TIN TỨC

Về trên dặm trường thiên lý “Miền Ô châu”

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-08-20 16:31:12
mail facebook google pos stwis
1909 lượt xem

BẢO TRUNG

Tiếp theo các cuốn tản văn Sông vẫn chảy đời sông (NXB Thanh Niên 2023), Bốn mùa thương nhớ (NXB Thanh Niên 2024), nhà văn Nguyễn Linh Giang vừa ra mắt cuốn tản văn mới: “Miền Ô Châu” (NXB Phụ Nữ Việt Nam, 2025). Cuốn sách đã tái hiện những cảm xúc tinh khôi, mới về miền đất Ô Châu xưa - Quảng Trị sau này với con người, cảnh vật, lịch sử, văn hóa của một vùng đất; qua đó ta có thể nhận diện rõ thêm dòng biến thiên của lịch sử Việt và những hành trình đầu tiên của tiền nhân đi mở cõi ở phương Nam, từ “Ô Châu ác địa” đến… Ô Châu linh thiêng.

Nhà văn-nhà báo Nguyễn Linh Giang -  Bìa sách tản văn Miền Ô Châu

1. Vẫn nằm trong mạch chủ lưu hướng vọng về cố xứ, đong đầy kỉ niệm trong tâm cảm “thiên lý tương tư” của người viết. Cuốn tản văn “Miền Ô Châu” của nhà văn-nhà báo Nguyễn Linh Giang, Nhà xuất bản Phụ Nữ Việt Nam vừa ấn hành mang lại cho người đọc những cảm xúc mới mẻ về một miền phong thổ còn dung chứa biết bao trầm tích lịch sử, ở đó, các giá trị lịch sử, văn hóa đã được khai mở, quảng diễn qua nhiều tác phẩm biên khảo, thi ca, tiểu thuyết…

Tinh thần ấy có nhiều điểm chung với tiến sĩ Dương Văn An (1514-1591) khi ông viết: “Người giở sách đọc xem có thể gợi lên nhiều nếp nghĩ, tiếp xúc nhiều loại mà trưởng thành hơn. Thấy vẻ đẹp của núi sông mới biết rằng địa linh nhân kiệt, xem sản vật tốt tươi, mới rõ vật tốt hay người hay…” (Ô Châu cận lục - Dương Văn An).

Tản văn của Nguyễn Linh Giang đưa người đọc tới những miền quê, cảnh cũ, người xưa và nếp sinh hoạt thường nhật của người dân Quảng Trị, quê hương của tác giả. Như một cuộc viễn thám ngược dòng thời gian, nơi mà nhiều giá trị lộng lẫy nguyên sơ bị phôi phai qua bao bể dâu thế cuộc. Điều đáng nói, khi ta chạm tay vào bến thời gian, hồ như tiếng xưa còn âm vọng, người xưa vẫn đồng hành cùng ta trong thì hiện tại. Thậm chí có những điều tưởng như chúng ta đã biết tường tận, nhưng qua từng con chữ kỳ khu, rị mọ, khám phá đầy dụng công của tác giả, người đọc hết sức ngạc nhiên khi được khám phá thêm nhiều vẻ đẹp lấp lánh khuất lấp đâu đó được gọi về.

Những câu ca dao, tục ngữ, phong dao… ở miền quê ấy, cùng với bao câu chuyện kể lại bằng huyển sử… là “mật mã của quá khứ” được tác giả khai mở, khiến người đọc vô cùng thú vị, cuốn hút.

Tản văn “Nỗi lòng Huyền Trân” hệt như một vết thương lòng còn bỏng buốt, một dấu lặng trên trang sử Việt. Xóm Chùa, làng Kim Đâu, xã Cam An, huyện Cam Lộ (Quảng Trị) nơi có miếu thờ công chúa Huyền Trân, nằm lặng lẽ, khiêm nhường. “Trời chiều cuối năm, mưa lây phây, gió lạnh. Tôi vào miếu thắp hương vọng tưởng công chúa Huyền Trân, rồi ra đứng ở bậc thềm bên Bàu Đá và tự hỏi: Một ngày mùa hạ cách đây 710 năm, lúc dừng lại ở đây, trước khi về nhà chồng, chắc Huyền Trân công chúa cũng đã có những buổi chiều đứng lặng bên dòng nước này?... Trong sương chiều bảng lãng mặt nước Bàu Đá, tôi như nghe thổn thức điệu Nam bình: “Nước non ngàn dặm ra đi/Cái tình chi?/Mượn màu son phấn/ Đền nợ Ô, Ly/Đắng cay vì/Đương độ xuân thì/Số lao đao hay là nợ duyên gì?”. (Nỗi lòng Huyền Trân, trang 79).

Cái khéo léo, uyển chuyển của tác giả là biết sắp xếp, xâu chuỗi các tiểu tiết thành một mạch liên kết nội cảm, đồng hiện hóa những thứ tưởng chừng như vô tri trở thành ngôn ngữ để cùng đối thoại, tri cảm. Chất văn, sử liệu quyện hòa trong các tản văn hòa kết với những tín hiệu thẩm mỹ từ cảnh vật, di tích, con người, tập quán của mỗi miền quê. Người đọc có thể nhận diện, định vị rõ hơn bản vị, “bản lai diện mục” của từng vệt phù sa lịch sử từng chảy qua, xuôi trôi về dặm trường thiên lý vô nam của các bậc tiền nhân đi mở cõi.

2. Viết về quê hương của chính mình- nơi dường như mọi thứ đều trở nên quen thuộc- tưởng như là điều dễ dàng, nhưng thực tế cho thấy, để chạm tới những tầng vỉa trầm tích văn hóa nơi đây là một điều hết sức khó khăn. Với tấm lòng nặng trĩu nhớ thương quê hương, bằng kinh nghiệm của người làm báo, nhà văn Nguyễn Linh Giang đã hết sức tỉ mẩn, thận trọng khi sử dụng các ngữ liệu lịch sử, phong dao, tục ngữ.

 Bút pháp thể hiện để chuyển tải các thông điệp được anh dụng công một cách diệu dụng, để từ những chi tiết nhỏ nhặt nhất cũng tự thân tạo nên một “cấu trúc vẫy gọi”, để người đọc được hóa thân vào, sẽ chia và đồng cảm. Điều đáng nói là mỗi tản văn là một biên khảo lịch sử cô đọng, mang màu sắc hấp dẫn uyên áo của văn chương. Đó là các tản văn nặng trĩu ưu hoài, trân quý những giá trị của lịch sử như: “Đất có thổ công, Thượng hoàng Trần Nhân Tông đi kinh lý, Đất thiêng hội tụ, Làm quan Hà Trung, Đất học Câu Nhi…” Thiết nghĩ, đó cũng là một tâm nguyện đạt thành của tác giả -khi cho ra đời đứa con tinh thần này.

Tản văn |Miền Ô Châu|, với tôi là một nhịp cầu tri âm, một tấm vé thông hành của tâm tư dẫn lối chúng ta ngược về lịch sử, tìm lại những bến bờ dĩ vãng của một thời, một thưở. Vẫn còn đó vẹn nguyên một miền thương nhớ vẫn luôn đi về trong ký ức.

Hải nội tồn tri kỷ, thiên nhai nhược tỉ lân” (Vẫn còn tri kỉ trên đời, cách xa góc bể chân trời sá chi). Đọc tản văn của Nguyễn Linh Giang cũng là cách để mỗi bản thể tự tri nhận rằng, ra đi cũng là một cách để trở về đúng nghĩa…



Nhà văn-nhà báo NGUYỄN LINH GIANG

Tên khai sinh: Nguyễn Văn Khôi.

Quê quán: Làng An Bình, xã Cam Thanh, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị.

Hiện cư ngụ tại Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

Email: nguyenvankhoi.lg@gmail.com

Hội viên Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh.

Tác phẩm đã xuất bản:

  • Theo dấu chân những người tìm vàng (Phóng sự - NXB Thanh Niên, 2015).
  • Đi và Viết (Ký sự/ Phỏng vấn - NXB Thanh Niên, 2022).
  • Sông vẫn chảy đời sông (Tản văn - NXB Thanh Niên, 2023).
  • Bốn mùa thương nhớ (Tản văn - NXB Thanh Niên, 2024). 
  • Miền Ô CHÂU (Tản văn - NXB Phụ Nữ Việt Nam, 2025).

Bài viết liên quan

Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm