TIN TỨC

Hơi thở đất quê trong miền nhớ của Huỳnh Khang

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-08-22 22:18:35
mail facebook google pos stwis
3322 lượt xem

VÕ THỊ NHƯ MAI

Tôi may mắn có duyên được chuyển lời tiếng Anh cho ca khúc Miền Nhớ từ chính bài thơ cùng tên của thi sĩ – nhạc sĩ Huỳnh Khang. Bài thơ thật đẹp, chỉ cần đọc đôi lần, ta có thể thuộc lòng và khe khẽ ngân nga trong niềm vui. Và giờ đây, tuyển tập mang tên MIỀN NHỚ ra đời, như một dấu ấn trong hành trình thơ Việt tìm về nguồn cội, chuyên chở nỗi niềm của người con xứ Nẫu – Phú Yên. Giữa nhịp sống hối hả của đô thị hóa, Miền Nhớ mở ra một khoảng không gian bình dị, nơi có cánh đồng, sông nước, và tình quê đong đầy mộc mạc. Ấn tượng đầu tiên đọng lại là giọng thơ chân chất, trong trẻo mà vẫn dày dặn, vững vàng – giọng thơ của một người đã trưởng thành qua trải nghiệm. Mỗi bài thơ như một làn gió mát thổi qua cánh đồng, mang theo hương rơm rạ và nét duyên dáng mượt mà của dòng sông Ba thân thương.


Nhà thơ Huỳnh Khang và nhà thơ, dịch giả Võ Thị Phương Mai.

Chủ đề và nội dung trong MIỀN NHỚ xoay quanh ký ức quê hương, tình mẫu tử, nghĩa làng nghĩa xóm, thiên nhiên, tình yêu đôi lứa, nỗi buồn mất mát, cùng những triết lý đời thường. Giọng thơ Huỳnh Khang vừa đậm dấu ấn cá nhân vừa chạm tới cảm xúc chung, bởi có ai mà chưa từng thổn thức trước mùi rơm rạ nồng nàn, gió nồm thoảng qua hay vệt nắng cuối chiều. Đó là nỗi nhớ về những bữa cơm mẹ nấu, lũy tre làng, con nước dâng mùa lũ; là những đêm mẹ thức trắng chờ con trở về, lời ru ấm áp, láng giềng tối lửa tắt đèn có nhau. Đó là vùng đất từ thuở hồng hoang, đom đóm đêm hè, chim cuốc gọi đàn. Đó là những khắc khoải của tình yêu và kết thúc thinh lặng trong cô đơn da diết. Đó là mùi vị của cuộc sống – nửa đời lầm lỡ, một mình dấn thân, nhưng vẫn đầy trân quý và xúc động.

Phong cách và ngôn ngữ thơ Huỳnh Khang không hẳn mới lạ, nhưng lại đủ duyên để cuốn hút người đọc, đủ chân thành để gợi trong ta niềm yêu thương và trân quý qua những hình ảnh thân thuộc mà giàu sức gợi: đàn cò trắng chao nghiêng, khói rơm quấn mây, đom đóm lập lòe nơi quê nhà. Vẫn là những thủ pháp tu từ quen thuộc như điệp ngữ, đối lập, ẩn dụ; vẫn là nhịp điệu thân gần của thơ tự do, của lục bát, tứ tuyệt mang âm hưởng dân ca; vẫn là lối viết vừa ngẫu hứng, bộc trực, vừa khi trầm tư, hoài niệm, gieo vần tinh tế. Và cũng chính ở đó, thơ mở ra những tầng ngữ nghĩa để mỗi lần đọc lại, người ta lại tìm thấy một dư vang mới. Sự chuyển tiếp tự nhiên giữa các mảng thơ tạo nên dòng chảy liền mạch: từ hoài niệm dạt dào đến suy ngẫm lắng sâu. Đã có nhiều người làm thơ theo hướng này, nhưng dường như người đọc vẫn chưa bao giờ thấy chán, bởi cái duyên và cái tình trong thơ Huỳnh Khang luôn biết cách giữ chân người thưởng thức.

Tuy không được chia thành các chương rõ ràng, tuyển tập vẫn có thể tạm phân thành những mạch, những nhánh như dòng sông của hoài niệm dạt dào chảy hòa với suy ngẫm trầm tĩnh. Quá khứ giản dị rưng rưng hiện lên, trân trọng những điều bình thường trong cuộc sống, khiến lòng ta lắng xuống, tự vấn về cội rễ, tình thân và sự kết nối giữa con người với thiên nhiên. Dư âm của rạ rơm, con đường làng, những câu chuyện ông bà, cha mẹ kể vẫn còn đọng lại trong tâm trí như lời nhắc nhở tìm về nguồn cội. Khi gấp lại trang cuối cùng, ta cảm nhận được sự nhẹ nhàng, bình yên, như một chuyến du hành trở về quê hương, để tìm thấy sự thanh thản và kết nối sâu sắc với những thi ảnh gần gũi, thân thuộc.

Không mới, không lạ, nhưng vẫn thật hay. Cái hay đầu tiên nằm ở chủ đề quê hương, đất nước – một mạch nguồn mà biết bao thi sĩ đã từng viết, từng nói, từng bày tỏ. Những câu thơ trong MIỀN NHỚ nghe gần gũi, dễ thuộc, nhưng lại mang một chất riêng, chưa ai từng viết theo cách này. Điều tưởng chừng giản đơn ấy thực ra không hề dễ dàng: nếu viết thiếu tinh tế, dễ trùng lặp; nếu viết không gọn, dễ gây nhàm chán. Trong khi nhiều thi sĩ đi theo con đường cách tân, tìm tòi lạ lẫm, thử nghiệm đủ kiểu để “đãi cát tìm vàng”, thì Huỳnh Khang vẫn vững vàng đi dọc theo cánh đồng, hoà mình vào dòng sông – đơn giản mà sâu lắng, bình dị mà trọn vẹn.

Trong khổ thơ về mẹ, Huỳnh Khang không vẽ ra ý tưởng mẹ con mới lạ, nhưng chính sự giản dị chắt lọc khiến câu chữ bừng sức sống. Chỉ qua hai câu “Suốt đời mẹ đã cả lo: / Lo con, lo cháu… ấm no mẹ mừng”, ta đã hình dung trọn vẹn một đời mẹ lặng lẽ hy sinh, nước mắt và nụ cười đan vào nhau bên bếp lửa quê nhà. Sang đến “Một đời quên mất tuổi xuân, / Quay đi, ngoảnh lại… bát tuần đã qua”, mốc thời gian dài đọng lại trong ba chấm ngắn ngủi tinh tế, gọi về bao mùa xuân héo úa không tiếng than. Khi người con trở về ngủ tại nhà, chỉ một tiếng ho lúc đục, lúc trong vang lên giữa đêm thanh đã đủ khiến lòng xốn xang nặng trĩu như sông lũ về, như thể nỗi nhọc nhằn của mẹ dồn cả vào từng hơi thở. Như vậy, thấy được ở đây sức mạnh của một giọng thơ bình thản mà sâu lắng: không cần hình thức cách tân, chỉ với ngôn từ gần gũi nhưng giàu ẩn dụ, Huỳnh Khang vẫn tạo nên những phản chiếu cảm xúc mới mẻ trên mạch nguồn thi ca về mẹ.

Đoạn thơ “Ta nay đã nửa cuộc mình…” là tiếng lòng chân thật của những phận người lấm lem bùn đất, đã trải nửa đời bôn ba mà vẫn giữ trọn tình quê hương. Ngôn từ mộc mạc dẫn ta về với cánh đồng, con sông thân thuộc của từng hạt phù sa đọng lại. Cách tác giả khéo đặt dấu chấm lửng ngay giữa “Chữ tình tròn, méo khéo là… trêu ngươi” hay “An yên là… mừng!” như để nhường chỗ cho bao suy tư, bao dư âm còn sót lại trong lòng người. Dẫu chủ đề về nửa đời người, nỗi nhọc nhằn, khát khao bình yên không mới lạ, mỗi câu mỗi chữ vẫn rạo rực sức sống bởi sự tinh giản, gọn gàng, khiến ta lặng ngắm lại hành trình của chính mình và thấy yêu quý từng khoảnh khắc bình dị nhất.

Điểm đặt biệt thứ hai, vì Huỳnh Khang cũng sáng tác nhạc và một số bài thơ do chính anh phổ nhạc trở nên vô cùng phổ biến như CHỈ NỤ CƯỜI EM THÔI, MIỀN NHỚ, và nhiều sáng tác khác khi đọc lên đã tự khắc đầy nhạc điệu. Trong khổ thơ về Sông Hinh, điệp từ “nghiêng” vang lên như một giai điệu lặp mà không đơn điệu, lúc vỗ nhịp êm ái, khi ngân vang sâu lắng như tiếng đàn bầu văng vẳng bên triền đồi kéo người nghe, người đọc bước vào khúc nhạc đồng quê mênh mang. Ở đây thơ và nhạc không còn biên giới: mỗi nhịp luyến láy trong câu chữ đều có thể cất lên thành một khúc tình ca, và chính khả năng phổ nhạc của tác giả đã giúp người thưởng thức cảm nhận trọn vẹn nhịp điệu ấy ngay từ trang giấy.

Trong những vần thơ của Huỳnh Khang, hơi thở của đất quê đọng trong ruộng đồng, con đường làng, luỹ tre, hạt gạo. Ta cảm nhận được mùi nồng của phù sa sau cơn mưa đầu mùa, vị ngọt thoang thoảng của mạ non hé nụ trong buổi sớm mai, cả độ ấm còn sót lại trên bờ giậu khi nắng đã lên cao. Đó là hơi thở được nuôi dưỡng từ bao thế hệ cày bừa, gặt hái, từ những bàn tay chai sần đan vào hạt giống và ước mơ. Khi mường tượng từng thuổng xới, ta như nghe được tiếng lách cách vang lên giữa không gian tĩnh lặng, âm thanh của lao động đồng điệu với tiếng tim đất réo rắt. Đất ở đây không im lặng, mà lớn lên cùng lời ru của mạ, vươn mình dưới hơi nắng, cất giấu ký ức khói bếp, bến nước và những bước chân quen thuộc. Mỗi hạt cát, mỗi tảng bùn mang trong mình câu chuyện về những ngày nắng cháy, những buổi chiều mưa rả rích, và cả khát khao vươn lên giữa muôn trùng giông tố. Sống cùng hơi thở đất quê qua thơ Huỳnh Khang ta nhận ra một tình yêu giản dị mà mãnh liệt, nơi gốc rễ và cành lá luôn đan quyện kéo ta trở về với những giá trị thuở ấu thơ, với nỗi niềm nhớ thương mênh mang. Nghe hơi thở ấy là lắng nghe trái tim của mảnh đất chứa đựng niềm tin vững chãi về một tương lai được vun đắp từ lòng hiếu khách và sức sống bất tận. Hơi thở đất quê trong thơ là cảnh sắc và trách nhiệm cũng như tình thương với mảnh đất mình đang sống, gìn giữ và trao truyền hơi ấm của cội nguồn cho thế hệ mai sau.

"Về quê ra ngủ ngoài hiên

Nghe con chim cuốc liên miên gọi bầy

Côn trùng rả rích quanh đây

Chiếu chăn trăng chiếu và đầy ánh sao".

Bài viết liên quan

Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Trần Hạ Vi và hành trình nỗi nhớ
Phiến hạ là tập thơ thứ 3 của Trần Hạ Vi. Là người quan tâm đến đời sống văn học, tác giả và tác phẩm, nên trong những người Việt sống và viết ở hải ngoại, tôi khá quan tâm đến các tác giả như Trương Anh Tú (Đức), Võ Thị Như Mai (Úc) và Trần Hạ Vi (Canada). Vì thế, tôi tìm đọc Phiến hạ.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm