TIN TỨC

Hơi thở đất quê trong miền nhớ của Huỳnh Khang

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-08-22 22:18:35
mail facebook google pos stwis
2996 lượt xem

VÕ THỊ NHƯ MAI

Tôi may mắn có duyên được chuyển lời tiếng Anh cho ca khúc Miền Nhớ từ chính bài thơ cùng tên của thi sĩ – nhạc sĩ Huỳnh Khang. Bài thơ thật đẹp, chỉ cần đọc đôi lần, ta có thể thuộc lòng và khe khẽ ngân nga trong niềm vui. Và giờ đây, tuyển tập mang tên MIỀN NHỚ ra đời, như một dấu ấn trong hành trình thơ Việt tìm về nguồn cội, chuyên chở nỗi niềm của người con xứ Nẫu – Phú Yên. Giữa nhịp sống hối hả của đô thị hóa, Miền Nhớ mở ra một khoảng không gian bình dị, nơi có cánh đồng, sông nước, và tình quê đong đầy mộc mạc. Ấn tượng đầu tiên đọng lại là giọng thơ chân chất, trong trẻo mà vẫn dày dặn, vững vàng – giọng thơ của một người đã trưởng thành qua trải nghiệm. Mỗi bài thơ như một làn gió mát thổi qua cánh đồng, mang theo hương rơm rạ và nét duyên dáng mượt mà của dòng sông Ba thân thương.


Nhà thơ Huỳnh Khang và nhà thơ, dịch giả Võ Thị Phương Mai.

Chủ đề và nội dung trong MIỀN NHỚ xoay quanh ký ức quê hương, tình mẫu tử, nghĩa làng nghĩa xóm, thiên nhiên, tình yêu đôi lứa, nỗi buồn mất mát, cùng những triết lý đời thường. Giọng thơ Huỳnh Khang vừa đậm dấu ấn cá nhân vừa chạm tới cảm xúc chung, bởi có ai mà chưa từng thổn thức trước mùi rơm rạ nồng nàn, gió nồm thoảng qua hay vệt nắng cuối chiều. Đó là nỗi nhớ về những bữa cơm mẹ nấu, lũy tre làng, con nước dâng mùa lũ; là những đêm mẹ thức trắng chờ con trở về, lời ru ấm áp, láng giềng tối lửa tắt đèn có nhau. Đó là vùng đất từ thuở hồng hoang, đom đóm đêm hè, chim cuốc gọi đàn. Đó là những khắc khoải của tình yêu và kết thúc thinh lặng trong cô đơn da diết. Đó là mùi vị của cuộc sống – nửa đời lầm lỡ, một mình dấn thân, nhưng vẫn đầy trân quý và xúc động.

Phong cách và ngôn ngữ thơ Huỳnh Khang không hẳn mới lạ, nhưng lại đủ duyên để cuốn hút người đọc, đủ chân thành để gợi trong ta niềm yêu thương và trân quý qua những hình ảnh thân thuộc mà giàu sức gợi: đàn cò trắng chao nghiêng, khói rơm quấn mây, đom đóm lập lòe nơi quê nhà. Vẫn là những thủ pháp tu từ quen thuộc như điệp ngữ, đối lập, ẩn dụ; vẫn là nhịp điệu thân gần của thơ tự do, của lục bát, tứ tuyệt mang âm hưởng dân ca; vẫn là lối viết vừa ngẫu hứng, bộc trực, vừa khi trầm tư, hoài niệm, gieo vần tinh tế. Và cũng chính ở đó, thơ mở ra những tầng ngữ nghĩa để mỗi lần đọc lại, người ta lại tìm thấy một dư vang mới. Sự chuyển tiếp tự nhiên giữa các mảng thơ tạo nên dòng chảy liền mạch: từ hoài niệm dạt dào đến suy ngẫm lắng sâu. Đã có nhiều người làm thơ theo hướng này, nhưng dường như người đọc vẫn chưa bao giờ thấy chán, bởi cái duyên và cái tình trong thơ Huỳnh Khang luôn biết cách giữ chân người thưởng thức.

Tuy không được chia thành các chương rõ ràng, tuyển tập vẫn có thể tạm phân thành những mạch, những nhánh như dòng sông của hoài niệm dạt dào chảy hòa với suy ngẫm trầm tĩnh. Quá khứ giản dị rưng rưng hiện lên, trân trọng những điều bình thường trong cuộc sống, khiến lòng ta lắng xuống, tự vấn về cội rễ, tình thân và sự kết nối giữa con người với thiên nhiên. Dư âm của rạ rơm, con đường làng, những câu chuyện ông bà, cha mẹ kể vẫn còn đọng lại trong tâm trí như lời nhắc nhở tìm về nguồn cội. Khi gấp lại trang cuối cùng, ta cảm nhận được sự nhẹ nhàng, bình yên, như một chuyến du hành trở về quê hương, để tìm thấy sự thanh thản và kết nối sâu sắc với những thi ảnh gần gũi, thân thuộc.

Không mới, không lạ, nhưng vẫn thật hay. Cái hay đầu tiên nằm ở chủ đề quê hương, đất nước – một mạch nguồn mà biết bao thi sĩ đã từng viết, từng nói, từng bày tỏ. Những câu thơ trong MIỀN NHỚ nghe gần gũi, dễ thuộc, nhưng lại mang một chất riêng, chưa ai từng viết theo cách này. Điều tưởng chừng giản đơn ấy thực ra không hề dễ dàng: nếu viết thiếu tinh tế, dễ trùng lặp; nếu viết không gọn, dễ gây nhàm chán. Trong khi nhiều thi sĩ đi theo con đường cách tân, tìm tòi lạ lẫm, thử nghiệm đủ kiểu để “đãi cát tìm vàng”, thì Huỳnh Khang vẫn vững vàng đi dọc theo cánh đồng, hoà mình vào dòng sông – đơn giản mà sâu lắng, bình dị mà trọn vẹn.

Trong khổ thơ về mẹ, Huỳnh Khang không vẽ ra ý tưởng mẹ con mới lạ, nhưng chính sự giản dị chắt lọc khiến câu chữ bừng sức sống. Chỉ qua hai câu “Suốt đời mẹ đã cả lo: / Lo con, lo cháu… ấm no mẹ mừng”, ta đã hình dung trọn vẹn một đời mẹ lặng lẽ hy sinh, nước mắt và nụ cười đan vào nhau bên bếp lửa quê nhà. Sang đến “Một đời quên mất tuổi xuân, / Quay đi, ngoảnh lại… bát tuần đã qua”, mốc thời gian dài đọng lại trong ba chấm ngắn ngủi tinh tế, gọi về bao mùa xuân héo úa không tiếng than. Khi người con trở về ngủ tại nhà, chỉ một tiếng ho lúc đục, lúc trong vang lên giữa đêm thanh đã đủ khiến lòng xốn xang nặng trĩu như sông lũ về, như thể nỗi nhọc nhằn của mẹ dồn cả vào từng hơi thở. Như vậy, thấy được ở đây sức mạnh của một giọng thơ bình thản mà sâu lắng: không cần hình thức cách tân, chỉ với ngôn từ gần gũi nhưng giàu ẩn dụ, Huỳnh Khang vẫn tạo nên những phản chiếu cảm xúc mới mẻ trên mạch nguồn thi ca về mẹ.

Đoạn thơ “Ta nay đã nửa cuộc mình…” là tiếng lòng chân thật của những phận người lấm lem bùn đất, đã trải nửa đời bôn ba mà vẫn giữ trọn tình quê hương. Ngôn từ mộc mạc dẫn ta về với cánh đồng, con sông thân thuộc của từng hạt phù sa đọng lại. Cách tác giả khéo đặt dấu chấm lửng ngay giữa “Chữ tình tròn, méo khéo là… trêu ngươi” hay “An yên là… mừng!” như để nhường chỗ cho bao suy tư, bao dư âm còn sót lại trong lòng người. Dẫu chủ đề về nửa đời người, nỗi nhọc nhằn, khát khao bình yên không mới lạ, mỗi câu mỗi chữ vẫn rạo rực sức sống bởi sự tinh giản, gọn gàng, khiến ta lặng ngắm lại hành trình của chính mình và thấy yêu quý từng khoảnh khắc bình dị nhất.

Điểm đặt biệt thứ hai, vì Huỳnh Khang cũng sáng tác nhạc và một số bài thơ do chính anh phổ nhạc trở nên vô cùng phổ biến như CHỈ NỤ CƯỜI EM THÔI, MIỀN NHỚ, và nhiều sáng tác khác khi đọc lên đã tự khắc đầy nhạc điệu. Trong khổ thơ về Sông Hinh, điệp từ “nghiêng” vang lên như một giai điệu lặp mà không đơn điệu, lúc vỗ nhịp êm ái, khi ngân vang sâu lắng như tiếng đàn bầu văng vẳng bên triền đồi kéo người nghe, người đọc bước vào khúc nhạc đồng quê mênh mang. Ở đây thơ và nhạc không còn biên giới: mỗi nhịp luyến láy trong câu chữ đều có thể cất lên thành một khúc tình ca, và chính khả năng phổ nhạc của tác giả đã giúp người thưởng thức cảm nhận trọn vẹn nhịp điệu ấy ngay từ trang giấy.

Trong những vần thơ của Huỳnh Khang, hơi thở của đất quê đọng trong ruộng đồng, con đường làng, luỹ tre, hạt gạo. Ta cảm nhận được mùi nồng của phù sa sau cơn mưa đầu mùa, vị ngọt thoang thoảng của mạ non hé nụ trong buổi sớm mai, cả độ ấm còn sót lại trên bờ giậu khi nắng đã lên cao. Đó là hơi thở được nuôi dưỡng từ bao thế hệ cày bừa, gặt hái, từ những bàn tay chai sần đan vào hạt giống và ước mơ. Khi mường tượng từng thuổng xới, ta như nghe được tiếng lách cách vang lên giữa không gian tĩnh lặng, âm thanh của lao động đồng điệu với tiếng tim đất réo rắt. Đất ở đây không im lặng, mà lớn lên cùng lời ru của mạ, vươn mình dưới hơi nắng, cất giấu ký ức khói bếp, bến nước và những bước chân quen thuộc. Mỗi hạt cát, mỗi tảng bùn mang trong mình câu chuyện về những ngày nắng cháy, những buổi chiều mưa rả rích, và cả khát khao vươn lên giữa muôn trùng giông tố. Sống cùng hơi thở đất quê qua thơ Huỳnh Khang ta nhận ra một tình yêu giản dị mà mãnh liệt, nơi gốc rễ và cành lá luôn đan quyện kéo ta trở về với những giá trị thuở ấu thơ, với nỗi niềm nhớ thương mênh mang. Nghe hơi thở ấy là lắng nghe trái tim của mảnh đất chứa đựng niềm tin vững chãi về một tương lai được vun đắp từ lòng hiếu khách và sức sống bất tận. Hơi thở đất quê trong thơ là cảnh sắc và trách nhiệm cũng như tình thương với mảnh đất mình đang sống, gìn giữ và trao truyền hơi ấm của cội nguồn cho thế hệ mai sau.

"Về quê ra ngủ ngoài hiên

Nghe con chim cuốc liên miên gọi bầy

Côn trùng rả rích quanh đây

Chiếu chăn trăng chiếu và đầy ánh sao".

Bài viết liên quan

Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm