TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Thơ ca TPHCM đương đại: Từ bản sắc đô thị đến những chuyển động thẩm mỹ mới

Thơ ca TPHCM đương đại: Từ bản sắc đô thị đến những chuyển động thẩm mỹ mới

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-03-20 15:18:30
mail facebook google pos stwis
656 lượt xem

Từ góc nhìn lý luận – phê bình, TS Hà Thanh Vân phác thảo diện mạo thơ ca đô thị TP.HCM đương đại như một không gian thẩm mỹ đang vận động mạnh mẽ giữa truyền thống và hiện đại. Bài viết, đăng trên Tạp chí Văn nghệ TP.HCM số ra ngày 12/3/2026, không chỉ nhận diện những chuyển biến về đề tài, ngôn ngữ và hình thức nghệ thuật, mà còn gợi mở những vấn đề về bản sắc và vai trò của thơ ca trong đời sống đô thị hôm nay. Văn chương TP.HCM trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

HÀ THANH VÂN

Thành phố Hồ Chí Minh không chỉ là trung tâm kinh tế, chính trị năng động bậc nhất cả nước mà còn là một trung tâm văn hóa rực rỡ, nơi hội tụ và lan tỏa những luồng tư tưởng, trào lưu nghệ thuật đa dạng. Trong dòng chảy hối hả của nhịp sống đô thị ấy, thơ ca không hề bị lãng quên hay tan biến; mà ngược lại, nó đang tự làm mới mình để trở thành tấm gương phản chiếu trung thực nhất những rung động, ưu tư và cả những rạn nứt trong tâm hồn con người hiện đại.

Nếu như thơ ca giai đoạn trước thường nghiêng về cảm hứng sử thi, những tiếng lòng chung của thời đại, thì thơ ca đô thị TPHCM đương đại lại dấn thân sâu hơn vào những vỉa tầng của đời sống cá nhân và thế sự khách quan. Đó là một không gian nghệ thuật đầy ắp những va đập, giữa truyền thống hào sảng và hiện đại gấp gáp, giữa vẻ hào nhoáng của những tòa cao ốc và nỗi cô đơn sát sườn của những thân phận nhập cư, giữa thực tại trần trụi và thế giới ảo đầy biến động.

TS Hà Thanh Vân - tác giả bài viết.

Viết về thơ ca đô thị TPHCM hiện nay không chỉ là công việc định danh các tác giả, tác phẩm, mà còn là nỗ lực nhận diện một hệ sinh thái thẩm mỹ mới. Ở đó, ngôn ngữ thơ đã thoát ly khỏi những khuôn mẫu ước lệ để khoác lên mình chiếc áo của đời thường, của hơi thở phố phường và những trải nghiệm sinh tồn mãnh liệt. Bài viết này mong muốn phác thảo một diện mạo chung về dòng thơ đô thị phương Nam trong giai đoạn đương đại, qua đó khám phá những chuyển dịch quan trọng trong tư duy nghệ thuật và bản sắc của người nghệ sĩ giữa lòng một đô thị không ngủ, bởi vì xét cho cùng, nhà thơ, cho dù sinh sống ở nơi nào, họ vẫn cứ làm thơ, chỉ là ở đô thị thì sẽ có phần khác biệt.

Thành phố kẻ làm thơ

Đêm mơ tơ nhện

Biển cồn cào giăng lưới trăng sao

(Hoài niệm thành phố tuổi thơ – Lê Thiếu Nhơn).
 

Không gian đô thị và những chuyển biến trong tâm thế con người hiện đại

Trong tiến trình vận động của văn học đương đại, không gian không còn đơn thuần là cái nền địa lý hay bối cảnh khách quan, mà đã trở thành một không gian ký hiệu mang đậm dấu ấn tư tưởng của tác giả. Với một thực thể đặc thù như TPHCM, nơi hội tụ của những giao thoa, tiếp biến và cả những đứt gẫy, đổ vỡ văn hóa, không gian đô thị trong thơ ca khoảng 10-20 năm trở lại đây hiện lên như một nhân vật đa diện, vừa bao dung, hào sảng, vừa đầy rẫy những áp lực sinh tồn.

Trước hết, đó là sự kiến tạo một hệ thống biểu tượng đô thị mới. Thơ ca không còn đắm mình trong những ước lệ truyền thống với những mã biểu tượng lãng mạn như thời Thơ Mới 1930 – 1945 hay mã biểu tượng anh hùng như trong giai đoạn 1945 – 1975, mà trực diện đối mặt với thực tại trần trụi của đô thị. Những con hẻm sâu hút, những dòng xe kẹt cứng dưới cái nắng nung người, những tòa nhà kính soi bóng xuống dòng kênh đang hồi sinh, những con tàu trên sông nước... tất cả bước vào thơ với nguyên trạng vẻ bụi bặm và náo nhiệt của nó. Trong thơ của các tác giả như Phan Hoàng, Lê Thiếu Nhơn, Nguyễn Đăng Khoa… đô thị là một máy xay khổng lồ, nơi con người vừa nỗ lực hòa nhập, vừa không ngừng chất vấn bản sắc cá nhân giữa những khối bê tông vô cảm.

Những toà nhà tầng tầng mọc ngược đáy sông

nghiêng nghiêng cười tỏa bóng uy nghi thành phố

Những con tàu khổng lồ úp mặt mây trắng

nghênh ngang nở những tràng cười đập vào bờ xanh

 

Một đàn chim xuyên qua mặt gương loáng bạc

xuyên qua trăng non sóng sánh ánh đèn

ríu rít tiếng cười trốn tìm thơ dại

(Tiếng cười trên sông Sài Gòn – Phan Hoàng)

Không gian thơ đương đại đô thị là sự đối lập gay gắt giữa vẻ hoa lệ và những góc khuất thân phận. Đọc thơ TPHCM hôm nay, ta bắt gặp một cái nhìn nhân văn sâu sắc hướng về phía những vỉa hè sinh kế. Đó là sự va đập giữa ánh sáng neon rực rỡ của các trung tâm thương mại với bóng tối lặng lẽ trong căn phòng trọ của người nhập cư. Đô thị hiện lên như một mê lộ mà ở đó, con người dễ dàng bị choáng ngợp và lạc lối. Các nhà thơ không né tránh những mặt trái của đô thị hóa; trái lại, họ sử dụng chúng như một chất liệu để tạo nên tính hiện thực gai góc, buộc người đọc phải suy ngẫm về cái giá của sự phát triển, sự thay đổi cũng như những góc khuất phận người.

Mỗi ngày đối phó với những nỗi lo vô hình

Bạn châm giùm ta điếu thuốc

Rít giùm ta chút khói

Thổn thức cùng ta những mối đi về

Mình lướt vội từng sợi bê tông

Người ta găm vào chân những mảng màu sắc lạnh

Nhân danh hiện đại - văn minh - đô thị - sinh thái - thiên nhiên…

Những khái niệm mĩ miều xanh lòng và đau lòng

(Giấc mơ lênh đênh – Nguyệt Phạm)

Một điểm cốt lõi nữa chính là trạng thái cô đơn giữa đám đông của con người đô thị. Khi không gian vật lý bị nén chặt, con người lại có xu hướng giãn cách về tâm hồn. Nhân vật trữ tình trong thơ Nguyễn Hữu Hồng Minh, Trần Lê Sơn Ý, Nguyễn Phong Việt, Đào Phong Lan… và nhiều nhà thơ khác thường xuất hiện trong tư thế của một người quan sát cô độc. Họ hiện diện giữa những ngã tư đèn đỏ, trong những quán cà phê không tên hay trên những ban công nhà cao tầng để tự đối thoại với chính mình. Nỗi cô đơn ở đây không phải là sự ủy mị, yếu đuối mà là một phản xạ văn hóa, một nỗ lực để giữ gìn cái tôi nguyên bản trước sức ép của nhịp sống số và tốc độ vận động chóng mặt của thành phố. Chúng ta thấy một Inrasara phản biện đầy sắc sảo về quá trình đô thị hóa, một Lê Thiếu Nhơn trăn trở với sự chật chội của không gian sống, hay một Trần Lê Sơn Ý tĩnh lặng tìm kiếm những vệt nắng trên ban công chung cư.

Có thể nói, không gian đô thị trong thơ ca TPHCM đương đại đã có sự chuyển dịch mạnh mẽ từ không gian miêu tả đô thị sang không gian tâm tưởng con người. Thành phố không chỉ được nhìn bằng mắt, mà được cảm nhận bằng những sang chấn của hệ thần kinh, bằng nỗi khao khát được kết nối và được thấu hiểu giữa một thực tại đầy biến động.
 

Những cách tân về hình thức nghệ thuật và sự biến đổi của ngôn ngữ thơ

Nếu như nội dung của thơ ca đô thị TPHCM đương đại là một cuộc dấn thân vào những vỉa tầng tâm lý phức tạp, thì hình thức nghệ thuật chính là cuộc cách mạng để chuyển tải trọn vẹn những xáo động đó. Ở giai đoạn này, chúng ta chứng kiến sự phá vỡ các khuôn mẫu cổ điển để nhường chỗ cho những cấu trúc tự do, phóng khoáng và giàu tính trải nghiệm.

Có sự xâm lấn của ngôn ngữ đời thường và chất liệu văn hóa đại chúng vào thơ ca đương đại. Ngôn ngữ thơ ca TPHCM hôm nay rũ bỏ vẻ đài các, ước lệ để khoác lên mình lớp áo của đời sống thực tại. Đó là sự xuất hiện của các khẩu ngữ, từ lóng, thuật ngữ công nghệ và cả những từ ngữ mang đậm phong vị phương Nam, bình dân, giản dị, thậm chí bộc tuệch nhưng đầy sức sống. Các nhà thơ không ngần ngại đưa vào tác phẩm những âm thanh của đường phố, những mẩu đối thoại rời rạc hay những ký hiệu của thời đại số. Việc phi thơ hóa ngôn ngữ này không làm thơ rẻ rúng hay kém đi, mà trái lại, nó tạo ra một cầu nối trực diện, giúp thơ chạm sát vào da thịt của đời sống đô thị, biến mỗi bài thơ thành một lát cắt chân thực của hiện thực khách quan.

Anh tặng em bản đồ lô cốt

để cho em di chuyển được đúng giờ

đường Sài Gòn dạo này đang thẩm mỹ

chạm chỗ nào cũng nhạy cảm, rất khó… yêu.

(Lô cốt tình yêu – Ngô Thị Hạnh)

Bên cạnh đó là sự lên ngôi của các cấu trúc thơ tự do và thơ văn xuôi. Đô thị với nhịp sống gấp gáp, những va đập ngẫu nhiên và sự đứt gãy trong tư duy đã không còn phù hợp với những thể thơ có vần luật chặt chẽ. Thơ đương đại TPHCM có xu hướng tìm đến thơ tự do, thơ văn xuôi hoặc những cấu trúc phi tuyến tính. Những câu thơ ngắn dài bất nhất, những khoảng trắng cố ý, hay cách xuống dòng đột ngột chính là sự mô phỏng nhịp thở hổn hển của phố phường và sự bất an trong tâm trí con người. Trong các thể nghiệm của một số nhà thơ, ta thấy sự phá vỡ ranh giới giữa thơ và văn xuôi, giữa thơ và các loại hình nghệ thuật khác, tạo ra một không gian diễn xướng của ngôn từ hơn là một văn bản đọc truyền thống.

Tư duy thơ và hình ảnh thơ trong đô thi đương đại còn mang tính trực giác và điện ảnh. Ảnh hưởng của văn hóa thị giác đã tác động sâu sắc đến cách kiến tạo hình ảnh trong thơ đô thị. Hình ảnh thơ không còn dừng lại ở mức độ biểu tượng tĩnh mà mang tính động, giống như những cú cắt cảnh trong điện ảnh. Người đọc bắt gặp những hình ảnh gai góc, lạ hóa, đôi khi là những liên tưởng bạo liệt về cơ thể con người, về sự đổ nát hay sự tái cấu trúc của các không gian đô thị. Điều này cho thấy tư duy nghệ thuật đã chuyển từ cảm nhận bằng tâm hồn sang quan sát bằng thị giác và phân tích bằng lý trí.

Nhưng bên cạnh đó, vẫn có chỗ đứng cho ngôn ngữ thơ ca mang vẻ đẹp lãng mạn truyền thống, như để thấy rằng, mọi đổi thay vẫn bắt đầu từ những nền tảng. Mùa đông là tứ thơ quen thuộc, song để có một lát cắt mùa đông mỏng thì lại cần đến sự thấu cảm tinh tế của nhà thơ.

Mùa đông như dải lụa

Về trên thành phố rồi…

Bên đường nhặt chiếc lá

Chợt thấy mỏng bàn tay

(Mùa đông mỏng – Trần Lê Khánh)

Cuối cùng là sự xuất hiện của thơ đa phương tiện (Multimedia Poetry) và sự tương tác số. Trong lòng một đô thị công nghệ như TPHCM, thơ không chỉ nằm trên giấy. Nó hiện diện trên các nền tảng mạng xã hội, kết hợp với hình ảnh đồ họa, âm nhạc đương đại và nghệ thuật trình diễn. Sự thay đổi về phương thức tiếp cận này đã làm thay đổi cả cấu trúc bên trong của bài thơ, ngắn gọn hơn, giàu tính biểu tượng hơn và có độ mở tối đa để bạn đọc tham gia vào quá trình đồng sáng tạo.

Như vậy, những cách tân về nghệ thuật của thơ ca đô thị TPHCM hiện nay không chỉ là sự thay đổi về kỹ thuật, mà chính là sự tự thân vận động để tương thích với một thời đại mới, thời đại mà con người không chỉ sống trong không gian vật lý, mà còn sống trong một mạng lưới các ký hiệu và dòng chảy không ngừng của thông tin.
 

Điểm tựa cho thơ ca đô thị đương đại

Trong dòng chảy hối hả của những khối bê tông, những đại lộ rực rỡ và cả những con hẻm nhỏ ngoằn ngoèo, thơ ca đô thị đương đại đã nảy mầm và vươn lên như một nhu cầu tự thân để cân bằng lại đời sống tinh thần của con người hiện đại. Ở đó, vai trò của Hội Nhà văn TPHCM cùng các hoạt động văn học trọng điểm đã trở thành máy điều hòa và trạm tiếp năng lượng không thể thay thế.

Hội Nhà văn TPHCM không chỉ dừng lại ở vai trò một tổ chức nghề nghiệp, mà còn là một thực thể văn hóa sống động, giúp định hình diện mạo thơ ca đô thị. Giữa một không gian đô thị dễ làm con người cảm thấy bị nuốt chửng bởi tốc độ và sự phân mảnh, Hội đã tạo ra những diễn đàn để các thế hệ cầm bút kết nối. Cuộc thi thơ “Nhân nghĩa đất phương Nam” lần 1 và 2 do Hội Nhà văn TPHCM phát động là một minh chứng hùng hồn cho việc thơ ca không hề xa rời thực tại. Cuộc thi đã vượt ra khỏi khuôn khổ của một giải thưởng văn chương thông thường để trở thành một liệu pháp tinh thần quý giá.

Thông qua những vần thơ của các tác giả, hình ảnh thành phố hiện lên không chỉ có kẹt xe và khói bụi, mà còn ngời sáng vẻ đẹp của sự bao dung, tính nghĩa hiệp. Những bữa cơm 0 đồng, những chuyến xe nghĩa tình đi vào thơ ca một cách tự nhiên, khẳng định rằng giữa nhịp sống nghiệt ngã nhất, lòng trắc ẩn chính là sợi dây liên kết bền chặt nhất của cộng đồng đô thị. Đây chính là chất liệu đô thị nhân văn, một đặc sản văn hóa riêng biệt của vùng đất phương Nam. Cũng từ cuộc thi thơ này và các hoạt động khác của Hội Nhà văn TPHCM, các tuyển tập thơ “Tay người đô thị đầy dấu nắng khuya”, “Thơ phổ nhạc - 50 năm thành phố Hồ Chí Minh”… cùng  nhiều tuyển thơ khác ra đời, góp phần khắc họa chân dung một đội ngũ nhà thơ đô thị.

Bên cạnh các cuộc thi, Ngày thơ Việt Nam tại TPHCM đã biến thơ ca thành một lễ hội văn hóa đại chúng. Việc đưa thơ ra khỏi các trang sách để trình diễn tại các không gian mở đã giúp mềm hóa những khối bê tông vô hồn. Sự kết hợp giữa thơ với âm nhạc, hội họa và nghệ thuật sắp đặt đã thu hút đông đảo công chúng trẻ. Tại đây, ranh giới giữa tác giả và độc giả bị xóa nhòa, thơ ca trở thành một phương thức giao tiếp hiện đại, giúp con người đô thị định vị bản sắc cá nhân giữa dòng xoáy của toàn cầu hóa. Sự hiện diện của những nhà thơ lão thành như Hoài Vũ, Nguyễn Duy, Tần Hoài Dạ Vũ… bên cạnh những cây bút Gen Z cho thấy một mạch ngầm văn hóa bền bỉ, chưa bao giờ đứt gãy của thành phố này.

Thơ ca đô thị TPHCM đương đại, dưới sự dẫn dắt và tiếp sức của Hội Nhà văn TP, đã và đang thực hiện tốt sứ mệnh của mình, đó là giữ gìn phần hồn cho thành phố. Nó chứng minh rằng, dù đô thị có phát triển đến đâu, con người vẫn luôn cần những khoảng lặng nhân văn để trú ngụ, để thấu cảm và để yêu thương. Những cuộc thi, những ngày hội thơ chính là lời khẳng định: Sài Gòn – TPHCM không chỉ sống bằng hơi thở công nghiệp, mà còn sống bằng nhịp đập của những trái tim biết rung động trước cái đẹp và lòng nhân ái.

Thơ ca đô thị TPHCM đương đại không chỉ là một hiện tượng văn học khu vực mà còn là bộ phận tiên phong, nhạy bén nhất trong việc phản ánh những biến chuyển của đời sống Việt Nam. Thơ ca đã định vị được một hệ giá trị thẩm mỹ mới gắn liền với đô thị. Đó không còn là cái nhìn lãng mạn hóa hay sử thi hóa, mà là cái nhìn hiện thực, đa chiều và trực diện. Thành phố Hồ Chí Minh hiện lên trong thơ không chỉ như một đối tượng để ngợi ca mà như một không gian để đối thoại, nơi con người không ngừng nỗ lực tìm kiếm sự cân bằng giữa những áp lực của tốc độ, công nghệ và những giá trị nhân bản cốt lõi.

Sự trỗi dậy của cái tôi cá nhân đa dạng cũng phải được kể đến. Thơ ca đô thị giai đoạn này đã cho thấy một phổ biên độ rộng lớn của cảm xúc, từ nỗi đơn độc sâu thẳm của các nhà thơ nữ, tính phản biện xã hội quyết liệt của các cây bút nam, đến sự phá cách, phóng khoáng của thế hệ trẻ. Chính sự đa dạng này đã làm nên sức sống bền bỉ và sự hấp dẫn riêng biệt của văn học phương Nam, góp phần làm phong phú thêm diện mạo của thơ ca cả nước.

Sự dấn thân vào những thể nghiệm hình thức táo bạo là điều đáng ghi nhận. Việc phá vỡ các khuôn mẫu vần luật truyền thống, đưa ngôn ngữ đời thường vào thơ và tận dụng sức mạnh của các phương tiện truyền thông hiện đại đã giúp thơ ca rút ngắn khoảng cách với độc giả. Thơ trở nên gần gũi, trở thành tiếng nói đồng hành cùng con người trong những thăng trầm của cuộc sống hằng ngày.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu, dòng thơ này cũng đứng trước những thách thức về sự vụn vặt hóa, tầm thường hóa, hay nguy cơ đánh mất bản sắc trong cơn lốc thời hội nhập. Nhưng nhìn chung, thơ ca đô thị TPHCM vẫn đang giữ vững vai trò là nơi khởi phát của những thể nghiệm mới, là nơi khởi phát cho những ý tưởng nghệ thuật giàu tính sáng tạo.

Có thể khẳng định rằng thơ ca đô thị TP.HCM chính là bản hòa âm đầy bản sắc của một vùng đất không bao giờ ngủ. Nó là minh chứng cho thấy, dù trong bất kỳ thời đại nào, dù phố phường có ồn ã hay bụi bặm đến đâu, con người vẫn luôn cần thơ ca như một khoảng lặng để thấu hiểu và yêu thương chính mình cũng như nơi mình đang sống.

Bài đăng Tạp chí Văn nghệ TP.HCM số 199, ra ngày 12/3/2026

Bài viết liên quan

Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm