TIN TỨC

Trương Vĩnh Ký, nhà bác học có công khai sáng chữ Quốc ngữ

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-07-14 00:19:44
mail facebook google pos stwis
19 lượt xem

TRẦN NGỌC TUẤN

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Người ta hay dùng chữ “bác học” để chỉ sở học của một người. Hai chữ “sở học” người viết dùng ở đây là từ câu nói nổi tiếng của danh y Lê Hữu Trác: “Thà tôi đắc tội với cổ nhân còn hơn là tôi phụ sở học của tôi”. Lại nhớ đến nhận xét của nhà nghiên cứu Nguyễn Huệ Chi khi viết về Lê Quý Đôn, rằng trong mỗi trang sách của ông có liên hệ đến khoảng 50 tư liệu (cuốn sách) khác. Đó cũng là lý do mà người ta tôn vinh Lê Quý Đôn là nhà bác học.

 

Chân dung Trương Vĩnh Ký

 

Lịch sử văn hóa Việt Nam cuối thế kỷ XIX đã ghi dấu ấn của một nhân vật lịch sử đặc biệt: Trương Vĩnh Ký – Pétrus Ký (1837-1898). Ông là một học giả lỗi lạc, là “nhà văn và nhà bác học Việt Nam” (Tự điển Văn học, bộ mới, NXB Thế giới, 2004, tr.1865) có tầm ảnh hưởng sâu rộng trên nhiều lĩnh vực như ngôn ngữ, giáo dục và văn hóa. Ông không chỉ nổi tiếng bởi tri thức uyên bác mà còn bởi những đóng góp quan trọng đối với sự hình thành và phát triển của chữ Quốc ngữ.

 

Cuộc đời và tư tưởng – “cuốn sổ bình sanh công với tội”

Trương Vĩnh Ký sinh tại Vĩnh Long, trong một gia đình theo đạo Công giáo. Ngay từ nhỏ, ông đã bộc lộ tư chất thông minh và lòng ham học hiếm có. Thuở thiếu niên, ông được gửi vào học tại các chủng viện trong nước, sau đó chuyển sang Trường đạo Pinhalu (Campuchia), Pinang (Malaysia) để tiếp tục học tập. Chính môi trường giáo dục này đã giúp ông tiếp xúc với nhiều nền văn hóa và ngôn ngữ khác nhau. Nhờ năng lực xuất sắc, Trương Vĩnh Ký có thể “nói giỏi 15 sinh ngữ, từ ngữ phương Tây, và biết vững vàng 11 ngôn ngữ phương Đông” (Nguyễn Huệ Chi, Tự điển Văn học, bộ mới, đã dẫn, tr.1866). Sự am hiểu sâu rộng ấy đã giúp ông trở thành một trong những trí thức hiếm hoi của Việt Nam thời bấy giờ có khả năng giao lưu tri thức Đông – Tây một cách hiệu quả. Chính điều này đã đặt nền móng cho những đóng góp lớn lao của ông về sau.

Trương Vĩnh Ký từng làm thông ngôn và giảng dạy tại các trường do chính quyền Pháp thành lập. Dù vai trò này còn gây nhiều tranh luận, nhưng không thể phủ nhận những đóng góp quan trọng của ông trong lĩnh vực văn hóa và giáo dục. Thông qua việc viết sách, biên soạn tài liệu và giảng dạy, ông đã góp phần giúp chữ Quốc ngữ dần trở nên phổ biến, thay thế chữ Hán và chữ Nôm. Không chỉ dừng lại ở đó, Trương Vĩnh Ký còn là một nhà biên soạn và dịch thuật xuất sắc. Ông để lại hơn 100 công trình (theo Từ điển Văn học, đã dẫn, là 118 tác phẩm) thuộc nhiều lĩnh vực như lịch sử, địa lý, dịch thuật, sưu tầm nghiên cứu, sáng tác văn học và ngôn ngữ học. Những công trình này không chỉ giúp người nước ngoài hiểu hơn về Việt Nam mà còn góp phần bảo tồn và truyền bá các giá trị văn hóa dân tộc.

Về mặt tư tưởng, Trương Vĩnh Ký là người có tinh thần học hỏi, cởi mở và tiến bộ. Ông tiếp thu tri thức phương Tây nhưng không phủ nhận giá trị của văn hóa truyền thống. Ngược lại, ông luôn tìm cách dung hòa giữa hai nền văn hóa, qua đó góp phần làm phong phú thêm đời sống tinh thần của xã hội Việt Nam đương thời. Tuy nhiên, cuộc đời của Trương Vĩnh Ký cũng là một vấn đề gây nhiều tranh cãi. Việc ông làm việc cho chính quyền thực dân Pháp khiến một số người cho rằng ông có phần thỏa hiệp với chế độ cai trị. Song, cũng có nhiều ý kiến nhìn nhận ông như một trí thức yêu nước theo cách riêng, đã tận dụng hoàn cảnh để đóng góp cho sự phát triển lâu dài của văn hóa dân tộc.

 

Ảnh tư liệu về Trương Vĩnh Ký

 

Nỗi lòng công và tội được chính cụ Pétrus Ký gửi lại hậu thế qua bài thơ Tuyệt bút. Bài thơ này được PGS.TS Trần Hữu Tá đọc trong lễ kỷ niệm 100 năm ngày Trương Vĩnh Ký mất (1998) tại ngôi trường mang tên ông ở TP.HCM: Quanh quanh, quẩn quẩn lối đường quai,/ Xô đẩy người vô giữa cuộc đời,/ Học thức gửi tên con mọt sách,/ Công danh rốt cuộc cái quan tài./ Dạo hòn, lũ kiến men chân bước,/ Bò xối, con sùng chắt lưỡi hoài./ Cuốn sổ bình sanh công với tội,/ Tìm nơi thẩm phán để thừa khai.

Sau thời kỳ đổi mới ở Việt Nam, khoảng từ đầu thập niên 1990, nhiều cuộc hội thảo về Trương Vĩnh Ký đã được tổ chức. Nhiều nhận định thấu suốt về ông. Từ đây, người ta nhìn lại nhân vật lịch sử theo hướng đa chiều, công lao to lớn của Trương Vĩnh Ký đã được ghi nhận lại. Tên ông được đặt cho trường học và tên đường. Tác giả Trần Thanh Ái (trong bài viết Một số điều ít được biết về Trương Vĩnh Ký, đăng trên Tạp chí Xưa & Nay, tháng 11 năm 2022) viết: “Nói như một nhà văn, “núi cao (thì) mây phủ” (ý nói đến cuốn sách Núi cao mây phủ viết về cụ Trương Vĩnh Ký của tác giả Trần Thị Nim), do đó muốn quan sát đỉnh núi thì phải nâng mình lên đến độ cao nào đó mới mong nhìn thấy được núi”.

 

Người có công với việc truyền bá chữ Quốc ngữ

Theo nhà phê bình Vũ Ngọc Phan, chữ Quốc ngữ của ta ngày nay là thứ chữ viết theo lối La tinh do các cố đạo sĩ đặt ra để tiện việc truyền đạo Thiên Chúa. Cuối thế kỷ XVI, có các giáo sĩ người Bồ Đào Nha là Gaspard Amiral và Antoine Barbore đến miền Bắc (Bắc Kỳ) nước ta. Tiếp đến là ông Alexandre de Rhodes tới Nam Kỳ (1624). Để giúp các cha cố ở miền Bắc, năm 1625, Alexandre de Rhodes ra Bắc Kỳ. Năm 1651, ông cho xuất bản hai quyển bằng Quốc ngữ, mà theo Alexandre de Rhodes thì hai quyển này soạn theo bản của hai giáo sĩ Gaspard Amiral và Antoine Barbore. Từ đây, Vũ Ngọc Phan kết luận: “Như vậy, thứ chữ Quốc ngữ chúng ta hiện dùng ngày nay không phải do một người đặt ra, mà do ở nhiều người góp sức. Điều chắc chắn là cố Alexandre de Rhodes là người thông thạo tiếng Việt Nam nhất, đã có công đầu trong công việc nghiên cứu” (Nhà văn hiện đại, NXB Khoa học – Xã hội, 1989, tr.18).

Các nhà nghiên cứu cho rằng chữ Quốc ngữ tuy căn cứ vào giọng miền Bắc nước ta, nhưng bắt đầu được thông dụng, được học tập, được in ra sách, lại là công của đồng bào ta trong Nam Kỳ lúc bấy giờ. Tác giả Vũ Ngọc Phan cũng thừa nhận: “Ở nước ta, những người theo đạo Da-tô đã dùng chữ Quốc ngữ đầu tiên, song ngoài phạm vi đạo giáo, người Nam Kỳ là những người Việt Nam đã dùng chữ Quốc ngữ trước nhất”. Và chữ Quốc ngữ có được sự mẫu mực và được lan rộng ở Nam Kỳ sớm hơn cả là nhờ các nhà học giả đã thâu thái được học thuật Âu Tây trong hồi người Pháp mới đến nước Nam. Trong số những nhà học giả Việt Nam theo Tây học ấy, người ta phải kể đến công lao hai người có tiếng nhất là Trương Vĩnh Ký và Huỳnh Tịnh Trai (tức Paulus Của). Những cuốn sách Trương Vĩnh Ký diễn ra chữ Quốc ngữ, như Truyện Kiều (Nguyễn Du), Lục Vân Tiên (Nguyễn Đình Chiểu), Đại Nam quốc sử ký diễn ca, Lục súc tranh công, Truyện Phan Trần, Gia huấn ca…; và nhiều sách dịch như Tứ thư, Tam tự kinh, Tam thiên tự, Minh tâm bảo giám… xuất phát từ tinh thần dân tộc, muốn cổ vũ việc học và thông thạo chữ Quốc ngữ để dễ dàng sử dụng, để khai sáng quốc dân từ tấm lòng vì dân của Trương Vĩnh Ký.

 

Tác giả Trần Ngọc Tuấn

 

Có thể khẳng định lại nhà bác học Trương Vĩnh Ký là một trí thức tiêu biểu của Việt Nam thế kỷ XIX, người đã dành cả cuộc đời cho sự nghiệp học thuật và văn hóa. Việc đọc lại ông không chỉ giúp chúng ta hiểu hơn về một con người đặc biệt mà còn giúp nhìn nhận sâu sắc hơn về một giai đoạn lịch sử nhiều biến động của dân tộc.

Thới An, TP.HCM, tháng 4/2026

T.N.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
Chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học
Với các cây bút hậu hiện đại thì “chẳng có gì ngoài văn bản”. Họ tận dụng tối đa những khoảng trống, những yếu tố có thể sử dụng được để sáng tạo và biểu hiện. Họ sử dụng ngôn ngữ cũng hoàn toàn khác so với những nhà hiện đại. Với quan niệm không thể làm chủ được ngôn từ “nhà văn hoạt động như một kẻ tôi tớ đã để cho văn bản hoạt động một cách tự do vượt ra ngoài ý định của chính mình” [1, tr. 409], rất nhiều cây bút hậu hiện đại đã đảo lộn ngôn ngữ của mình, đoạn tuyệt với ngữ pháp, không chú trọng tới sự mạch lạc của ngôn từ, không thừa nhận giá trị, ý nghĩa nội tại của ẩn dụ và của tượng trưng. Ngôn ngữ với các cây bút hiện hậu đại, vì thế, cũng chỉ là một trong rất nhiều mắt xích của cỗ máy sáng tạo trò chơi, của những thử nghiệm vô bờ bến. Và không thể có một trục, một tâm điểm nào trong tác phẩm hậu hiện đại - đó là một trong những biểu hiện của lối sáng tác phi trung tâm hoá.
Xem thêm
Hào quang và bóng tối của Công tử Bạc Liêu: Từ huyền thoại giàu sang đến những suy ngẫm xã hội
Khi việc di chuyển bằng máy bay còn xa lạ với đa số người dân Đông Dương, gia đình Trần Trinh Huy đã có thể thuê hoặc sở hữu máy bay riêng để đi lại, thăm ruộng đất. Điều làm chấn động dư luận là cả nước Việt Nam khi ấy chỉ có 2 máy bay: một chiếc của Vua Bảo Đại và một chiếc của Trần Trinh Huy. Ngôi nhà của gia đình - nay là điểm tham quan, di tích văn hóa lịch sử - được xây dựng theo kiến trúc Pháp với nội thất nhập khẩu từ châu Âu, trở thành biểu tượng cho sự giàu sang vượt trội của tầng lớp địa chủ Nam Kỳ bấy giờ.
Xem thêm
Hội Nhà văn TP.HCM nhiệm kỳ 2020–2025: Một chặng đường nhiều thử thách và thành tựu
Videoclip Hội Nhà văn TP.HCM nhiệm kỳ 2020–2025: Một chặng đường nhiều thử thách và thành tựu phác họa bức tranh toàn cảnh về những dấu ấn nổi bật của nhiệm kỳ: từ hoạt động sáng tác, xuất bản, các cuộc thi, trại viết, hội thảo chuyên môn, Ngày Thơ Việt Nam, công tác văn học dịch, xây dựng Website Văn chương TP.HCM và Thư viện tác giả điện tử, đến những hoạt động nghĩa tình vì hội viên và cộng đồng.
Xem thêm
Cuộc tranh luận “nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vị nhân sinh”
Thiển nghĩ, nghệ thuật là sản phẩm của con người sản sinh ra nhằm phục vụ con người nên luôn phải chịu sự tác động tất yếu của xã hội loài người. Văn nghệ sĩ tùy theo hoàn cảnh xã hội mà sáng tác tác phẩm của mình trên mối dung hòa giữa hai khuynh hướng vị nhân sinh hoặc vị nghệ thuật vậy.
Xem thêm
Truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên và thông điệp của cha ông về sự vẹn toàn giang sơn
Truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên là một trong những huyền thoại đẹp nhất, sâu nhất và bền bỉ nhất trong tâm thức người Việt. Câu chuyện ấy không chỉ trao cho dân tộc một cách hình dung thiêng liêng về nguồn gốc chung, mà còn gửi gắm một quan niệm rất sớm về giang sơn: giang sơn không chỉ có núi rừng, đồng bằng, làng mạc, ruộng lúa, mà còn có biển cả, cửa sông, bến thuyền, ngư trường, đảo xa và những cộng đồng cư dân sống đời đời với sóng nước.
Xem thêm
5 dòng chảy bazan: Những đối thoại với Tây Nguyên
Chương trình giao lưu và ra mắt sách mang tên “5 dòng chảy bazan” đã diễn ra trong bầu không khí ấm áp, cởi mở và giàu cảm xúc tại Đường sách TP. Hồ Chí Minh sáng 24/5/2026. Sự kiện không chỉ giới thiệu chùm 5 tiểu thuyết của 5 cây bút trẻ đến từ Gia Lai, mà còn mở ra một cuộc gặp gỡ nhiều ý nghĩa giữa văn chương Tây Nguyên với bạn đọc thành phố.
Xem thêm
Văn nghệ miền Nam với Bác Hồ - Phim tài liệu của VTV
Hình ảnh Bác Hồ vẫn hiện diện trong đời sống sáng tạo của nhiều văn nghệ sĩ miền Nam như một nguồn cảm hứng lặng thầm mà bền bỉ.
Xem thêm
30-4 và mệnh lệnh của hòa bình: Xây dựng một Việt Nam hùng cường nhân văn hạnh phúc
Ngày 30-4 không chỉ là ngày toàn thắng của một cuộc kháng chiến trường kỳ, mà còn là ngày hòa bình trao cho dân tộc Việt Nam một mệnh lệnh mới: Phải dựng xây đất nước xứng đáng với những hy sinh đã làm nên độc lập, thống nhất. Từ mùa xuân lịch sử 1975 đến kỷ nguyên phát triển mới hôm nay, bài học lớn nhất vẫn là bài học về niềm tin, đại đoàn kết, ý chí tự lực, tự cường và khát vọng vươn lên. Hòa bình không phải là điểm dừng của lịch sử, mà là điểm khởi đầu của trách nhiệm: Xây dựng một Việt Nam hùng cường về tiềm lực, nhân văn trong phát triển, hạnh phúc trong đời sống của mỗi người dân.
Xem thêm
Văn xuôi đương đại - sự vận động theo hướng dân chủ và nhân bản
Sau năm 1975, đặc biệt từ 1986 với công cuộc đổi mới, văn học nước nhà vận động mạnh mẽ theo một quỹ đạo tinh thần mới.Sau nhiều năm bị ràng buộc bởi hoàn cảnh lịch sử ngặt nghèo của thời chiến, đời sống văn học cởi mở hơn rất nhiều. Trong không khí dân chủ được mở ra từ Đại hội Đảng VI, nhiều vấn đề mới được đặt ra, nhiều tác phẩm văn học cũ trước Cách mạng tháng Tám từng bị phê phán được khôi phục giá trị, đồng thời văn học cách mạng giai đoạn 1945-1975 cũng được đánh giá lại.
Xem thêm
Hội thảo khoa học “Họ Phùng Việt Nam - Dòng chảy và hội tụ” tại Đà Nẵng
Ngày 5/4/2026, tại thành phố Đà Nẵng, Hội đồng Họ Phùng Việt Nam phối hợp cùng Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam và Hội Khoa học Lịch sử thành phố Đà Nẵng sẽ tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề “Họ Phùng Việt Nam - Dòng chảy và hội tụ”.
Xem thêm
Ra mắt tập 4 thuộc Tổng tập Văn học dân gian Nam Bộ
Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh vừa ra mắt tập 4 của Tổng tập Văn học dân gian Nam Bộ của 2 tác giả Huỳnh Ngọc Trảng và Phạm Thiếu Hương. Tập 4 mang chủ đề Tuồng tích sân khấu và diễn xướng dân gian Nam Bộ.
Xem thêm
Đại thi hào Nguyễn Du và những dấu hỏi trong “mười năm gió bụi”
Nếu chỉ làm một thống kê số học thì hành trình trong cả cuộc đời của Đại thi hào Nguyễn Du chỉ cần ghi lại bằng vài ba nét gạch đầu dòng kiểu lý lịch trích ngang như ta hay dùng theo công nghệ số ngày nay. Vấn đề là qua cuộc hành trình tưởng như đơn giản ấy, ta rút ra được nhận xét gì, hiểu được gì về con người nổi tiếng này?
Xem thêm
Sự đổi mới tư duy lý luận văn hóa của Đảng từ năm 1986 đến nay
​Tóm tắt: Trải qua 40 năm Đổi mới, tư duy lý luận văn hóa của Đảng ta từ năm 1986 đến nay đã phát triển mạnh mẽ, liên tục có sự đổi mới về nhận thức: từ nhìn nhận văn hóa là lĩnh vực tư tưởng đến xác định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển đất nước. Đảng ta đã đưa ra quan điểm, đường lối xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tập trung xây dựng hệ giá trị văn hóa, chuẩn mực con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học gắn với hệ giá trị gia đình Việt Nam trong mối quan hệ biện chứng với hệ giá trị quốc gia, để văn hóa, con người sẽ là nguồn sức mạnh nội sinh, sức mạnh mềm văn hóa, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất nước.
Xem thêm
Đặng Thùy Trâm đã hóa thân vào mùa xuân đất nước
Gần 20 năm kể từ ngày đầu tiên vở diễn về bác sĩ Đặng Thùy Trâm ra đời, NSƯT Huy Thục ngồi điểm lại bao lần rơi nước mắt ở nơi in dấu chân của chị. Rồi ông kể những câu chuyện kỳ lạ mà ông cho rằng: Bác sĩ Đặng Thùy Trâm rất linh thiêng! Nhà thơ Thanh Thảo thì tâm sự, mong nơi chị hy sinh sẽ xây dựng một đền thờ để đón du khách, vì chị rất linh thiêng, chị đã hóa thân vào đất nước.
Xem thêm
Cảm hứng từ trò chơi dân gian Việt qua bộ phim “Báu vật trời cho”
Lấy cảm hứng từ các trò chơi dân gian Việt Nam để thiết kế hình ảnh quảng bá phim chiếu Tết là nỗ lực sáng tạo từ bộ phim Báu vật trời cho của đạo diễn Lê Thanh Sơn. Bộ phim sẽ ra rạp vào mùng 1 Tết Bính Ngọ (17/2).
Xem thêm
“Ngọn gió” chính sách cho văn học Việt vươn xa
Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 350/2025/NĐ-CP quy định về khuyến khích phát triển văn học đánh dấu một bước tiến quan trọng trong hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm tạo động lực cho hoạt động sáng tác, quảng bá và phổ biến văn học Việt Nam trong bối cảnh mới.
Xem thêm
Phan Bội Châu - người “đốt đuốc giữa ban ngày”
Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, có những con người mà tên tuổi của họ vượt khỏi khuôn khổ thời gian, trở thành ngọn lửa soi sáng cho nhiều thế hệ sau. Một trong những ngọn lửa ấy là Phan Bội Châu – nhà cách mạng lỗi lạc, người mở đầu cho phong trào giải phóng dân tộc đầu thế kỷ 20.
Xem thêm
Kiến tạo nền tảng văn hóa số
AI đang thay đổi cách sáng tạo và phổ biến tác phẩm văn học, nghệ thuật. Bên cạnh những cơ hội, AI cũng đặt ra thách thức về quyền tác giả, đạo đức nghề nghiệp và vai trò con người trong sáng tạo - những yếu tố cốt lõi để xây dựng văn hóa sáng tạo có trách nhiệm, lấy con người làm trung tâm.
Xem thêm
Thi ca – Nhịp cầu nhân văn kết nối Việt Nam & Palestine
Sáng ngày 17/12/2025, tại Hội trường A – Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật TP. Hồ Chí Minh, đã diễn ra chương trình “Gặp gỡ thi ca Việt Nam – Palestine”, một sự kiện văn học quốc tế đặc sắc mang đậm tinh thần nhân văn và liên văn hóa.
Xem thêm