TIN TỨC

Soi lại mình trong thơ, trong hoa và đời

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2021-10-17 17:51:13
mail facebook google pos stwis
3364 lượt xem

TRẦN THỊ THẮNG

Tôi chưa lần nào gặp nhà thơ người Khmer Trúc Linh Lan, chị là chủ tịch Hội Nhà văn Cần Thơ. Nhưng khi đọc thơ chị thì có nhiều câu chữ như biết nói sâu hơn như: Soi lại chính mình; Vô thường; Mai ta về Hà Nội chớm đông; Hoài niệm khúc tình xưa; Hà Nội mùa trở gió; Vô thường. Sau này gặp lại, tôi mới tìm đọc kỹ hơn: Thơ chị rất gần với con người ngoài đời. Xin bắt đầu bằng từ bài thơ Soi lại chính mình và trở lại những bài thơ chị in trong tập

Hình như tôi đánh mất một cái gì trong tôi

Niềm tin,

Sự hy vọng,

Cái tốt đẹp của cuộc đời.

(Soi lại chính mình, 3-1-2012)

Đọc tiếp dòng thơ dưới đây, bắt tôi phải đi tìm thơ trong các tập thơ Trúc Linh Lan

Tôi ngồi ở quán cà phê

Người bạn nói với tôi bằng học vị

Người bạn nói với tôi bằng mặt nạ nhiều màu

Một người bạn khác thì: Sao cũng được!

Tôi tự nhủ:

Gương mặt nào cho buổi sáng

Gương mặt nào cho buổi chiều

Sự lựa chọn mỏi mệt

Trên sân khấu bi hài.

Hãy cho tôi một gương mặt người tôi soi lại chính tôi!

(Soi lại chính mình)

Vậy là văn nghệ sĩ thời nay có bao điều để lựa chọn, chọn cho mình gương mặt nào để là mình, để nguyện làm người dẫn dắt cái đẹp đến với công chúng.

Thềm thơ mấy bậc hoa rơi

Gót sen ẩn hiện gọi mời hồn xưa

Tiếng thơ, tiếng sáo, tiếng mưa...

Đá trong tâm thức cợt đùa tri âm

Đi qua cánh cổng "Vọng Tâm"

Áo nghê thường, lụa nghê thường, khói sương

Em ngồi thêu áo nhân duyên

Mỏng manh sợi chỉ nghe thương phận mình

(Hồn xưa trên cánh tay em, 2007)

Đây là bài thơ vọng về hồn xưa, để mở ra “Đi qua cánh cổng "Vọng Tâm"

Mỗi nhà thơ đang sống thời hiện tại phải tự đặt mình trong nền văn hóa ngàn xưa để đối nhân xử thế, để viết, để là chính mình. Tôi cho rằng viết được một câu thơ, một bài thơ có một người đọc cũng đã là thành công. Trong thơ Trúc Linh Lan ngoài Soi lại chính mình ta lại đọc những bài thơ trước đó: Mười năm

Mười năm bạc cả tóc xanh

Mười năm lạc mãi khúc quanh đời mình

Mười năm một điệu tang tình                                        

Mười năm luyến láy đời mình chiêm bao.

( Mười năm, 6-5-09)

Đời người trải qua bao cay đắng về đời sống, duyên phận, về giàu nghèo. Trúc Linh Lan cũng có nỗi buồn quá lớn khi người chồng là chỗ dựa, là ý trung nhân hợp nhau và cùng yêu văn học thơ ca, anh đã ra đi mãi mãi. Nhà thơ luôn soi lại mình trong khi buồn rồi lại đứng dậy. Trong một bài thơ Bạn tôi chị viết về người bạn khi vợ ra đi để lại hai đứa con nhỏ cho anh, nỗi buồn của anh có nỗi buồn của tác giả cùng hoàn cảnh, nên câu thơ như bấu vào đời, bấu vào cuộc sống hiện tại với nhiều ước lệ

Bạn tôi gã đàn ông góa vợ

Hai đứa con giữ lấy hắn một bước không rời

Tóc trên đầu... đen dần ít sợi,

Trắng với nỗi buồn đêm một bóng lẻ loi

Nhà có ba người ba bóng mồ côi

Hai đứa trẻ mơ gọi - mẹ ơi!

Còn hắn thì... nhớ vợ.

Đó cũng là điều hắn rất sợ,

Sợ bản thân mình - sợ ký ức phai phôi.

…Đêm nay,

Hắn lại về trong cơn say,

Thắp một nén hương hắn rơi nước mắt,

Đứa con gái lén nhìn hắn khóc,

Nó nhận ra một điều bố nó rất cô đơn.

(Bạn tôi, Mùng 5 tết 2007).

Đi qua những mất mát, những còn lại là sự trăn trở của nhà thơ đương thời. Thơ Trúc Linh Lan có nhiều trở trăn trước cuộc sống hiện tại và quá khứ, hiện tại và tương lai để lại làm nhiệm vụ dẫn dắt người đọc cùng đứng dậy nhìn về một niềm vui nho nhỏ trước mắt và tương lai: “Mặt trời vừa lên/Đoá quỳnh khép mắt để lại mùi hương nuối tiếc.”

Đêm mơ

Đêm trăn trở

Đêm thao thức

Đêm chờ…

Nhiều đêm đi qua như một cơn giao mùa

Tiếng gió gọi tình, tiếng tắc kè đơn độc

Tiếng chim cú gọi khuya khô khốc

… Ký ức lộn xộn như một cung đường nhiều ngả

Ta trơ vơ

Ta không kịp nhận ra mình

Mặt trời vừa lên

Đoá quỳnh khép mắt để lại mùi hương nuối tiếc.

(Khoảng trắng màu hoa quỳnh,10.6.012)

Cũng đề tài hoa quỳnh, nhà thơ Trúc Linh Lan lại làm theo một ý tưởng có thể quỳnh không nở thì sao? Con tạo xoay vần không còn xoay được thì thế nào? Bản lĩnh nhà thơ dù trăng tàn, hoa không nở thì phải làm gì? Nhà thơ tự trả lời: Sương rơi trên trang thơ/Hay là nước mắt?

Có một đoá quỳnh không nở nữa,

Đêm không còn trăng.

Người đàn ông lục tung quá khứ,

Tìm một nụ hồng,

Để yêu.

Ướp hương vào tâm tưởng

Hoài niệm xưa,

Hoài niệm cuộc tình.

Người đàn ông cất trăng vào ký ức,

Để quên.

Sương rơi trên trang thơ,

Hay là nước mắt?

Xác thu rơi trong chiều vắng,

Quỳnh không còn trăng,

Không nở.

(Đóa quỳnh không nở)

Khi đọc thơ Trúc Linh Lan có nhiều trăn trở trước cuộc đời, trong tâm tưởng, nhưng khát vọng làm người, làm nhà thơ đúng với mình giữa cuộc đời mênh mông này rất khó nhưng vẫn phải làm. Trước tiên phải làm một nhà thơ đồng cảm sâu nặng với con người

Mùa xuân em mười tám

Đã con bế con bồng

Em trở về quê cũ

Lòng tôi buồn mênh mông

...Líu ríu con nước chảy

Líu ríu tiếng ru hời

Líu ríu ơi líu ríu

Tôi yêu em

Một đời!

(Líu ríu lục bình trôi,13/11/012)

Vậy trách nhiệm nhà thơ là phải hiểu hết thời cuộc ngày nay và bản lĩnh nhà thơ dẫn bằng thơ tới cuộc đời. Thơ lúc này không phải đi trên mây, cũng không thể tô hồng mà phải đau cùng nỗi đau của mọi người và dẫn họ đi bằng thơ của chính mình. Tôi đọc thơ Trúc Linh Lan không có con chữ tròn vo mà nó luôn day dứt, nó biết bấu chặt vào cuộc đời với nỗi đau có thật để hòa đồng và yêu thương con người bằng cả trái tim nhà thơ. Chị hoạt động thơ ca từ những năm 90 của thế kỷ trước tới giờ, mới được kết nạp vào hội Nhà văn Việt Nam năm 2016. Nhưng thơ chị đã hòa đồng cùng nhịp thơ thời đại từ hơn hai mươi năm nay. Bài Vô thường gõ lại nhịp thơ và hơi thở của chính nhà thơ sang thế kỷ 21

Đi qua ngày,

Khu vườn lạnh tanh hâm hao cơn khát nước

Mặt trời cười trôi ngược

Tôi tự nhận ra mình đang đứng ở cuối đông.

Đi qua ngày,

Ngọn gió lạc mênh mông,

Thổi bão cát lòng tôi xoáy hút

Sa mạc hư không, miền yêu thương tím ngắt

Loài cây xương rồng rực nở lửa từ hoa.

(Vô thường, 1-1-2012)

Nó như một mệnh lệnh từ trái tim nhà thơ phải làm gì nhiều hơn nữa cho thế kỷ tới, cho đất nước ta những năm tới.
 

Các nhà thơ nhà văn: Ngọc Tuyết, Bùi Đức Ánh, Lê Thị Kim, Trần Thị Thắng, Đặng Nguyệt Anh, , Phương Huyền, Trúc Linh Lan (bìa phải)

Bài viết liên quan

Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm