TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Những “giọt máu nhân sinh” lưu động cháy bỏng trong thơ Trần Mạnh Hảo

Những “giọt máu nhân sinh” lưu động cháy bỏng trong thơ Trần Mạnh Hảo

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-01-01 11:25:30
mail facebook google pos stwis
711 lượt xem

                                                                                      Tuấn Trần

Trần Mạnh Hảo đã lao động văn chương “đau nhói” cả đời. Tạo ra một cánh đồng chữ nghĩa trù phú cho nhiều sự cảm nhận, thẩm định và phê bình. Nói đến thơ ông là nói đến nhân sinh và triết thuyết làm người. Trong những lời và ý thơ luôn có những “hoạt tính thần bí”. Vừa thách thức, vừa khích lệ và đốt cháy ý thức “tư biện” trong người đọc.

Với thơ ông, ngôn ngữ luôn đạt độ “tinh tuyền”. Vừa hiện thực, vừa giàu nhân ái của trí tưởng. Cách cảm ngộ nhân sinh lý trí tuyệt đối mà đọc lại bị/ được tình- hình- âm sắc dẫn động để tỉnh thức và ru mê. Tính “giảm đau” và “gây mê” luôn tồn tại trong “địa hạt mắt thơ”.

Trần Mạnh Hảo đã chiếu hào quang lên sân khấu văn chương nước nhà. Thơ ông đã chiếu ứng vào đời sống. Cuộc hiến tế vĩ đại trái tim nghệ sĩ cho đời, cho thơ ca và nghệ thuật. Tiếng thơ lấy chất liệu mưa, nắng, hương trời, lộc nước sến cũ hoài niệm và tính bác luận uẩn súc sâu xa mà tạo tác. Cho nên người đọc luôn thấy cũ quen của hoài niệm mà tươi nhuận của bức tranh thời cuộc:

Vẫn phố nhà xưa, mưa nắng xưa
Không em trời đất có như thừa
Đời anh biết ném vào đâu được
Giật mình nào biết sống hay chưa?

(Giật mình)

Đời sống luôn thiếu khuyết bởi cơ thể tục nhân không thể dung chứa nội tâm ào ạt và vũ trụ thì quá diệu vợi với kiếp sống nhỏ bé của con người. Cảm thức sự trống vắng luôn hiện tồn. Tác giả thấy sự mông lung của không gian và thời gian để có lúc giật mình về nắng, mưa bên đời hiu quạnh. Bài thơ buồn một nỗi hư rỗng, bâng khâng về cái nhỏ nhoi làm người. Để rồi ta luôn nhìn không rõ, nghe không thấu về cái tồn tại và cả cái đẹp đẽ của hồng trần. Từ đó con người luôn ý thức soi mình, tìm những tấm gương trong mắt người hay “lòng giếng” để như nổ lực thấu tỏ chính mình. Nhưng hiểu mình còn khó hơn cả thấu về tha nhân:

“Sáng ra nhìn gương thấy mình lạ

Cứ tưởng là ai vội cúi chào

Chợt nhận ra mình thân thiết quá

Tên mình quên khấy lúc chiêm bao”

 (soi)

Nhà thơ đã thực hiện một hành vi rất đời thường là soi ngắm chính mình mỗi sáng sau chiêm bao. Giấc ngủ đã giúp cho năng lượng, trí tuệ và cảm xúc được tái tạo. Để rồi tỉnh dậy sự đối mặt đầu tiên thấy mình như khác đi, sạch hơn, trong hơn và rỗng lặng hơn so với hôm qua để bất chợt tưởng không hẳn là mình. Đời sống trong mơ luôn nhiều vẻ đẹp mộng và con người luôn muốn ngủ để có giấc mộng nên thơ và tự làm sạch mình như thế.

Nhà thơ Trần Mạnh Hảo (thứ 3 trừ trái sang) tại Hội nghị văn trẻ TPHCM 2024

Tác giả đã thông qua sự soi đó mà nhận ra được cái hiện thực của thức giấc. Ngày tháng vội đi, mặt trời dọi bao nhiêu sự đời bất khiết. Và phô bày ra nỗi đau tha nhân. Tác giả sau cuộc soi ngắm và khảo nghiệm đã thấy bản chất của sống và cái đáng “rủa sả” của loài “Homo sapiens”:

Hai con bê ở cạnh nhau
Chém nhau lúc đến về sau bạn hiền
Con người mới gặp như tiên
Ở lâu chợt quỷ, người quên phận người

(Đồng loại)

Sự soi ngắm chính mình đã giúp chủ thể trữ tình nhận ra sự đời cay đắng. Xã hội ô trọc, phàm phu, giằng co thiện ác. Con người không bằng chó lợn, luôn muốn sát phạt, làm đau nhau trên nhiều cấp độ và phương diện. Thực tế thấu triệt, “thay đổi”, “tự chuyển hóa” như một thứ thuộc tính quy luật trong dòng máu của giống động vật cấp cao. Dẫu họ dễ tổn thương và luôn trắc ẩn nhưng dễ quên đi cái nghĩa tương hỗ, yêu thương để hòng chà đạp lên nhau đặng tồn tại. Chiến phí từ lúc hình thành xã hội phân chia thượng tầng chắc có thể đủ để xây vành đai vàng rộng dày gang tấc bao bọc nơi trái đất.

Lời thơ đau đớn thành thực róng riết khiến lệ đã rơi trong giấc ngủ, tan loãng vào giấc mơ đêm. Việc khóc trong vô thức đó khiến giọt lệ ở trạng thái cô đặc nhất, đóng cặn sự mặn chát nhân sinh. Giọt nước mắt ứa ra từ những góp nhặt trần trụi khi đi qua cuộc đời vay trả để rơi trong mộng mỵ đêm hoang:

“Nửa đêm chợt thức, mơ đâu mất
Tỉnh ra chỉ thấy ướt mi thôi
Cả đời khi thức không hề khóc
Nằm ngủ say rồi, lệ mới rơi”

 (Khóc)

Từ cái thực tại bùng nhùng, đen đúa đó. Nhà thơ, hay người hiền luôn mộng tử tế. Chờ cái đầy tròn, cái viên mãn, cái độ tha và yêu thương. Nỗi chờ đợi ở đời là tuần hoàn như một quá trình đạp xe. Nhân sinh luôn lặp lại về mọi phương diện: Không gian, thời gian, kiếp sống, đến và đi, hợp tan và vay trả… Tiếc nuối là trạng thái tạo ra sự “sống mòn” của những lớp người. Tiệc tàn, chợ tan, tình đời, tình người chớp nhoáng, luôn không thể thưởng trọn vẹn bởi lý trí đã nhận thức được quy luật của sự mất đi, di biến.

Việc truy bức để sống và tận tuyệt thụ đắc cái đẹp bằng sự lãng mạn hóa, thi vị hóa như trong một số bài thơ trên “Chiếu Thơ Mới”. Trần Mạnh Hảo không đi theo lối đó. Ông không cuồng quyến, si mê và đòi chống lại bước đi thời gian để đắm say, dào dạt giao hoan với vạn vật. Như lẽ thường ông vẫn yêu và vẫn tiếc nuối để ý thức buông bỏ tránh sự bị dày vò bởi những cưỡng cầu:

Chờ mãi trăng mới tròn
Ngồi thưởng rằm lại tiếc
Giá cứ còn trăng non
Để mai đừng trăng khuyết.

(Đỉnh núi)

Tiếc nuối đó, bởi thời gian ăn mòn cuộc đời như trăng tròn rồi cũng bị gọt đẽo mỏng mảnh trước lưỡi cưa của vũ trụ. Nhà thơ lại tìm đến những vì tinh tú để nói về thân và phận. Đường đi thoắt ẩn thoắt hiện của những vẫn thạch khi vào quyển trái đất đó tạo nên trong mắt người những sự sống lấp lánh. Nhưng cái đẹp ảo diệu đã biến mất sau một cái chớp mắt, nhanh như trở bàn tay. Cho nên tác giả hình dung như “vệt khóc”.

Điều đặc biệt trong thủ pháp là sự chuyển đổi cảm giác. Sao băng vốn dĩ dạng vật chất lại được ví như nước mắt. Nước không chảy mà là “cháy thành dòng”. Sự tế vi trong dụng ngôn đã tạo nên sáng tạo thẩm mỹ tuyệt vời.

“Thơ anh” có cái đẹp sự sống lấp lánh trong hình hài, có cái mặn chát đắng đót trong vị. Có nỗi đau giáng xuống tấm thân trần của kẻ vô loài. Tạo ra một vết thương giữa trời đêm chưa lành hay hoặc là mãi “mở hoác” không bao giờ kín hình riệt vết cắt.

Một lối kiến tạo thể thức thơ ngũ ngôn tứ tuyệt “vuông thành sắc cạnh”. Hệ ẩn dụ dày đặc và hình tượng thơ đẹp vi diệu. Nét vẽ tương phản giữa đẹp và đau đã họa nên không gian nghệ thuật mỹ diệu:

 

Ngôi sao như vệt khóc
Cháy thành dòng thơ anh
Sao băng hay roi quất
Vết thương đêm chưa lành

 (Sao)

 Trời xanh thẳm trên đầu
Trời xanh dưới hồ sâu
Hai vòm trời xanh ấy
Đâu là bóng của nhau?

(Hình bóng)

Nếu như trăng và đỉnh núi có chút tiếc nuối về sự trôi lăn. Cảm tưởng vẻ đẹp sẽ phai tàn, úa nhợt trước thời gian. “Sao” nói về mối quan hệ giữa nghệ thuật và phù sinh. Cái đẹp trong cơn va đập với đời sống thì “Hình bóng” lại cảm thức về cái song trùng tồn tại của hư và thực, sống và chết, âm và dương, và sự khó đoán, khó nắm bắt của thực tại... Ở đâu cũng tồn tại thật giả, mập mờ, không dễ tỏ tường. Hai vòm trời ám chỉ hai thái cực trong một chỉnh thể. Con và người, yêu và ghét, buồn và vui… là những “đứa trẻ sinh đôi” nhưng tương phản, soi nhau, chống lại nhau lại luôn phải song song đối diện với nhau và làm đầy nhau. Tất cả là khó phân diện được nhau và “Hoán vị” rồi đồng quy nhau:

Mai rồi em có còn tin
Phút giây ở lại, muôn nghìn thì qua
Tim mình trong ngực người ta
Tim người ta đập rung da thịt mình.

  (Hoán vị)

Khi con người phức hợp với thế giới. Quá trình đó buộc họ phải để cho nhân sinh tràn vào mình một cách tự nhiên nhất. Có đau khổ, niềm vui, vinh nhục, hận sầu. Khó ai ngoài cuộc được với “mẫu số chung” của sự đời nỗi đau. Bài thơ nói về khoảnh khắc của kí ức trước muôn ngàn cái đến đi, biến di, lăn trôi của thời gian: “Phút giây ở lại” như khát khao thấu hiểu, hòa trộn. Khiến cho những nhịp đập yêu thương đã trong nhau, thấm đượm nhau để càng đi về phía đầu mút thời gian càng thấy được hơi thở phập phồng của thời đại. Luôn thổn thức một nỗi níu- buông. Hiện tồn cái đay đả đã qua và mưu toan cho điều chực chờ tới.

Chính nhịp đập chung- riêng, đan cài, quấn bện vào nhau không thể tách rời giữa người lòng riêng và nỗi sầu chung trần thế đó mà chủ thể cảm xúc thấy mình trong kiếp lang thang. Không một điểm tựa hay sự ngưng định mà cứ chùng chình, đàn hồi như cảm xúc sóng sánh của con người khi đối mặt với sự bề thế của thiên nhiên. Luôn thường trực câu hỏi không lời đáp như cách Chí Phèo hỏi giữa thiên địa: “Ai cho tao lương thiện?”:

Nhà thơ sao giống chim tu hú
Cả đời không tổ cứ lang thang
Em hỡi lòng em còn chỗ trú
Để đổi thi ca lấy đá vàng?

(Hỏi)

Tu hú là loài chim bị đời đời oán ghét. Bởi Thượng Đế đã tước quyền làm mẹ của chúng. Loài chim sinh ra từ “trò đùa ác ý” của tạo hóa đó. Hắn buộc phải sống với “đinh mạng” của loài “ác điểu”. Trong tiếng kêu lảnh lót một chặp dài xé đêm rồi thều thào tắt nghỉ dần của hắn đã nói về thân phận chát chúa của chính mình. Tâm thức của nhà thơ cũng thế, kẻ tìm một nơi trú ngự giữa những “tia chớp” cuộc đời. Hẳn đã phải sống kiếp trôi sông lạc chợ, đầu sông cuối bãi. Kiếp sống của kẻ chẳng hợp bầy. Đội lên đầu bao cay đắng, đổ nát, bao phỉ báng của đời sống vật chất lên ngôi:

Ai ai cũng đẻ tổ nhà
Riêng tôi tìm tổ người ta đẻ nhờ
Hỡi người sống kiếp bơ vơ
Có thương tu hú bây giờ về đâu?

(Lời tu hú)

Sống một kiếp như kẻ ươn hèn, bạc nhược. Không có sự săn sóc, dạy dỗ của vòng tay bao dung. Tu hú lớn lên bằng sự cướp bóc và giết chóc. Ảnh tượng tu hú là cảnh tượng nhân sinh với những người bơ vơ, lạc lõng, bất lực giữa khát vọng tươi đẹp khi đối diện với hiện thực tréo ngoe.

Tu hú là tâm tưởng nhà thơ. Kẻ “cố chấp” đi tìm cái đẹp và sự lương thiện trên biển đời tái xám đầy bóng tối và bọt sóng bất khiết bì bọp, héo quắt những thân người đọa xuống.

Trong cái vô định, vô thủy, vô chung của vạn vật. Trước cái lang thang của kiếp tu hú, chủ thể cảm xúc lại hóa thân thành “Vạc”. Sau những đổ máu và nước mắt, định kiến và nỗi hằn học ở đời sống “ác điểu” với tiếng “thều thào” lãnh lót trong đêm. Giữa hiện thực nay đã “réo” lên trong khô khát trên nền trời đêm u ám. Như tiếng gọi vào mông lung của kẻ đã đến giờ chót. Tiếng ngàn năm nhức nhối của tranh đoạt lụi tàn.

Hình ảnh Nguyễn Du và đời Kiều cùng sông Tiền Đường nơi “kẻ bạc mệnh” trầm mình tự vẫn và được thương vớt đó. Thương vớt hay bắt sống tiếp để đọa đày?

Vạc vẫn thấu lòng kẻ “lạc loài” tu hú. Hơn hai trăm năm Kiều vẫn tạo ra những cuộc “xích mích” trên văn đàn. Họ khóc, cười cho số phận kẻ “má hồng mệnh bạc” để luôn tranh luận tìm điều hợp lẽ đời nơi thân phận đã nhúng vào “dâm nhơ đắm nhiễm” đó. Sự đời đa đoan và biến tấu, chẳng đặng bình yên…:

Tiếng gì xé rách trời cao
Vạc kêu đêm tưởng người nào vừa kêu
Nguyễn Du thuở ấy viết Kiều
Tiền Đường vạc có báo điều tri âm?

 (Vạc)

Cho dù cảnh tĩnh hay động thì lòng người luôn tiềm tàng sự lạc lõng. Giữa không gian tĩnh lặng nhất. Tiếng đàn lòng vẫn lao xao trong lòng sâu. Con người khi nào còn lý trí thì vẫn còn khổ não, u hoài. Bài thơ tức cảnh sinh tình. Giọng thơ đậm vị hoài cổ như bức tranh “rừng gần đậm nét, non xa nhạt màu” mà luôn giấu giếm một cuộc khởi loạn. An/ yên chỉ là một khoảnh khắc và luôn ngầm chứa nguy cơ về sự hoán đảo. Trỗi dậy của sóng gió. Bài thơ nói về cuộc chiến không khoan nhượng, ngưng nghỉ giữa tồn tại và đẹp đẽ trên đời.

Sự thống ngự của gió là tuyệt đối. Gió đã sống cổ lão. Chứng kiến bao sự tồn vong và hắn là đầu mối của mọi sự “xô đổ”. Ảnh tượng gió trong lùm cây tựa như cái ác luôn tồn tại bên trong. Kể cả những kẻ đang đấu tranh cho cái ác. Nó luôn cự quậy, phập phồng để thổi vào không khí vốn dĩ khẩn cầu sự lặng lẽ chốn nước non:

Gió đã mệt nhoài trưa lãng quên
Nghiêng nghiêng trời đất suối đang thiền
Không có tiếng bò kêu bãi cỏ
Chưa chắc lùm cây gió ngủ yên

 (Lắng trưa)

Giá trị thẩm mỹ trong thơ Trần Mạnh Hảo tất nhiên kỳ vỹ hơn ta tưởng, tuyệt diệu hơn ta tưởng. Sâu đến “rốt cùng trơ trọi” hơn mọi cảm- hiểu của ta. Chính vì thế, đọc thơ Trần Mạnh Hảo luôn thấy được sự “nhỏ nhoi” trong vốn sống và vốn đọc của tôi. Thế nhưng, sau một cuộc trải nghiệm thẩm mỹ thơ Ông, ý thức tôi như mặt trời thêm phần rạng. Trong mắt nở rộng hơn khung trời.

Trần Mạnh Hảo đã sống trong nghệ thuật như loài “ác điểu” trong “trứng nước” đã “rắc tâm” tranh đoạt để chiếm lấy, chiếm trọn nguồn sống cho tầm hồn. Cuộc giằng co, hút cạn “dịch đời” để tạo tác những vần thơ trác tuyệt. Như loài tu hú, anh hồn nhà thơ hòa vào nỗi đau sâu sắc nhất của đời để từ đó thấu tận “lòng xương ống tủy” hình riệt vết thương của nhân sinh:

Chim tu hú gọi mùa hè lưu lạc
Tu hú sao không làm tổ bao giờ?
Tâm hồn anh gởi trong hồn người khác
Trứng đẻ nhờ đời ấp nở thành thơ.

