TIN TỨC

Tiếng văn từ phía “bạn nguồn”

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-08-22 21:18:41
mail facebook google pos stwis
1248 lượt xem

BÙI THANH TRUYỀN

Bên đèn phố thị thương đồi núi xa (Bùi Giáng)

Nguyễn Minh Sơn, Hồ Tấn Vũ và Nguyễn Thị Như Hiền là ba cây bút thuộc thế hệ 7X và 9X[1]. Về đời riêng, họ có nhiều điểm giống: cùng lớn lên ở làng quê bên dòng Thu Bồn thơ mộng, cùng học một trường phổ thông, cùng chia xa cố quận để mưu sinh xứ người, cùng khát vọng sống và bản lĩnh vượt qua nghịch cảnh,... Nhiều lần tôi tự hỏi: Vậy có điểm nào làm nên nét chung cho trang viết của ba tác giả miền trung du thượng nguồn xứ Quảng này? Bài viết nhỏ khởi đi từ thôi thúc tìm đáp án cho câu hỏi “cắc cớ” ấy. 

1. Đất nghèo nuôi dưỡng hồn văn

Dẫu nên thơ, giàu truyền thống, nhưng công bằng mà nói, những làng quê dọc thượng nguồn sông Thu Bồn là vùng đất khó, đất khổ, “khỉ ho cò gáy”. Vị trí cách trở, tài nguyên không nhiều, đã vậy còn hạn hán, bão lụt thường xuyên. Nhưng thật lạ lùng, vùng quê ấy lại phát tích về văn nghệ. Qua miền trung du với đồi sim cằn cỗi, ta như nghe vọng tiếng thơ buồn của Khương Hữu Dụng những đêm trường côi cút nơi chân đèo Le, thấy dấu chân cô độc của Bùi Giáng bao chiều chăn dê buồn rợn, gặp nỗi lòng Tường Linh da diết từ phương Nam vượt mấy khung trời gởi về cố quận. Đất nghèo cũng đã ươm dưỡng hồn văn của bao lớp hậu sinh, trong đó có ba văn nhân cùng ra đi từ ngôi trường Trung học phổ thông Nông Sơn. Năm tháng nhọc nhằn, quê hương thương khó là văn hứng, lực đẩy để sau này khi duyên đủ, quá khứ, đắng cay hóa thành văn. Hiểm địa cỗi cằn lại là chất thử nhân tính, gội rửa, thanh lọc những ô trọc cõi người. Cái đói, cái nghèo, sự chia lìa, chết chóc song hành với nghị lực, khát vọng vươn lên day đi dứt lại trong Quán rượu cowboy, Nà Bò Cỏ Ống (Nguyễn Minh Sơn), Vùng sương phủ, hầm sâu và đảo vắng (Hồ Tấn Vũ), Mưa qua Triền Rang, Ngồi bên hiên nhìn nắng (Nguyễn Thị Như Hiền) là những chỉ dấu định hình phong cách  của họ trong đời sống văn học đa sắc hôm nay. Tình đời, tình người lấp lánh sau mặt chữ, những trao gởi chân thành của kiểu ngưởi viết - chứng nhân đã đánh động trái tim người đọc.

