gạch mới thơm nồng/ Lớp lớp nhà cao níu mây trời vòi vọi cột ăng- ten/ Đợi đêm về rực mắt hoa dăng/ Dặt dìu cung nhạc, ấm áp lời thơ/ Giao lưu đại hội/ Tràng pháo cưới em nổ dòn tan”.

Rồi hồn thơ Ngũ Lang bay vút về vùng màu sắc, âm thanh quyến rũ, trữ tình, nơi đang mang giọt máu phù sa ươm mát những nương đồng, lúa vàng trĩu hạt…mênh mông như thảm lụa vàng: “Và trái xoài thơm thêm hồng má gái đương thì/ Đời như mộng rừng lá bay, chim bướm hát/ Anh về thăm Vị Thanh giữa mùa nắng ấm/Như trở lại E-Đen/ Em gái nhỏ ngày xưa đã sớm đăng khoa thành hoa hậu/ Những thanh niên ưu tú “Sao Mai”- tương lai sông nước miệt vườn” (Nắng ấm Vị Thanh).

 Không dừng lại ở đây, anh tiếp tục hành trình đến đất bạn Miền Đông với chiến khu Đ lừng danh cả nước. Những mái lá trung quân qua bao mùa nắng lửa mưa dầu vẫn còn đây chiến tích, thả hồn vào những dấu xưa : “Tôi thân xanh lá miệt vườn/ Bỗng ngây ngất phấn hương rừng sáng nay/ Hồn xa chìm giữa biển cây/ Bâng khuâng bừng dậy những ngày dấu xưa”. 

Với mái là trung quân, những dòng thơ của tác giả đã từng ghi sâu trong hồi ức: “Phiến lá nhỏ như bàn tay con gái/ Làm tán thiêng với sức mạnh diệu kỳ/ Nắng đạn mưa bom chung thủy chở che/ Mái nhà hẹp nhưng chứa hồn vũ trụ”

Quay về rừng U Minh rộng lớn mà anh cho đó là cuộc hành hương về miền đất hứa, xưa kia cũng chung số phận với thành đồng Tổ quốc, gót sắt bọn giặc xâm lăng đã hai lần

dẫm nát nơi đây, chất độc hóa học làm tàn úa màu xanh, giết chết mầm non đang tràn trề nhựa sống.

Cùng nhân dân cả nước chiến đấu rồi xây dựng, ngọn lửa hồng Nhật Tảo soi sáng màn đêm, ánh bình minh chói lọi, người dân U Minh đã làm nên những thay đổi diệu kỳ, khiến giấc mơ trở thành hiện thực. Ngũ Lang dìu Nàng Thơ cùng anh du ngoạn khắp

miền đất đang được hồi sinh, để ngắm ghe xuồng dập dìu bến sông Vĩnh Thuận, nếm vị ngọt thơm lừng của trái khóm Chắc Băng Cạnh Đền: “Để một ngày/ Em sẽ ghép chung chung hồng thiếp/ Bà con/ Cùng nâng ly rượu mừng/ Hồ Hoa Mai làm nơi non thề biển hẹn…/ Son sắt bên nhau như dòng sông Trẹm/ Gắn bó muôn đời đất mẹ U Minh/ Đất của bốn mùa xanh/ Mãi mãi mang màu xuân hoa nguyệt quế” (Màu xuân U Minh).

 

“Không đến Vòng Cung chưa phải là nghệ sĩ”, lời nói thật xúc động, vì những dấu ấn lịch sử nơi đây đều là huyền thoại đất và người. Dũng sĩ dùng chiếc búa bày mưu giết giặc, dân không ngán sợ mổ bụng moi tim, bám trụ giữ làng dù phải gối đất ẩm. Mẹ anh hùng Lê Thị Phát chịu nhục hình đợi ánh hồng lên và bia căm thù bên bờ sông Ba Mít vững chãi nào thua tòa Bạch Ốc, cơ quan đầu não của đế quốc Mỹ siêu cường, khiến nhà thơ nặng lòng về quá khứ mà giữ mãi một niềm tin: “Vòng Cung nay rực sáng bình minh/ Núi sông hội nhập mùa xuân thắm/ Hương sắc tươi màu nét mặt xinh” (Hành Vòng Cung).

 

Từ bài thơ Lời tự tình mùa thu, đã có lời bình của Nhà văn, GS Trần Phỏng Diều, tôi không muốn thêm một sự cảm nhận nào nữa vì coi như đã quá đủ. Tuy nhiên, nội dung bài thơ đã giúp ta hiểu được dù trong người nhà thơ đầy ắp tình yêu. Yêu quê hương đất nước, yêu đời, yêu văn chương, yêu quá khứ hào hùng của dân tộc, nhưng nhà thơ lại hụt hẫng trong tình yêu đôi lứa, mà có lẽ đây là tình yêu của tuổi đầu đời. Vì vậy trong dòng thơ tình của anh nghẹn lối ở bến tình nên tâm hồn anh luôn khắc khoải: “Tình yêu như cánh hỉ một câu đoàn tụ/ Mang nghìn nghĩa biệt ly…” (Bến tình).

          Và thấm thía hơn khi cảm nhận câu thơ của ông Hoàng thơ tình Xuân Diệu cắt nghĩa chữ “yêu”: “Yêu là chết ở trong lòng một ít”. Ngũ thi nhân không chỉ dừng ở nghìn nghĩa biệt ly mà còn là sầu vạn kiếp:” Đại ngàn ngủ, non vàng phơi vú mộng/ Hồn thăng hoa nhụy búp sớm phai hương/ Tình nên thơ như gió thỏang qua đường/ Yêu một phút vấn vương sầu vạn kiếp” (Phản đề).

Mang tâm trạng buồn vì cô đơn vào quán vắng để tìm giờ phút tịnh yên, nhưng như người mượn rượu giải sầu, sầu kia không dứt “Tá tửu giải sầu sầu cánh sầu ” (cổ thi), đó là trường hợp của tác giả Bến tình: “Đường phố từng hàng cây sánh đôi/ Nhưng ai đi dạo cũng hai người/ Mình ta lủi thủi thân đơn lẻ/ Quán vắng ngồi yên đếm lá rơi” (Một mình).

Tha thiết yêu mà tình yêu không trọn vẹn, anh muốn tìm người trong mộng để cùng Nàng “Hãy yêu anh với mọng chín đôi mội/ Bằng hơi ấm của vòng tay ân ái” và anh biết khi tàn canh mộng, tình yêu rồi sẽ chia xa : “Yêu một chút để nhớ hoài trọn kiếp/

Tình trăm năm đọng lại một ly này/ Rượu ngon đây, em uống nữa cho say/ Ví dụ rằng ta yêu nhau mãi mãi”.

 Xuất thân là nhà giáo, thông thạo ngoại ngữ Anh, Pháp, Hoa,…nên Ngũ Lang - Nguyễn Thanh đã chọn và dịch sang tiếng Pháp tác phẩm Poèmes d’amour” (Thơ tình) với sự hơp tác của nhà thơ Pháp Genevière Charrier, trong đó có thơ của những nhà thơ Pháp như: Victor Hugo, Lamartine, Lafontaine, Baudelaire, Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Bính, Vũ Hoàng Chương,…

Một tác phẩm song ngữ Việt Anh có tên “Love poems” (Thơ tình) với sự hơp tác của nữ nhà thơ Mỹ Jennifer De Camp dịch thơ của các thi sĩ tên tuổi tiền chiến Việt Nam sang tiếng Anh.

 Công trình sáng tác này của một nhà thơ, nhà giáo, nhạc sĩ Ngũ Lang- Nguyễn Thanh đã được Nhà thơ Mai Duy Khôi (Lê Văn Quới) ân tình nhận định: “Nghĩa là bạn tôi dịch thơ bằng cả tấm lòng say sưa yêu mến cái hương sắc bốn phương có thể có những từ chưa thật đạt , những cách diễn đạt chưa thật nhuần nhuyễn, Nhưng sự cảm thụ chân thành đã biểu hiện qua từng chữ từng câu. Quý là ở chỗ ấy - Ở chỗ cái tâm muốn làm đẹp cho đời qua một thú chơi văn chương tao nhã! (Lời ngỏ các tập song ngữ Thơ tình.

 Anh bạn thơ đồng hương Ngũ Lang! Với tuổi đời bóng xế nhưng tâm hồn thơ vẫn còn xuân, chúng ta còn tiếc gì tìm người yêu trong mộng. Hãy lấy văn chương làm bạn tâm giao, trái thơ anh đã đến hồi chín mọng, nét cọ của anh, nốt nhạc trong giai điệu nhạc phẩm đã đưa hồn thơ anh thăng hoa trong những bức tranh sơn dầu hay ca khúc trữ tình! Với thi hữu bốn phương, đừng nghĩ rằng không có Tử Kỳ nghe được tiếng đàn của tri kỷ Bá Nha. Và anh đã tình cờ gặp người đồng điệu thì ta nên giữ mãi mối tình này để lấp nỗi cô đơn.: “Anh trai đất Mũi rừng Tràm/ Tôi người con xứ Trà Mơn ruộng màu/ Tình cờ mình được gặp nhau/ Hai ta thương mến khác nào anh em/ Phải chăng cùng nợ cùng duyên/ Nợ văn chương với duyên thuyền tri âm/ Đêm đêm đối bóng phòng văn/ Câu thơ tâm sự, vầng trăng bạn hiền/ Mặc đời danh lợi đua chen/ Hồn sen thanh thản giữa miền Ly Tao !” (Tình cờ)

Tôi cùng anh đều thế đấy, anh bạn thơ Ngũ Lang!

 

                                                                                      19. 10.  2022

                                                                                        Thanh Nhã

 

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Trần Gia Bảo: Văn học thiếu nhi nuôi một đời vui
Bài viết của Tống Phước Bảo trên Văn nghệ Công an.
Xem thêm
Thắp nỗi vắng xa bập bùng từng con chữ
Bài của Lê Thiếu Nhơn trên Văn nghệ Công an.
Xem thêm
“80 gương mặt Văn nghệ sĩ Quân đội” Chất lính trong những tâm hồn mơ mộng
80 con người, 80 gương mặt là 80 cá tính khác nhau. Thế nhưng ở họ có hai điểm giao rất độc đáo, đó là màu áo xanh của người lính và tâm hồn nhạy cảm, yêu nghệ thuật và cái đẹp.
Xem thêm
Nhà văn Nam Cao trong thoáng cười lặng lẽ
Nguồn: Tạp chí Văn nghệ TP. HCM số Xuân Ất Tỵ 2025
Xem thêm
Có một người Ninh Bình di cư
Bài viết của nhà thơ Văn Công Hùng về nhà văn Hoàng Phương Nhâm
Xem thêm
Nhà văn Đỗ Viết Nghiệm - Những kỷ niệm khó quên
Tôi được gặp nhà văn Đỗ Viết Nghiệm từ khá sớm. Đó là Trại viết Đồ Sơn năm 1996. Khi đó tôi đang là binh nhất học ở Trường Lái xe 255 - Tổng cục Kỹ thuật được nhà văn Khuất Quang Thụy đi xe máy lên Sơn Tây làm việc với Ban Giám hiệu để tôi được đi dự Trại viết...
Xem thêm
Những kỷ niệm với nhà thơ Xuân Sách
Trong những thăng trầm mỗi nhà văn nếm trải mỗi người mỗi vẻ ấy, tôi luôn có suy nghĩ rằng, nhà thơ Xuân Sách đã nếm trải nỗi buồn, có những lúc như là sự cơ hàn và cả sự thất vọng ở một tình thế khác người. Và ông đã tự vượt qua. Và ông cầm bút viết ra những bài thơ, những trang văn, theo tôi không ít trang sâu sắc và bình dị. Để rồi, khi sau này dành thời gian viết những bài thơ chân dung các nhà văn, chất lượng và tâm huyết ở thời kỳ mới, đã dường như gây ra những nỗi buồn cho người viết chăng? Tôi vẫn nghĩ chưa có sự công bằng cho các bài thơ chân dung của ông, và về phía cá nhân, tư cách người viết văn, tôi mong muốn các tác phẩm ấy được hiểu một cách bình đẳng. Chúng ta nên tự nâng mình trong sự hiểu và cho phép hiểu mọi tác phẩm văn học nghệ thuật, miễn là phục vụ sự tiến bộ của xã hội loài người, trong đó có những văn nghệ sĩ, để chúng ta, khi viết về nhau một cách bình thường, cũng là chuyện bình thường. Những khuyết điểm, kể cả sự non yếu, ấu trĩ về chính trị của người viết, đương nhiên nó sẽ tự đào thải, thời gian và sự tinh tường của độc giả đích thực sẽ biết giải quyết êm thấm một cách công bằng những điều ấy.​
Xem thêm
Nhà thơ Quang Chuyền: Một dòng sông lặng trầm, xoáy xiết
Nhà thơ Quang Chuyền sinh năm 1944 tại Sơn Đông, Lập Thạch, Vĩnh Phúc. Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Văn. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Hội viên Hội Nhà báo Việt Nam. Từng công tác tại Hội Văn nghệ Việt Bắc. Phó Tổng Biên tập Báo Thông tin. Phó Chủ nhiệm Chính trị Lữ đoàn 596 (Bộ Tư lệnh Thông tin liên lạc). Hiện sống và viết tại Thành phố Hồ Chí Minh. Đã in các tập thơ: Đường qua kỷ niệm, Chùm quả đầu mùa, Khoảng cuối mùa thu, Hạt giống chim gieo, Lặng thầm, Mắt đêm, Khát, Trở lại cánh rừng, Sông gọi, Chiều đi qua cửa, Lục bát không mùa…
Xem thêm
Thơ Phan Thị Nguyệt Hồng: Nơi cảm xúc giao thoa
Chương trình Thi ca điểm hẹn của VOH và bài viết của Nguyên Hùng về tập thơ Lời khúc tạ mùa xuân của Phan Thị Nguyệt Hồng.
Xem thêm
Từ một trang văn Trang Thế Hy
Bài viết của nhà văn Nguyễn Thanh
Xem thêm
Tưởng nhớ nhà thơ Nguyễn Đình Thi & nhà báo Madelein Riffaud
Phim tư liệu về Madelein Riffaud & Bài viết nhân 100 năm ngày sinh Nguyễn Đình Thi
Xem thêm
Nhà văn Anh Đức và bản góp ý văn chương tình nghĩa
Bài của đạo diễn Lê Văn Duy đăng trên báo Phụ nữ ngày 26.8.2014
Xem thêm
Anh Đức, nhà văn yêu dấu của cách mạng và kháng chiến
Bài viết của GS Mai Quốc Liên trên báo Sài gòn giải phóng điện tử ngày 23/08/2014
Xem thêm