       T.T                                         

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nguyễn Trí Huân với vẻ đẹp tinh chất của Bất chợt mai vàng
Hôm gặp Nguyễn Trí Huân tại Lễ trao giải thưởng văn học nghệ thuật báo chí 5 năm (2020 - 2025) của Bộ Quốc phòng, tôi mừng lắm. Trước nhất là thấy anh không còn phải đội mũ để che một mái đầu trọc sau một thời gian phải dùng thuốc xạ trị căn bệnh hiểm nghèo. Hai là được biết cuốn Bất chợt mai vàng của anh là một trong ba tác phẩm được trao giải A lần này. Hôm ấy tôi đã nói với anh: “Thế là Huân có thể làm thủ tục để xét Giải thưởng Hồ Chí Minh được rồi đấy.” Anh Huân nắm tay tôi hồi lâu và cười rất tươi.
Xem thêm
Những câu thơ biết thức
Anh bạn cùng học ngành luật hẹn gặp, vui vẻ khoe vừa mới nghỉ hưu và đưa tôi tập thơ anh cũng kịp cho xuất bản. Nhìn qua đã thấy đẹp và trang nhã như cái tít của nó: Thái Hưng - ĐI QUA MÙA THU - Nxb Hội Nhà văn 2024. Tôi có cảm giác nhẹ nhàng, đây là tập thơ tình chăng?
Xem thêm
Chính Nguyễn Văn Mạnh đã tự làm sáng con đường dấn thân phụng sự văn nghiệp của mình
Bài viết của nhà thơ Phạm Trung Tín về tiểu thuyết Đường sáng
Xem thêm
Văn học mùa Giáng sinh
Khi Charles Dickens bắt đầu viết cuốn sách khiến tên tuổi của ông trở nên bất tử là lúc ông đang rơi vào khoảnh khắc bất hạnh và khó khăn nhất của cuộc đời mình. Ông mệt mỏi, lo lắng. Ông phải nuôi sống một gia đình lớn mà nợ nần ngày càng tăng và nỗi sợ về việc không thể tái tạo những thành công trong quá khứ. Những tiểu thuyết cuối cùng của ông đã không bán chạy như ông hy vọng. Độc giả dường như đang rời đi, bỏ rơi ông. Mà thời gian còn lại không nhiều.
Xem thêm
Cẩm nang nhỏ có giá trị để đi vào thế giới của sách
Khác với phần lớn các sách trước đó về phương pháp đọc sách hiệu quả còn nặng về hàn lâm, cuốn “ Đọc sách, điểm sách” của Nguyễn Ngọc Sơn là đóng góp kịp thời cho dòng sách này, dẫn dắt độc giả với những bước đi đầu tiên, từ đơn giản đến phức tạp.
Xem thêm
Phê bình như là tự truyện – Tiểu luận của Hoàng Đăng Khoa
Tín niệm phê bình văn học cũng là một dạng tự truyện rất gần với tinh thần của các phương pháp phê bình hiện đại như phê bình hiện tượng học, diễn ngôn học văn chương, hay mĩ học tiếp nhận – nơi chủ thể đọc/viết luôn hiện diện trong chính thao tác diễn giải văn bản. Dù vô tình hay hữu ý, mỗi bài phê bình đều là một “tấm gương một chiều” phản chiếu cái tôi nội cảm, cái chủ kiến, thiên kiến của người viết. Qua văn bản phê bình, người ta không chỉ thấy một hiện tượng văn học được phê bình, mà còn thấy cả một con người – đang thực hành sống, đọc, suy tư, tìm gặp tha nhân và bản thể.
Xem thêm
Đọc thơ của một luật sư
Tôi đã được đọc tập thơ đầu tay của Thái Hưng với cái tên rất thơ: ĐI QUA MÙA THU - Nxb Hội Nhà văn 2024; Rồi một số bài in chung trong tập: Bằng lăng tím lối Mễ Trì cùng với nhiều tác giả khác, lại đôi khi thấy thơ anh trên báo, chí, đậm nhất là tờ Thời báo Văn học nghệ thuật giới thiệu chân dung tác giả. Đọc qua, chợt có cảm nhận nhẹ nhàng, song ngẫm ngợi, thấy chất nhân tình thấm đẫm, cuốn hút. Chắc chắn phải là giọng của người đã từng đi qua nhiều mùa thu xao xác lá...
Xem thêm
Thơ là linh dược
Tôi nhận được tập thơ Cả những ngày đã quên của tác giả Trần thị Thuỳ Vy, sinh năm 1975, quê Duy Xuyên Quảng Nam. Tập thơ dày 115 trang, khổ 18x18, bìa cứng giấy đẹp, trình bày rất trang nhã, do Nhà XB Hội Nhà Văn ấn hành tháng 10 năm 2024. Cầm tập thơ lên tôi đọc đi đọc lại đôi lần, thấy hay hay, cái dễ nhận ra là tâm tư tình cảm của tác giả đã gởi trọn vào đây! Về quê hương về suy tư, về cuộc sống đã được tác giả biến hoá thành những con chữ có cánh bay xa, biết nói, biết giao tiếp với mọi người. Trong đó, sự cảm nhận rất mới với Thơ.
Xem thêm
Sắc thái Thời gian và cảm xúc Hoài niệm trong tập thơ Khi tâm hồn đầy nắng của Biện Tiến Hùng
Tập thơ Khi tâm hồn đầy nắng của Biện Tiến Hùng không chỉ là một tuyển tập gồm 107 bài thơ, mà còn là một tấm gương phản chiếu sinh động thế giới nội tâm phong phú và sâu lắng của thi sĩ. Bằng một giọng điệu trữ tình, chân thành và đượm màu ký ức, Biện Tiến Hùng đã khéo léo kiến tạo một không gian nghệ thuật nơi thiên nhiên, thời gian và con người hòa quyện vào nhau, tạo nên một bản giao hưởng cảm xúc đa tầng, một dòng chảy liên hồi của cảm xúc. Sức hấp dẫn của tập thơ nằm ở cách tác giả nhân hóa thời gian và biến hoài niệm thành chất liệu thi ca, qua đó không chỉ tái hiện một khung cảnh đã qua mà còn khơi gợi những nỗi niềm chung của độc giả về sự phù du của đời sống của kiếp người trong cõi nhân sinh.
Xem thêm
Cái “ngông” của Nguyễn Công Trứ
Thượng Uy Viễn – Nguyễn Công Trứ là một hiện tượng đặc biệt trong thời kỳ trung đại. Đời ông đầy giai thoại, mà giai thoại nào cũng cho thấy bản lĩnh sống, trí tuệ, triết lý nhân văn sâu sắc nhưng cũng rất hóm hỉnh, bình dân…
Xem thêm
Hơi thở cuộc sống trong thơ Nguyễn Kim Thanh
Trong hành trình sáng tạo của mỗi nhà văn đến với văn chương thì “ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học” để làm nên tác phẩm. Ngôn ngữ trong thơ (trữ tình), truyện (tự sự) và kịch (kịch bản văn học) đều có sự giống và khác nhau. Cùng với sự đam mê, năng khiếu, và “thiên phú” (trời cho) thì mỗi tác giả có sự thành công ở những thể loại khác nhau. Có người sáng tác thơ hay nhưng viết truyện lại dở và ngược lại có người viết truyện hay nhưng thơ thì không ra gì. Lại có người thành công ở nhiều thể loại: thơ, truyện, kịch, ký, lý luận phê bình. Nhà văn Nguyễn Kim Thanh là cây bút chuyên viết truyện ngắn, tiểu thuyết, tản văn, bút ký và đã xuất bản bốn tác phẩm văn xuôi. Nhưng nay chị lại “thử sức” sang thể loại thơ với tập thơ đầu tay “Giọt nước mắt thủy tinh” có 30 bài.
Xem thêm
Nỗi buồn chiến tranh - và cách nhìn về việc đổi mới dạy học văn trong nhà trường
Vừa qua, tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của nhà văn Bảo Ninh được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch vinh danh là một trong 50 tác phẩm tiêu biểu của văn học Việt Nam 50 năm qua đã tạo nên nhiều tranh luận trái chiều. Nhiều ý kiến cũng đã đặt ra vấn đề là có nên đưa tác phẩm này vào sách giáo khoa Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 hay không. Là những người đã từng học văn qua nhiều lần thay sách và là những người đang dạy môn văn nhiều năm trong nhà trường phổ thông, chúng tôi có một số suy nghĩ trong cách nhìn về việc đổi mới dạy học văn trong nhà trường về Nỗi buồn chiến tranh với tính chất là “những người trong cuộc”.
Xem thêm
Văn học đương đại Trung Quốc từ lăng kính các giải thưởng Hội Nhà văn (2015 - 2025)
Nhìn chung, hệ thống giải thưởng Hội Nhà văn Trung Quốc giai đoạn 2015 - 2025 đã làm nổi bật vai trò “điều hướng” và “chuẩn hóa” của mình trong việc thiết lập các tiêu chí thẩm mĩ, định hình phong cách sáng tác và thúc đẩy tương tác giữa văn học - học thuật - công chúng. Điều này cho thấy một mô hình văn học với định hướng chiến lược - kết hợp giữa nhu cầu nghệ thuật, định hướng chính sách và cơ chế truyền thông - đang ngày càng chiếm vị trí trung tâm trong đời sống văn hóa đương đại Trung Quốc.
Xem thêm
Chân dung tâm hồn của nhà thơ Nguyên Bình qua “Mật ngữ trắng đen”
“Mật ngữ trắng đen” (NXB Thuận Hóa, 2025) của nhà thơ Nguyên Bình, hội viên Hội Nhà văn TP.HCM, là một thế giới thi ca đầy suy tưởng, nơi ánh sáng và bóng tối, mộng mị và hiện thực, nỗi đau và niềm yêu thương luôn song hành, soi chiếu vào nhau. Tựa như cái tên Mật ngữ trắng đen, thơ Nguyên Bình gợi cảm giác về sự đối lập, nhưng không phải để phân định ranh giới thiện ác, buồn vui, mà để khai mở một cõi cảm xúc và nhận thức đa chiều về tình yêu, cuộc sống, con người. Ở mỗi bài thơ, tập thơ của anh đều ẩn chứa một lớp nghĩa nhân sinh sâu sắc.
Xem thêm
Quan điểm của Nguyễn Đình Chiểu đối với Phật giáo
Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) là một nhà Nho tuy đỗ đạt không cao nhưng cụ là một nhà Nho đức nghiệp, một con người trong ba tư cách: một nhà thơ, một thầy giáo và một thầy thuốc suốt đời vì dân vì nước.
Xem thêm
Thơ Nguyễn Bình Phương – Tiểu luận của Thiên Sơn
Việc làm thơ của Nguyễn Bình Phương như một sự bừng lóe của linh giác. Mỗi lần cầm bút viết là khám phá cái thế giới lạ lùng, huyền bí như thế giới của giấc mơ. Mà làm thơ, như anh, chính là đang theo đuổi những giấc mơ. Như bước vào một cảnh giới kỳ lạ, với cách nhìn, cảnh cảm và cách nghĩ khác, xa lạ với hầu hết mọi người.
Xem thêm
Văn học và dân tộc như một vấn đề học thuật
Kết nối ngôn ngữ, văn học với sự tồn tại một dân tộc đã là một thực hành phổ biến trong đời sống tri thức ở châu Âu từ nửa đầu thế kỉ XVIII. Một dân tộc là lí tưởng khi nó thống nhất tất cả những người nói cùng một ngôn ngữ trong một lãnh thổ chung, từ đó tạo thành một quốc gia - dân tộc. Văn học, với tư cách là hiện thân rõ ràng và lâu đời nhất của ngôn ngữ một dân tộc, có vai trò như là yếu tố ràng buộc và thống nhất. Nhà phê bình văn học Hoa Kì René Wellek viết: “Văn học vào thế kỉ XVIII bắt đầu được cảm thấy như là tài sản quốc gia, như là một sự thổ lộ tâm trí dân tộc, như là một phương tiện cho quá trình tự xác định của dân tộc”(1).
Xem thêm
Nhà văn Thomas Mann: Bậc thầy của mâu thuẫn
Xuất bản lần đầu vào năm 1924, Núi thần nhanh chóng trở thành cuốn sách bán chạy và được cho là tiểu thuyết tiếng Đức có ảnh hưởng bậc nhất thế kỉ 20. Nhưng ít ai biết nó được viết ra trong sự gián đoạn của chiến tranh và thay đổi của thời đại.
Xem thêm
“Những ngọn gió biên cương” - Khúc sử thi đi qua căn bếp có mùi nhang
Bài đăng trên Tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, số 12/2025.
Xem thêm
Ngọn gió chiều thổi qua “Nắng dậy thì”
Dòng thời gian sáng, trưa, chiều, tối đã chảy vào văn thơ bao thời theo cách riêng và theo cái nhìn của mỗi người cầm bút. Nguyễn Ngọc Hạnh đã thả cách nhìn về phía thời gian qua những sáng tác của ông. Thâm nhập vào không gian thơ trong Nắng dậy thì*, bạn đọc sẽ nhận thấy cảm thức thời gian của một thi sĩ ở tuổi đang chiều.
Xem thêm