2. Hương tình đạm bạc gợi nhớ gợi thương

Tạm xa những ngọn đồi đầy đá thổ chu bỏng rát, những cánh đồng khô cằn, cháy nắng, những ngôi nhà nằm lẻ loi bên sườn đồi heo hút, những núi truông trùng điệp, người văn “đưa chân tám hướng mà ghi vết đời” (Tường Linh). Từ trong trang viết của họ, quê nhà hiện hình qua khói sương kí ức, qua những địa danh thân thuộc mà  diệu vợi, những truyền thuyết, giai thoại nửa thật nửa hư về hang thần, kì nam, loài chim chung tình, con mang báo điềm lạ, những trận mưa tái sinh, đỉnh núi cài tang trắng,… Ngẫu nhiên mà hữu ý, cả ba tác giả đều đưa vào truyện rất nhiều “đặc sản” quê nhà thông qua những lương dân chân đất, những hình ảnh, sự kiện, lời ăn tiếng nói, quan niệm dân gian đậm dấu ấn vùng miền. Tình quê như phép màu để người viết kì ảo hóa những câu chuyện, không gian quen thuộc, bình dị, khoác cho chúng những y trang huyền nhiệm qua đó phát sáng những thông điệp về tình đời, tình người. Câu chữ vì thế vừa quen vừa lạ, hiện hữu mà xa thẳm, chân chất mà ám gợi. Những chuyện đường rừng của Thế Lữ, Tchya Đái Đức Tuấn gợi cảm giác rùng rợn, li kì về những nơi nước độc ngàn thiêng nhưng đó vẫn là tâm ý của khách lạ qua đường. Truyện của Nguyễn Trí (Bãi vàng, đá quý, trầm hương), của Hồ Tĩnh Tâm (Trầm luân đá đỏ) dẫu là chứng nghiệm của người trong cuộc nhưng vẫn thiếu cái hồn, cái thực, cái khí chất của người trẻ tuổi, sinh ra, lớn lên, gắn chặt đời mình với lam sơn chướng khí, thấu hiểu cái quy luật nghiệt ngã “ăn của rừng rưng rưng nước mắt”, “của thiên trả địa”, cái nhỏ nhoi, vô nghĩa lí của con người trước đại ngàn chất chứa bao bí mật, bao sức mạnh ngàn đời như truyện của Nguyễn Minh Sơn, Hồ Tấn Vũ. Nếu tản văn Nguyễn Ngọc Tư khiến độc giả khó quên bởi sự đậm đà của miền Tây sông nước thì tản văn của Nguyễn Thị Như Hiền cũng có phong vị, sắc dáng riêng về đất và người xứ Quảng chân tình, hồn hậu. Mỗi món ăn, mỗi tên đất tên làng nặng tình cố thổ như vọng vang nhắn gọi khách li hương trở về neo đậu bến quê.

Không quá võ đoán khi cho rằng cả ba tác giả đều là người nghiện “mùi quê”, nghiện “xứ mình”. Mĩ cảm của quá khứ khởi đi từ nỗi nhớ tha thiết cố hương. Mùi kí ức, hương cố quận vừa gần gụi vừa xa xôi, mong manh mà dai dẳng, cụ thể mà khó gọi thành lời. Đó là mùi đất, mùi đồng, mùi của  món ăn quê kiểng gợi nhớ gợi thương, mùi hương hoa, mùi khói bếp cuối năm, cả mùi hương mê dụ của non ngàn,… được làm cho đậm vị bằng yêu thương, luyến nhớ của người con xa xứ. Dù đi cùng trời cuối đất, người kể chuyện vẫn hoài vọng đất quê. Mắt càng no, chân càng vững thì tâm càng tha thiết quay về. Con không chê cha mẹ khó, nhất là khi người mẹ ấy đã gánh gồng, che chắn và quá đỗi bao dung. Nửa hăm hở hướng tương lai nửa độc hành về ấu thơ để gặp lại chính mình những ngày chăn trâu cắt cỏ, đói rạt đói rài mà no đủ mơ ước, khát vọng, được sống trong “thế giới biệt lập” để “thấy mình thật hạnh phúc khi được làm người lạc hậu” (Tiếng cuốc cuối cùng trong thành phố - Nguyễn Minh Sơn). Tâm trạng dùng dằng, giọng điệu hoài niệm, tiếc nhớ trong những trang viết nhiều buồn thương nhưng vắng tiếng cười là điểm chung của cả ba cây bút cùng lớn lên dưới chân núi Cà Tang.

3. Năng lượng từ trang viết thấm đượm tình quê

Văn xuôi của của Nguyễn Minh Sơn, Hồ Tấn Vũ, Nguyễn Thị Như Hiền là ân tình đáp tạ cố hương, là tiếng nói chân thật của những người trong cuộc nên đôi lúc chất văn bị lấn lướt bởi chất sống, chất đời. Dấu ấn để lại với người đọc đó là những trang viết truyền được cái rung động vi tế về quê hương nguồn cội, trao truyền niềm tin về cuộc sống, về hành trình vượt qua nghịch cảnh cho bạn trẻ hôm nay.

Dù khác nhau về tuổi tác, hoàn cảnh sống, sở trường nhưng diều dễ nhận thấy ở cả ba tác giả là hạnh phúc của những người không bị cắt rời với cuống nhau xứ sở. Đất mẹ ân tình đã nâng đỡ, chở che bao đứa con trên những bước đường lập thân lập nghiệp ở xứ người, những tháng năm làm cánh diều lạc phố “đi bắt nỗi buồn” (Nguyễn Thị Như Hiền). Đi để về, mặt tuy xa mà lòng không cách là lựa chọn của nhiều nhân vật. Trong truyện ngắn của Nguyễn Thị Như Hiền, với người già, quê hương bao giờ cũng “như chiếc dằm trong lòng”, cứ đụng vào là nghe nhức nhối (Đã thấy mùa xuân). Còn với người trẻ tuổi thừa hăm hở, khát vọng, quê nhà là khởi điểm và cũng là đích đến, bởi “chẳng có ai mà không sống được trên mảnh đất quê hương” (Nơi chốn bình yên). Bà mẹ quê luôn rộng lượng, yêu thương con mình đến tận cùng chân thật. Sau khi đã mỏi gối bôn ba, ngấm đủ những cú đánh tàn nhẫn, vô tâm của số phận, người ta lại quay về an trú giữa làng quê, và đều được chờ đón, được an ủi, được  chữa lành.

Tình yêu là lăng kính biến hình kì diệu khiến đất nghèo, làng nhỏ hóa trù phú, bao la. Địa danh dẫu cụ thể (Khương Hạ, Trung Phước, Triền Rang, Tý, Sé, Nà Bò, Cỏ Ống, núi Chúa, Cà Tang, Nông Sơn, Hòn Kẽm Đá Dừng, dòng sông Thu bên bồi bên lở,…) hay tưởng tượng (làng Mênh Mông, hang Chình, bãi Ma, phiên chợ Bóng Đêm,...) đều là nơi lưu giữ những kí ức long lanh của ấu thơ tươi đẹp, là sự vấn vít, mĩ hóa mảnh đất chôn nhau của người viết. Đó là chất đề kháng, sợi dây níu giữ thiên lương con người. Cảnh vật vì thế bình dị mà đẹp đến rưng rưng. Tình cố xứ là gia vị “bỏ bùa” những quà quê hương đồng gió nội, làm đậm vị, bền hương cho tô mì Quảng, trả cá đồng kho nghệ, chén mắm thính mặn mòi,… Nguyễn Thị Như Hiền đã mượn suy nghĩ của nhiều nhân vật nữ để gởi gắm tâm tư đến đất mẹ ân tình: “Xứ này nghèo, quanh năm thiên tai nhưng chưa bao giờ Như muốn rời bỏ” (Mưa qua Triền Rang). Hơn ai hết, họ hiểu rằng: “Mình thương cánh đồng tận cùng máu thịt thì sẽ đợi được tới ngày những cơn gió mát rượi băng đồng…” (Những cơn gió băng đồng). Sự chân thực, giàu cảm xúc khi viết về nơi máu thịt của mình đã tạo được đồng cảm nơi độc giả, khơi lên ở họ xúc cảm thiêng liêng về tình quê xứ.

Hành trình ra đi từ làng, bản lĩnh vượt qua số phận, gìn giữ thiện lương của nhân vật cũng là năng lượng quý giá cho bạn đọc, nhất là những người trẻ tuổi. Con người trong truyện đa phần là những thanh niên lớn lên như cây hoang cỏ dại, rồi lơ ngơ mang theo tủi hờn, mặc cảm, khốn khó lên rừng, về phố thị với ý chí, quyết tâm vừa khẳng định bản ngã, vừa giữ được cốt cách “lương dân”, không tắt lụi ước mơ, hi vọng dù bị hoàn cảnh đẩy vào tình thế bế tắc, tối tăm, cùng quẫn. Với họ, nhiều lúc sống chết không quan trọng, bởi đó là quy luật của muôn đời. Khắc ghi triết-lí-làng “đói cho sạch, rách cho thơm”, người ta luôn tâm niệm “phải sống thế nào cho ra sống”, “chỉ nên sợ sự sống để sống tốt hơn” (Quán rượu cowboy - Nguyễn Minh Sơn), vì thế không buông tay, hèn nhát trong cuộc chiến làm người. Những trang văn giàu chất tự truyện phần nào phơi lộ khí chất Quảng: sống đúng chữ “vì” với tất cả san sẻ, yêu thương, không lùi bước, cúi đầu trước trước trái ngang, khổ ải. Nhờ đó, họ không ngừng bước tới, từ hầm sâu đến giảng đường, từ chốn mù sương về miền ánh sáng, từ vắng lặng rợn người đến nơi rộn rã hoang ca, từ chết chóc đến hồi sinh diệu kì. Với độc giả, chuyện trắc trở trên con đường thành công của nhân vật là bài học, là động lực không nhỏ. Điều này được Hồ Tấn Vũ nhiều lần chia sẻ trong tiểu thuyết đầu tay đậm tính chất tự truyện: “Nếu ta đi tìm tương lai ở một nơi không có tương lai chẳng khác nào đi trong hư ảo”; “Phải cay đắng một chút thì sau này không còn sợ chông chênh. Cuộc đời này ngoài may mắn thì phải hơn nhau ở sự chịu đựng”; “Xã hội đâu có khép cửa với những người biết tiến thủ”;… Lí tưởng sống, phép màu của nghị lực, của niềm ở con người, ở cuộc sống từ những nhân vật chưa từng bị cách li nguồn cội như “tôi” (Tìm trầm - Nguyễn Minh Sơn), Tấn (Vùng sương phủ, hầm sâu và đảo vắng - Hồ Tấn Vũ), Như (Mưa qua Triền Rang - Nguyễn Thị Như Hiền) sẽ tiếp năng lượng để bay đến chân trời mơ ước cho bạn trẻ hôm nay.

Sinh ra từ sơn cước, lớn lên từ rừng, con người hiểu rõ sự bao dung và cũng tàn nhẫn, lạnh lùng của Mẹ Thiên nhiên. Các truyện ngắn của Nguyễn Minh Sơn (Tìm trầm, Quán rượu cowboy, Những ngày lưu lạc), Nguyễn Thị Như Hiền (Mưa qua Triền Rang, Ngược gió sông Thu) và đặc biệt là tiểu thuyết của Hồ Tấn Vũ  minh chứng chân thực, đầy thuyết phục về sự cần thiết trong cách sống phải đạo, vô sự của con người với tự nhiên. Hạn hán, mất mùa, đất chảy, núi lở, rắn cắn, hổ vồ,… đa phần đều là quả báo nhãn tiền cho hành động mạo phạm, tàn phá tự nhiên của con người dẫu chính họ bị đẩy vào hoàn cảnh chẳng đặng đừng: “Nếu mảng rừng xanh lưng chừng núi là ngôi nhà, mỗi ngôi mộ là chiếc giường của người chết, thì chúng ta đang phá nhà của họ còn gì?” (Vùng sương phủ, hầm sâu và đảo vắng). Gần gụi, tri ân đất mẹ, con người càng thấu hiểu những lầm lỗi và hậu quả khôn lường mà bản thân đã gây ra cho tự nhiên. Núi rừng, dòng sông, cánh đồng trong trang viết của họ vì thế hòa kết nhiều thái cực đối lập: quen thuộc - kì bí, nên thơ - tàn tạ, bình yên - cuồng nộ, mê dụ - cảnh tỉnh, bao dung - nghiệt ngã, tái sinh - hủy diệt, thoáng chốc - vĩnh cửu,… Tri ân, ngưỡng vọng, chuộc lỗi với rừng xanh núi đỏ, đôi lúc con người không che giấu mong muốn làm một phần của tự nhiên: “Phải sống thật đường hoàng như cây rừng. Con người phải dùng sự thật để soi sáng sự thật thì mới hi vọng có cuộc sống khá lên” (Những ngày lưu lạc - Nguyễn Minh Sơn).

Tha thiết tin yêu, chứa chan hi vọng ở ngày mai, ở sự đền bù cho những người hữu tâm hữu chí, nhiều sáng tác của ba tác giả trùng ngộ ở cách viết vừa truyền thống vừa hiện đại như là cái duyên, cái hồn của sự mộc mạc, chân thành. Truyện ngắn, tản văn của Nguyễn Thị Như Hiền thường có kết cục ấm áp, lan tỏa năng lượng sống tích cho bạn đọc qua hình ảnh bình dị, giàu cảm xúc: một căn nhà vắng nay đầy ắp tiếng cười; sự no đủ, đoàn viên, ấm áp đã xua tan buồn đau, ảm đạm. Như thể sợ đau nhân vật của mình, những yêu thương, tin tưởng được chị gởi cả vào cái kết đằm sâu thiên tính nữ. Khép lại truyện ngắn Tiệm của đàn bà là chi tiết: “Lòng An vui như những cánh hoa màu đỏ trên tấm rèm cửa đang bay phất phơ vì gió…”. Mưa qua Triền Rang kết thúc bằng một trận mưa đột ngột có chức năng hồi sinh cho vạn vật, ân thưởng cho những con người không phụ rẫy đất quê nghèo khó. Người đọc cũng thấy ấm áp, mát lành, thấy hi vọng, thấy có động lực đi xa để trở về qua những kết thúc có hậu này. Kết cấu lắp ghép nhiều không gian, thời gian, nhiều sự kiện, nhiều thân phận, cảnh đời trong Vùng sương phủ, hầm sâu và đảo vắng của Hồ Tấn Vũ như minh chứng về sự muôn mặt của đời sống, như ẩn dụ về lòng tin mạnh mẽ rằng “đời người có khúc và có lúc” tựa sông suối quê hương.

Những người sinh ra từ làng, chịu ơn “những bài học nông thôn” (Nguyễn Huy Thiệp) sẽ được gặp quê cũ, gặp lại chính mình qua những trang viết này. Những chuyện đời tự kể chân thực, giàu lòng trắc ẩn dễ được đồng cảm, dễ truyền cảm hứng cho những người đang chông chênh, hoang mang, bế tắc trước ngưỡng cửa cuộc đời. Nghị lực sống, niềm tin ở tha nhân, ở xã hội, những an hạnh, bù đắp cho nỗ lực không ngừng của những người trong cuộc,… có sức vẫy gọi không hề nhỏ đối với bạn đọc, nhất là những người trẻ tuổi.

4. Và của tin trao gởi

Dẫu chưa nhiều, nhưng những thành công bước đầu rất đáng ghi nhận này cũng chính là ân tình đáp tạ cố hương của cả ba tác giả. Nếu Nguyễn Minh Sơn ghi dấu qua truyện ngắn, từ 30 năm trước đã được giải thưởng của báo Văn nghệ (năm 1995), Nguyễn Thị Như Hiền cùng với truyện ngắn, truyện dài là những tản văn đậm hương cố thổ, đạt giải Nhất cuộc thi viết “Hương vị Tết” của báo Người Lao Động năm 2023, giải Nhì Giải thưởng Văn học Kim Đồng lần thứ nhất (tháng 6/2025) thì Hồ Tấn Vũ, một nhà báo xông xáo, đang gây được tiếng vang với tiểu thuyết đầu tay khá bạo liệt, mới mẻ cả về nội dung và bút pháp. Mỗi người một vẻ, nhưng vẫn nhiều điểm chung kiểu “tam văn nhất vị”, đều mang chở ân tình, tin yêu, độ lượng của làng quê làm hành trang đi tới. Hành trình viết cũng là hành trình tìm kiếm “thiện tâm”, phơi lộ những hạt vàng lấm lánh trong tâm hồn, nhân cách của bản thân và của tha nhân trong cuộc chiến giành giữ thiện lương để được sống, được làm người tử tế. Cuộc chiến ấy, nói như Nguyễn Minh Sơn, còn “khó kiếm hơn cả trầm” (Tìm trầm). Đó là những yếu tính để ta tin rằng ba cây bút miền sớn cước này sẽ còn đi dài với văn chương.

Hi vọng chính là điều mà “Nông Sơn tam bút” nhen lên trong người đọc. Ba gương mặt văn nhân sẽ làm nên chỉ dấu văn chương của Xứ Nguồn, để bạn bè lưu giữ ấn tượng về một vùng văn trung du đất Quảng, để ước mơ, khát vọng bay lên từ khô cằn sỏi đá. Đọc văn, bên tai ta như văng vẳng câu ca dao thắm tình xứ Quảng: “Ai về nhắn với bạn nguồn/ Mít non gởi xuống, cá chuồn gởi lên”, ta có thêm hạnh phúc, có thêm niềm tin trong cuộc đời để an nhiên sống có trước có sau, không vô tâm, quên lãng với ân tình xứ sở, với nợ duyên cõi người.


[1] Nguyễn Minh Sơn (Hoa Ngõ Hạnh) sinh năm 1972; Hồ Tấn Vũ sinh năm 1978; Nguyễn Thị Như Hiền sinh năm 1990.

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm