TIN TỨC

Cát lặng im nghe sóng biển cười

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-07-17 15:57:49
mail facebook google pos stwis
2008 lượt xem

Mai Văn Phấn

(Đọc tập thơ "Cát lầm" của Văn Đắc, NXB Hội Nhà văn, 2022)

Thành phố nghiêng tai về phía mặt trời

Văn Đắc

(Vanchuongthanhphohochiminh.com) - Nhà thơ Văn Đắc đã xuất bản 11 tập thơ. Ngay từ tập thơ đầu tay "Hai triền sông" (NXB Văn học, 1973) và trong suốt hành trình sáng tạo, thơ ông luôn gắn bó với miền đất Thanh Hóa. Khảo sát các tập thơ của ông cho thấy, một số hình ảnh đặc trưng của vùng đất này đã làm nên mẫu gốc (archétypes) hay còn gọi là cổ mẫu, nguyên tượng trong thơ Văn Đắc. Một trong những mẫu gốc quan trọng tạo nên rường cột không gian thơ của ông chính là cát. Cát là nơi nhà thơ khởi nguồn sáng tạo, là mẹ thiên nhiên vĩ đại ấp ủ nuôi dưỡng ông, là bạn thân luôn song hành, và là cả người thầy dạy dỗ ông nữa. Cát trong thơ ông là người. Đời cát là thân phận người, nơi khởi sinh và nuôi dưỡng nguồn cảm xúc sáng tạo bất tận trong thơ Văn Đắc.

Bìa tập thơ Cát lầm

 

Trong bài thơ "Với cát" trước đây ông từng viết:

 

“Với cát, thời nhỏ cởi trần

Chạy trên cát

Ta lẫn vào với cát".

 

Văn Đắc đã trải nghiệm mọi cung bậc cảm xúc với cát, từng "thiên biến vạn hóa" cùng cát, "Cát nhập vào mây, mây nhòa vào cát" (Bất chợt một lần trăng); đó là nơi "Nơi cát trắng ùn lên nỗi nhớ" (Tâm sự với con đường), "Đường dọc miền Trung ngờm ngợp cát" (Dọc đường Nhà Nguyễn) từng in dấu chân ông. Giờ đây Văn Đắc trở về bên cát bằng tâm thế tĩnh lặng, khác thường. Tháng 5/2022 ông vừa ra mắt tập thơ có tiêu đề khá khiêm cung, tĩnh tại mà nội lực thâm hậu: "Cát lầm".

 

Cát lầm vốn là loại cát lấm láp, dấp dính, quấn quyện vào nhau. Đó là loại cát cuộn lầm lên che lấp những giá trị, những vật bên cạnh nó. "Cát lầm ngọc trắng, thiệt đời xuân xanh" ("Kiều" của Nguyễn Du). Hay, "Sông Bồn gần chốn cát lầm" ("Tỳ bà hành" của Bạch Cư Dị. Bản dịch của Phan Huy Thực).

 

Song, "Cát lầm" của Văn Đắc còn mang những nội hàm khác, trĩu nặng mà phát sáng, nhẫn nhịn và can đảm. Nhà thơ viết tập thơ này khi đã bước qua tuổi tám mươi, cái tuổi "xưa nay hiếm". Thơ ông giai đoạn này thanh thản như những hạt cát đã qua những tháng ngày cuộn chảy theo dòng, từng phiêu du, lại cũng từng lắng đọng... giờ đây vẫn đầy ắp những cảm xúc lãng mạn đắm say như thuở nào từng lấp lánh, nhưng trầm tĩnh và tự tin hơn trước. Xuyên suốt tập thơ là nối tiếp những chân dung "Cát". Hạt cát của Văn Đắc là những gương mặt người, cần cù và lầm lũi, gắn bó và nhân hậu ở miền đất đầy gió và ầm ào sóng biển.

 

"Rồi từ thăm thẳm đêm sâu

Tiếng quê ríu rít gọi nhau cùng về" (Cát lầm).

 

Con người xứ Thanh hiện lên trong thơ ông thật đẹp và bản lĩnh. Miền đất xứ Thanh đã kết tinh cho họ những phẩm chất giá trị của người miền Bắc và người miền Trung. Đó là sự can trường, tháo vát, tính quyết đoán và đầy nghị lực:

 

"Có người, rất nhiều người, lớp lớp người

Vùi trái tim vào cát

Mọc

Hai bờ sông xanh" (Sau cơn mưa).

 

Những hạt cát, từ chốn “cát lầm”, đã hòa trộn vào nhau, nương tựa nhau tầng tầng lớp lớp để tạo thành cồn cát rộng lớn, vững bền; tạo nên hồn cốt vùng đất "địa linh nhân kiệt" này. Phải chăng đó là chân dung những con người xứ Thanh hiện lên qua nét bút tài hoa của thi sĩ Văn Đắc:

 

"Khi vui ngón trỏ vẽ vời

Khi buồn ngón ngắn, ngón dài tựa nhau" (Làng con gái).

 

Hay:

 

"Thành phố vừa đặt bàn chân

Rất nhiều người theo về

Tập làm chim trong nhà

Hót những bài ca lú lẫn" (Làng ta).

 

Chữ "lú lẫn" thực sự xuất thần trong câu thơ trên, nó cho thấy nhà thơ giữ được sự uyên bác trong cái thơ ngây rất thi sĩ của ông. Nhân vật trong khổ thơ trên là người hay chim? Đây là một ranh giới mờ nhòe, mà có lẽ, chỉ có được trong thơ Văn Đắc. Ranh giới ấy đã tạo dựng một không gian kỳ ảo, mở rộng thêm đường biên tưởng tượng cho bạn đọc. Phải chăng đó là phần vô thức tập thể, bản năng cộng đồng bất ngờ trỗi dậy tạo thành sức mạnh đoàn kết, gắn bó nhau trong những thời điểm lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Chính vô thức ấy đã sinh ra huyền thoại, những câu chuyện thần thoại xứ Thanh vẫn được lan truyền từ đời này qua đời khác.

 

Bị ám ảnh bởi tiêu đề tập thơ, tôi thấy "Cát lầm" của Văn Đắc thường sáng lên khi gặp những câu thơ trong trẻo, tràn đầy cảm xúc. Hình ảnh một vùng quê hiện ra từ mắt "Búp bê" trong đoạn thơ dưới đây thật quyến rũ và đầy bất ngờ:

 

"Từ trong mắt

Búp bê

Cả một vùng quê

Mát trong

Giếng ngọc" (Búp bê).

 

Cát trong tập thơ này thường biến ảo, ẩn hiện, đa dạng. Cát có lúc gối vào cát tựa như người tiếp bước chân người để làm nên những hành trình mới cho thành phố của Văn Đắc:

 

"Thế là thành phố của tôi

Bước qua nghìn bậc vai người mà đi" (Thành phố của tôi).

 

Có lúc tác giả lại cố ý làm cho cát lu mờ đi trong những ảo ảnh thoáng chốc. Nhưng những thi ảnh như được che bớt đi ấy lại hắt sáng một vùng không gian khác, tạo nên những hiệu ứng thị giác mới lạ, mở cho bạn đọc những nhãn quan mới như có thể nhìn sâu vào bên trong từng sự vật.

 

"Nhớ một nửa... mong chờ một nửa

Cát giấu mình vào phố biển ưu tư" (Nơi ấy).

 

Hay:

 

"Đêm về

Tôi có một giấc mơ đi trong tiếng đàn như ma ám,

đi trên mái nhà cao tầng như đi trên cát." (Nơi ấy).

 

Tập thơ này cho thấy Văn Đắc có thi pháp khá phong phú và đa dạng. Tựa như một ca sĩ có âm vực rộng, thơ ông có lúc đắm say, lãng mạn, lúc lại buông thả, phóng giật, tạo những xung động mạnh mẽ:

 

"Giữa mênh mông biển

Lửa từ đâu ùa sang hừng hực cháy

Tiếng nổ

Tia chớp

Biển đỏ ngầu

Cát lầm dạt vào đảo đá

Biển bất ngờ bị đánh úp" (Viết ở thành phố biển).

 

Mỗi nhà thơ dường như gắn bó với một vùng đất, thường là nơi họ được sinh ra và dù có đi xa đến đâu thì nơi chôn nhau cắt rốn ấy luôn là chốn khởi nguồn cảm xúc sáng tạo. Cố thi sĩ Nguyễn Phan Hách là một ví dụ. Cho đến khi giã từ cõi tạm, Nguyễn Phan Hách luôn đau đáu nhớ về làng Mão Điền, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, nơi ông đã từng viết bài thơ "Làng quan họ", trong đó có những câu thơ cho bạn đọc thuộc nằm lòng.

 

"Sông Cầu làm bao xanh

Ngang lưng làng Quan họ

Những cánh buồm nhớ thuơng

Câu ca đầu ngọn gió".

 

Hay, Nguyễn Quang Thiều là nhà thơ gắn bó với Làng Chùa (xã Sơn Công, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Tây; nay thuộc Hà Nội). Trong bài thơ "Bài hát về cố hương" nhà thơ tỏ bầy tình yêu với quê hương đến tận kiếp sau.

 

"Tôi xin ở kiếp sau là một con chó nhỏ

Để canh giữ nỗi buồn – báu vật cố hương tôi."

 

Với Văn Đắc, quê hương đã gắn vào biệt danh mà bạn đọc gọi ông: Thi sĩ xứ Thanh! Mọi cung bậc tình cảm, tâm trạng cũng như bút pháp của Văn Đắc trong tập thơ "Cát lầm" đã phác họa rõ nét chân dung thi sĩ của ông. Với cá nhân tôi có thể nói, Văn Đắc là nhà thơ viết về xứ Thanh nhiều nhất và cũng hay nhất. Từ mấy năm trước tôi đã rất thích bài thơ “Tôi người Thanh Hóa” gồm 131 câu thơ của ông. Tôi coi đây là một tiểu trường ca xuất sắc viết về Thanh Hóa. Trong đó tôi nhớ mãi câu thơ vạm vỡ khắc họa tính cách con người xứ Thanh của ông:

 

“Thích thì vác đá xây thành

Uất thì chọc thủng trời xanh mà cười”.

 

Thi tập "Cát lầm" vẫn giữ nguyên vẹn tình yêu cháy bỏng với quê hương của ông, nhưng lắng sâu và đằm thắm hơn. Câu thơ sau đây cho thấy ông đã đi từ sự phóng khoáng, ngổn ngang đến sự giản dị. Bạn đọc cũng thấy được nhà thơ đã bước vào cái tuổi gạt bỏ mọi sự phù hoa, như cố ý xóa đi mọi dấu vết của thủ pháp, lấy xúc cảm chân thành làm căn cốt cho sự sáng tạo.

 

"Trời Thanh Hóa của tôi là cái vó

Thả lúc nào cũng vớt được tôi lên" (Cát lầm).

 

Câu thơ ấy cho thấy Văn Đắc đang an nhiên, tĩnh tại nơi làng Triều bên biển Sầm Sơn quê hương ông. Nơi ấy cát vẫn không ngừng chuyển vần cùng con người và mảnh đất thiêng xứ Thanh. Và trong tâm thức ông, "cái vó" trời xứ Thanh luôn buông thả trên đầu, dù có "vớt" ông lên hay sẽ "vớt", thì tâm hồn ông luôn thơ ngây và trong suốt, bởi ông là "người Thanh Hóa”.

 

Đất Thanh Hóa thời nào cũng sinh ra những nhân kiệt cả văn lẫn võ, cũng là nơi khởi sinh các huyền thoại cho dân tộc Việt từ xa xưa. Tôi tâm đắc với nhận xét của PGS.TS Hỏa Diệu Thúy viết về miền đất và con người xứ Thanh như sau: "Dòng sông Mã chảy qua nhiều vùng đất nhưng về đến xứ Thanh mới cất lên thành những câu hò hào hùng da diết, cõi Nam nhiều hang động kỳ thú nhưng chỉ có động Bích Đào của xứ Thanh mới có huyền thoại người kết duyên với tiên, biển Việt Nam dài hơn ba ngàn cây số nhưng chỉ ở xứ Thanh mới sinh ra vị thần trấn giữ biển cả... Nói thế để thấy, mảnh đất có yếu tố “khởi nguồn” và “hội tụ” này đúng là nơi “được lựa chọn” để tạo ra những giá trị".

 

Thơ Văn Đắc qua các tập thơ đã hội tụ đầy đủ khí chất và cả hình tướng của vùng đất và con người xứ Thanh, ông thực sự là thi sĩ đã tôn vinh và làm rạng danh thêm quê hương giầu trầm tích của ông.

 

"Cát lặng im nghe sóng biển cười".

 

Tôi lấy câu thơ trong bài thơ "Nơi ấy" của Văn Đắc làm tiêu đề và cũng thay cho lời kết bài viết nhỏ này. "Cát lầm" của ông đang "nghe sóng biển cười". Xứ Thanh với người khác có thể là mảnh đất để thử thách lòng can trường và nghị lực, nhưng với Văn Đắc, nơi ấy mãi là cội nguồn bất tận của sự sáng tạo. Nhớ có lần trò chuyện qua điện thoại, tôi tò mò hỏi ông động lực nào đã thôi thúc nhà thơ giữ được cảm xúc viết về quê hương lâu bền và luôn tươi ròng như vậy. Văn Đắc tâm sự, ông sinh ra ở làng Triều nghèo khó và lao khổ, khi lớn lên đã từng đi khắp đất nước, nhưng tâm thức ông cứ mãi "loay quay" (chữ của Văn Đắc) về cái nghèo khổ ở làng quê thuở nào. Cái "loay quay" đó luôn ám ảnh, thôi thúc ông; và nhà thơ chỉ có thể giải tỏa nó bằng cách viết về chốn quê thân thương ấy. Cùng với "sóng biển cười", bạn đọc giờ đây được chiêm ngưỡng "Cát lầm" xứ Thanh, quê hương của nhà thơ Văn Đắc, đã vui hơn và lấp lánh hơn.

 

Hải Phòng, 5/2022

M.V.P

 "Giữ gìn và phát huy những phẩm chất ưu tú của người Thanh Hóa" của PGS.TS Hỏa Diệu Thúy. Báo Thanh Hóa ngày 29/01/2020

Bài viết liên quan

Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm