TIN TỨC

Cát lặng im nghe sóng biển cười

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-07-17 15:57:49
mail facebook google pos stwis
1982 lượt xem

Mai Văn Phấn

(Đọc tập thơ "Cát lầm" của Văn Đắc, NXB Hội Nhà văn, 2022)

Thành phố nghiêng tai về phía mặt trời

Văn Đắc

(Vanchuongthanhphohochiminh.com) - Nhà thơ Văn Đắc đã xuất bản 11 tập thơ. Ngay từ tập thơ đầu tay "Hai triền sông" (NXB Văn học, 1973) và trong suốt hành trình sáng tạo, thơ ông luôn gắn bó với miền đất Thanh Hóa. Khảo sát các tập thơ của ông cho thấy, một số hình ảnh đặc trưng của vùng đất này đã làm nên mẫu gốc (archétypes) hay còn gọi là cổ mẫu, nguyên tượng trong thơ Văn Đắc. Một trong những mẫu gốc quan trọng tạo nên rường cột không gian thơ của ông chính là cát. Cát là nơi nhà thơ khởi nguồn sáng tạo, là mẹ thiên nhiên vĩ đại ấp ủ nuôi dưỡng ông, là bạn thân luôn song hành, và là cả người thầy dạy dỗ ông nữa. Cát trong thơ ông là người. Đời cát là thân phận người, nơi khởi sinh và nuôi dưỡng nguồn cảm xúc sáng tạo bất tận trong thơ Văn Đắc.

Bìa tập thơ Cát lầm

 

Trong bài thơ "Với cát" trước đây ông từng viết:

 

“Với cát, thời nhỏ cởi trần

Chạy trên cát

Ta lẫn vào với cát".

 

Văn Đắc đã trải nghiệm mọi cung bậc cảm xúc với cát, từng "thiên biến vạn hóa" cùng cát, "Cát nhập vào mây, mây nhòa vào cát" (Bất chợt một lần trăng); đó là nơi "Nơi cát trắng ùn lên nỗi nhớ" (Tâm sự với con đường), "Đường dọc miền Trung ngờm ngợp cát" (Dọc đường Nhà Nguyễn) từng in dấu chân ông. Giờ đây Văn Đắc trở về bên cát bằng tâm thế tĩnh lặng, khác thường. Tháng 5/2022 ông vừa ra mắt tập thơ có tiêu đề khá khiêm cung, tĩnh tại mà nội lực thâm hậu: "Cát lầm".

 

Cát lầm vốn là loại cát lấm láp, dấp dính, quấn quyện vào nhau. Đó là loại cát cuộn lầm lên che lấp những giá trị, những vật bên cạnh nó. "Cát lầm ngọc trắng, thiệt đời xuân xanh" ("Kiều" của Nguyễn Du). Hay, "Sông Bồn gần chốn cát lầm" ("Tỳ bà hành" của Bạch Cư Dị. Bản dịch của Phan Huy Thực).

 

Song, "Cát lầm" của Văn Đắc còn mang những nội hàm khác, trĩu nặng mà phát sáng, nhẫn nhịn và can đảm. Nhà thơ viết tập thơ này khi đã bước qua tuổi tám mươi, cái tuổi "xưa nay hiếm". Thơ ông giai đoạn này thanh thản như những hạt cát đã qua những tháng ngày cuộn chảy theo dòng, từng phiêu du, lại cũng từng lắng đọng... giờ đây vẫn đầy ắp những cảm xúc lãng mạn đắm say như thuở nào từng lấp lánh, nhưng trầm tĩnh và tự tin hơn trước. Xuyên suốt tập thơ là nối tiếp những chân dung "Cát". Hạt cát của Văn Đắc là những gương mặt người, cần cù và lầm lũi, gắn bó và nhân hậu ở miền đất đầy gió và ầm ào sóng biển.

 

"Rồi từ thăm thẳm đêm sâu

Tiếng quê ríu rít gọi nhau cùng về" (Cát lầm).

 

Con người xứ Thanh hiện lên trong thơ ông thật đẹp và bản lĩnh. Miền đất xứ Thanh đã kết tinh cho họ những phẩm chất giá trị của người miền Bắc và người miền Trung. Đó là sự can trường, tháo vát, tính quyết đoán và đầy nghị lực:

 

"Có người, rất nhiều người, lớp lớp người

Vùi trái tim vào cát

Mọc

Hai bờ sông xanh" (Sau cơn mưa).

 

Những hạt cát, từ chốn “cát lầm”, đã hòa trộn vào nhau, nương tựa nhau tầng tầng lớp lớp để tạo thành cồn cát rộng lớn, vững bền; tạo nên hồn cốt vùng đất "địa linh nhân kiệt" này. Phải chăng đó là chân dung những con người xứ Thanh hiện lên qua nét bút tài hoa của thi sĩ Văn Đắc:

 

"Khi vui ngón trỏ vẽ vời

Khi buồn ngón ngắn, ngón dài tựa nhau" (Làng con gái).

 

Hay:

 

"Thành phố vừa đặt bàn chân

Rất nhiều người theo về

Tập làm chim trong nhà

Hót những bài ca lú lẫn" (Làng ta).

 

Chữ "lú lẫn" thực sự xuất thần trong câu thơ trên, nó cho thấy nhà thơ giữ được sự uyên bác trong cái thơ ngây rất thi sĩ của ông. Nhân vật trong khổ thơ trên là người hay chim? Đây là một ranh giới mờ nhòe, mà có lẽ, chỉ có được trong thơ Văn Đắc. Ranh giới ấy đã tạo dựng một không gian kỳ ảo, mở rộng thêm đường biên tưởng tượng cho bạn đọc. Phải chăng đó là phần vô thức tập thể, bản năng cộng đồng bất ngờ trỗi dậy tạo thành sức mạnh đoàn kết, gắn bó nhau trong những thời điểm lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Chính vô thức ấy đã sinh ra huyền thoại, những câu chuyện thần thoại xứ Thanh vẫn được lan truyền từ đời này qua đời khác.

 

Bị ám ảnh bởi tiêu đề tập thơ, tôi thấy "Cát lầm" của Văn Đắc thường sáng lên khi gặp những câu thơ trong trẻo, tràn đầy cảm xúc. Hình ảnh một vùng quê hiện ra từ mắt "Búp bê" trong đoạn thơ dưới đây thật quyến rũ và đầy bất ngờ:

 

"Từ trong mắt

Búp bê

Cả một vùng quê

Mát trong

Giếng ngọc" (Búp bê).

 

Cát trong tập thơ này thường biến ảo, ẩn hiện, đa dạng. Cát có lúc gối vào cát tựa như người tiếp bước chân người để làm nên những hành trình mới cho thành phố của Văn Đắc:

 

"Thế là thành phố của tôi

Bước qua nghìn bậc vai người mà đi" (Thành phố của tôi).

 

Có lúc tác giả lại cố ý làm cho cát lu mờ đi trong những ảo ảnh thoáng chốc. Nhưng những thi ảnh như được che bớt đi ấy lại hắt sáng một vùng không gian khác, tạo nên những hiệu ứng thị giác mới lạ, mở cho bạn đọc những nhãn quan mới như có thể nhìn sâu vào bên trong từng sự vật.

 

"Nhớ một nửa... mong chờ một nửa

Cát giấu mình vào phố biển ưu tư" (Nơi ấy).

 

Hay:

 

"Đêm về

Tôi có một giấc mơ đi trong tiếng đàn như ma ám,

đi trên mái nhà cao tầng như đi trên cát." (Nơi ấy).

 

Tập thơ này cho thấy Văn Đắc có thi pháp khá phong phú và đa dạng. Tựa như một ca sĩ có âm vực rộng, thơ ông có lúc đắm say, lãng mạn, lúc lại buông thả, phóng giật, tạo những xung động mạnh mẽ:

 

"Giữa mênh mông biển

Lửa từ đâu ùa sang hừng hực cháy

Tiếng nổ

Tia chớp

Biển đỏ ngầu

Cát lầm dạt vào đảo đá

Biển bất ngờ bị đánh úp" (Viết ở thành phố biển).

 

Mỗi nhà thơ dường như gắn bó với một vùng đất, thường là nơi họ được sinh ra và dù có đi xa đến đâu thì nơi chôn nhau cắt rốn ấy luôn là chốn khởi nguồn cảm xúc sáng tạo. Cố thi sĩ Nguyễn Phan Hách là một ví dụ. Cho đến khi giã từ cõi tạm, Nguyễn Phan Hách luôn đau đáu nhớ về làng Mão Điền, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, nơi ông đã từng viết bài thơ "Làng quan họ", trong đó có những câu thơ cho bạn đọc thuộc nằm lòng.

 

"Sông Cầu làm bao xanh

Ngang lưng làng Quan họ

Những cánh buồm nhớ thuơng

Câu ca đầu ngọn gió".

 

Hay, Nguyễn Quang Thiều là nhà thơ gắn bó với Làng Chùa (xã Sơn Công, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Tây; nay thuộc Hà Nội). Trong bài thơ "Bài hát về cố hương" nhà thơ tỏ bầy tình yêu với quê hương đến tận kiếp sau.

 

"Tôi xin ở kiếp sau là một con chó nhỏ

Để canh giữ nỗi buồn – báu vật cố hương tôi."

 

Với Văn Đắc, quê hương đã gắn vào biệt danh mà bạn đọc gọi ông: Thi sĩ xứ Thanh! Mọi cung bậc tình cảm, tâm trạng cũng như bút pháp của Văn Đắc trong tập thơ "Cát lầm" đã phác họa rõ nét chân dung thi sĩ của ông. Với cá nhân tôi có thể nói, Văn Đắc là nhà thơ viết về xứ Thanh nhiều nhất và cũng hay nhất. Từ mấy năm trước tôi đã rất thích bài thơ “Tôi người Thanh Hóa” gồm 131 câu thơ của ông. Tôi coi đây là một tiểu trường ca xuất sắc viết về Thanh Hóa. Trong đó tôi nhớ mãi câu thơ vạm vỡ khắc họa tính cách con người xứ Thanh của ông:

 

“Thích thì vác đá xây thành

Uất thì chọc thủng trời xanh mà cười”.

 

Thi tập "Cát lầm" vẫn giữ nguyên vẹn tình yêu cháy bỏng với quê hương của ông, nhưng lắng sâu và đằm thắm hơn. Câu thơ sau đây cho thấy ông đã đi từ sự phóng khoáng, ngổn ngang đến sự giản dị. Bạn đọc cũng thấy được nhà thơ đã bước vào cái tuổi gạt bỏ mọi sự phù hoa, như cố ý xóa đi mọi dấu vết của thủ pháp, lấy xúc cảm chân thành làm căn cốt cho sự sáng tạo.

 

"Trời Thanh Hóa của tôi là cái vó

Thả lúc nào cũng vớt được tôi lên" (Cát lầm).

 

Câu thơ ấy cho thấy Văn Đắc đang an nhiên, tĩnh tại nơi làng Triều bên biển Sầm Sơn quê hương ông. Nơi ấy cát vẫn không ngừng chuyển vần cùng con người và mảnh đất thiêng xứ Thanh. Và trong tâm thức ông, "cái vó" trời xứ Thanh luôn buông thả trên đầu, dù có "vớt" ông lên hay sẽ "vớt", thì tâm hồn ông luôn thơ ngây và trong suốt, bởi ông là "người Thanh Hóa”.

 

Đất Thanh Hóa thời nào cũng sinh ra những nhân kiệt cả văn lẫn võ, cũng là nơi khởi sinh các huyền thoại cho dân tộc Việt từ xa xưa. Tôi tâm đắc với nhận xét của PGS.TS Hỏa Diệu Thúy viết về miền đất và con người xứ Thanh như sau: "Dòng sông Mã chảy qua nhiều vùng đất nhưng về đến xứ Thanh mới cất lên thành những câu hò hào hùng da diết, cõi Nam nhiều hang động kỳ thú nhưng chỉ có động Bích Đào của xứ Thanh mới có huyền thoại người kết duyên với tiên, biển Việt Nam dài hơn ba ngàn cây số nhưng chỉ ở xứ Thanh mới sinh ra vị thần trấn giữ biển cả... Nói thế để thấy, mảnh đất có yếu tố “khởi nguồn” và “hội tụ” này đúng là nơi “được lựa chọn” để tạo ra những giá trị".

 

Thơ Văn Đắc qua các tập thơ đã hội tụ đầy đủ khí chất và cả hình tướng của vùng đất và con người xứ Thanh, ông thực sự là thi sĩ đã tôn vinh và làm rạng danh thêm quê hương giầu trầm tích của ông.

 

"Cát lặng im nghe sóng biển cười".

 

Tôi lấy câu thơ trong bài thơ "Nơi ấy" của Văn Đắc làm tiêu đề và cũng thay cho lời kết bài viết nhỏ này. "Cát lầm" của ông đang "nghe sóng biển cười". Xứ Thanh với người khác có thể là mảnh đất để thử thách lòng can trường và nghị lực, nhưng với Văn Đắc, nơi ấy mãi là cội nguồn bất tận của sự sáng tạo. Nhớ có lần trò chuyện qua điện thoại, tôi tò mò hỏi ông động lực nào đã thôi thúc nhà thơ giữ được cảm xúc viết về quê hương lâu bền và luôn tươi ròng như vậy. Văn Đắc tâm sự, ông sinh ra ở làng Triều nghèo khó và lao khổ, khi lớn lên đã từng đi khắp đất nước, nhưng tâm thức ông cứ mãi "loay quay" (chữ của Văn Đắc) về cái nghèo khổ ở làng quê thuở nào. Cái "loay quay" đó luôn ám ảnh, thôi thúc ông; và nhà thơ chỉ có thể giải tỏa nó bằng cách viết về chốn quê thân thương ấy. Cùng với "sóng biển cười", bạn đọc giờ đây được chiêm ngưỡng "Cát lầm" xứ Thanh, quê hương của nhà thơ Văn Đắc, đã vui hơn và lấp lánh hơn.

 

Hải Phòng, 5/2022

M.V.P

 "Giữ gìn và phát huy những phẩm chất ưu tú của người Thanh Hóa" của PGS.TS Hỏa Diệu Thúy. Báo Thanh Hóa ngày 29/01/2020

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm